|
.
TRONG ĐỘNG
TUYẾT SƠN
TENZIN
PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LÝ
Nguyên
tác : Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment
Tác
Giả: Vickie Mackenzie - Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm
CHƯƠNG
MƯỜI MỘT
CON
ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI PHU NỮ
Mọi
người đã đánh giá sai về Tenzin Palmo. Người phụ nữ mảnh
khảnh, mắt xanh này của phố thị Bethnal Green, Anh Quốc, không
dễ gì chịu thua hay bị các trở ngại khuất phục, làm nản
chí. Cô đã sống sót trong động tuyết qua những trận thử
lửa kinh hồn, và hiên ngang an nhiên tiếp tục con đường
đạt tới Chân Lý Tối Thượng của cô qua hình tướng một
người nữ. Cô vẫn kiên gan quyết tâm thực hiện lời thệ
nguyện của mình "Thành Phật trong hình tướng một người
nữ". Trái tim cô thật sắt đá, nghị lực cô thật phi thường,
ý chí cô thật bền vững, nhưng dù sao đi nữa, Tenzin cũng
cần nương tựa vào hay noi theo gương các bậc nữ đạo sư
còn sinh tiền để khuyến khích ủng hộ nhau khi cần thiết
trên bước đường tu tập. Tenzin chỉ có một mình, không
thầy, không bạn. Ngay cả một ý nghĩ hay lời nói hướng
dẫn của các nữ đạo sư cũng không có, để cho Tenzin có
thể mường tượng được trí tuệ xuất chúng của người
nữ khi chứng đắc ra sao? Thực sự, cô chẳng biết gì về
các nữ đạo sư đương thời.
Qua
kinh sách Phật giáo Tây Tạng, Tenzin chỉ biết các vị nữ
Bồ Tát như nữ thần Tara với nụ cười từ bi, trong dáng
ngồi co một chân trên tòa sen, sẵn sàng ứng hiện cứu giúp
chúng sinh. Tenzin đã cầu nguyện trì tụng danh hiệu Tara rất
nhiều lần để chúc phúc lại cho dân làng Lahoul khi cô đi
khất thực xung quanh làng. Người Phật tử Tây Tạng rất
sùng bái Bồ Tát Tara. Khi gặp phải những sự cố bất an,
lo sợ, hay đau khổ, họ luôn luôn cầu nguyện Tara đến giúp
đỡ cứu thoát cho họ, vị nữ thần Tara nghe tiếng chúng
sanh kêu khổ và đến cứu giúp tức thì. Ngài là biểu tượng
của Từ Bi và Hùng lực. Được biết nữ thần Tara được
hóa sanh từ những giọt nước mắt xót
thương chúng sanh của Đức Phật Chenrezig.
Đức Phật đã thấy các nỗi khổ triền miên của chúng sanh
và muốn giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau bằng cách cho
nữ thần Tara hóa thân ra giúp đỡ. Cũng được biết là nữ
thần Tara đã phát nguyện sẽ chứng đắc quả vị Phật trong
hình tướng một người nữ.
Người
dân Tây Tạng còn thờ phượng nữ thần đầy quyền năng
Vajrayogini với toàn thân bao bọc trong vòng tròn ánh sáng lửa
rực đỏ. Với bản tánh độc đoán, hăng say, mạnh mẽ, linh
hoạt, Vajrayogini là biểu tượng một người nữ độc quyền
cai trị lãnh thổ riêng của nàng. Trong số các nữ thần Mật
Tông, Vajrayogini tự mình ngài lo liệu mọi việc và cầm quyền
cai trị, không cần người chồng hay phụ tá giúp đỡ. Hơn
thế nữa, Vajrayogini còn mang người tình bí mật của nàng
đi theo khắp nơi như là một dụng cụ lủng lẳng trên vai,
và sẵn sàng dùng phép biến hóa vật đó thành người đàn
ông để tùy nghi sử dụng trong mọi trường hợp cần thiết.
Tín
đồ Phật giáo Tây Tạng còn tôn thờ sùng bái Đức Bồ Tát
Quán Thế Âm với lòng bi mẫn nghe tiếng kêu khổ liền hiện
thân ra cứu giúp; họ cũng thờ Bát Nhã Ba La Mật Đa, Mẹ
của chư Phật, ngồi oai vệ lẫm liệt trên ngai vàng hoa sen,
rực sáng hào quang trí tuệ và bi mẫn.
Các
nữ Bồ Tát này mãi mãi là biểu tượng tôn thờ sùng bái
và kính ngưỡng của toàn dân Tây Tạng khi hạnh phúc cũng
như khi hoạn nạn quyền biến.
Nhưng,
thực tế hơn, lịch sử Phật giáo Tây Tạng đã chứng minh
về những thành quả chứng đạt của một số ít phụ nữ
đã sống tại vùng núi tuyết này và đã can đảm kiêu hùng
vượt qua hàng rào trở ngại bước tiến giới nữ của chế
độ phong kiến phân biệt của xã hội Tây Tạng ngày xưa,
để từ đó tên tuổi họ đã đi vào huyền thoại lịch sử
như mặt trời rực sáng không bao giờ tắt.
Các
phụ nữ này rất kiên cường bất khuất. Có thể nói, họ
là biểu tượng nữ anh hùng cho mọi thời đại. Sống trong
một chế độ xã hội bất công, phong kiến, nặng đầu óc
phân biệt nam nữ, họ đã trí dũng chiến đấu phản
kháng lại những tập tục lề thói cũ rích đã đè nặng
lên vai, lên cổ người phụ nữ như cái gông, cái ách, cái
cùm xiềng xích phụ nữ vào xó bếp đời đời. Họ đã nhóm
bùng lên bó đuốc "Cách Mạng Nữ Giới" và trí tuệ hơn nữa,
họ đã xả thân tu tập không ngừng nghỉ để chứng đạt
Giải Thoát Trí Tuệ. Những hành động phi thường đó đã
trở thành truyền thuyết dân gian, và đứng vững như thành
đồng của sự Kiên Trì, Bất Khuất, Niềm Tin, và Quy Ngưỡng.
Người
nổi tiếng nhất trong số ít các phụ nữ tiên phong đó là
Yeshe Tsogyel, còn được biết đến qua danh hiệu "Vũ Công trên
không gian". Sanh ra năm 757 sau Công Nguyên trong một gia đình
qúi tộc, Yeshe Tsogyel từ thuở bé đã cho thấy nàng có những
tín hiệu trí tuệ thiêng liêng khác thường. Nàng cũng đã
tuyên bố sẽ thành Phật trong một đời hiện tại mà thôi.
Với tư tưởng đó, nàng đã từ chối mọi lời cầu hôn
để đi đúng con đường mình đã chọn. Sau nhiều thăng trầm
thử thách, nàng tình cờ gặp được vị cứu tinh của đời
nàng, Ngài Padma Sambhava, người đầu tiên đã mang và truyền
bá Phật giáo từ Ấn Độ vào lãnh thổ Tây Tạng, và cũng
đã trở thành biểu tượng "Phật Sống" đối với toàn dân
tín đồ Phật giáo Tây Tạng.
Padma
Sambhava không những chỉ là vị cố vấn, vị thầy hướng
dẫn tâm linh mà đối với Yeshe Tsogyel, Ngài còn là người
yêu tối thượng tâm linh bí mật của riêng nàng. Yeshe Tsogyel
đã yêu say đắm Padma Sambhava, đồng thời cũng kính trọng
tôn sùng Ngài. Tình yêu của nàng đã thể hiện qua ẩn dụ
sau:
"Với
lòng trong sáng và kính ngưỡng, tôi,
Yeshe Tsogyel, đã kết một tấm mạn đà la huyền bí để dâng
lên đạo sư Padma Sambhava của tôi. Nụ cười rạng rỡ và
từ bi của Ngài chiếu sáng như hào quang ngũ sắc khiến các
ánh sáng khác mờ nhạt đi và hòa tan vào hào quang đó, chan
hòa trên toàn thân Ngài, kết thành một tòa sen hồng đỡ
bước chân Ngài trong điệu nhạc từ ái muôn đời của vũ
trụ."
Nhưng,
dù yêu say đắm Padma Sambhava, Yeshe Tsgyel vẫn không quên mục
đích tu tập của mình và đã khẩn cầu Padma Sambhava hãy dạy
cho nàng Lý Nhân Quả để làm pháp môn thiền quán. Yeshe đã
đi vào tận rừng sâu núi thẳm, chịu đựng gian khổ, đói
rét, dãi dầu với nắng táp mưa sa. Nàng đã ăn tất cả những
gì có thể ăn được ở núi rừng đến nỗi sau đó,
nàng đã tập "ăn không khí" và gầy ốm đến nỗi xương
trán lồi hẳn ra ngoài - nhưng Yeshe vẫn kiên gan chịu đựng.
Cuối cùng, sự quyết tâm kiên trì đó của nàng đã được
tưởng thưởng xứng đáng với sự chứng đạt giải thoát.
Chính
những lời nói của Yshe đã được chép lại bởi người
viết hồi ký tiểu sử của nàng, Taksham Nuden Dorje, và sau
đó được Keith Dowman dịch ra trong quyển "Vũ Công trên không
gian" (Sky Dancer) của ông ta để diễn tả trạng thái sung mãn
tuyệt đỉnh khi chứng đắc của Yeshe Tsogyel do công phu khổ
hạnh tinh cần tu tập: "Tôi đã biến hóa tan hòa vào khối
tinh thể của vũ trụ để thấm nhuần đặc tính linh huyền
của Chân Không Diệu Hữu, và tôi đã đạt được khả năng
tuyệt đối để ứng xử mọi diệu dụng của chư Phật."
Yeshe
Tsogyel đã hóa hiện khắp nơi để cứu giúp che chở dân Tây
Tạng với lòng từ bi, trí tuệ, và quyền năng vô biên của
nàng. Nàng có thể đi xuyên qua những vật rắn chắc như tường
vách, núi đồi, cỡi lên ánh sáng của mặt trời, hay bay lơ
lửng trên không trung. Có lần, nàng đã cứu sống trở lại
con trai của một thưong gia người Nepal bằng cách chỉ ngón
tay trỏ ngay tim người chết cho đến khi trái tim hắn đập
trở lại và máu bắt đầu lưu thông trong cơ thể. Nhưng,
lần thi thố pháp thuật trước phái Bon, (một giáo phái cổ
Tây Tạng rất giỏi về pháp thuật) Yeshe đã đánh bại hoàn
toàn các pháp sư của giáo phái này và thu phục nhân tâm hoàn
toàn. Trong tư thế ngồi kiết già trên hoa sen bay lơ lửng
trên không trung, Yeshe đã biến hóa lửa phun ra từ mười đầu
ngón tay, bao phủ toàn vùng trong khối lửa đỏ rực và lại
biến lửa thành thành những sợi mềm như bơ vẽ lên trời
hàng vạn hình ảnh khác nhau. Sau cùng,
nàng phóng những tia sấm sét dữ dội vào đám tà sư
phù thủy của phái Bon khiến chúng kinh hồn bạt vía. Dân
chúng và cả đám tà đạo đó đã bị thâu phục, cải hóa
hoàn toàn. Họ tin rằng chỉ một người nữ đắc đạo như
Yeshe Tsogyel mà còn giỏi như vậy, huống chi là Đức Phật
thì còn xuất chúng đến đâu nữa.

|