|
.
TRONG ĐỘNG
TUYẾT SƠN
TENZIN
PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LÝ
Nguyên
tác : Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment
Tác
Giả: Vickie Mackenzie - Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm
CHƯƠNG
NĂM
VỊ
ĐAO SƯ
Khamtrul
Rinpoche là một vị Lạt Ma hóa thân đời thứ 8.
Ngài
đã đến Ấn Độ sau những ngày vượt biên giới đầy gian
nan khổ sở. Một đêm, Ngài đã rời bỏ tu viện của Ngài
ở Kham, miền Đông Tây Tạng, cải trang thành một người
lái buôn cùng một số ít đệ tử và tùy tùng, vượt biên
giới Tây Tạng để trốn khỏi sự áp bức của Cộng Sản
Trung Quốc.
Khampagar
là một tu viện đồ sộ nguy nga như một tòa lâu đài với
những bức tường mầu vàng và mái nhà dát vàng thật lấp
lánh chiếu dưới ánh mặt trời xứ Tây Tạng.
Khampagar
là thế giới của ngài Khamtrul Rinpoche gần suốt 30 năm. Nếu
chúng ta đi ngược dòng thời gian 450 năm trước, từ năm 1548,
suốt 8 đời hóa thân trước của đức Khamtrul Rinpoche, thì
có thể nói, Khampagar là mái ấm, là hơi thở, là sự sống
của Khamtrul Rinpoche.
Khi
ngài Khamtrul Rinpoche ra đời khoảng vào năm 1930, tu viện Khampagar
đã là một trung tâm Phật học sầm uất và ảnh hưởng rộng
lớn trên 200 tu viện lớn nhỏ khác, đã đào tạo hàng trăm
ngàn tăng sĩ, và cả một dòng truyền thừa những vị đạo
sư nổi tiếng khắp Tây Tạng. Ngoài ra Khampagar còn là trung
tâm nghệ thuật nổi tiếng Tây Tạng và vũ thuật cổ truyền
của các vị Lạt Ma.
Khi
Cộng Sản Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, họ đã phá hủy
biết bao chùa chiền, tu viện, và các di tích lịch sử của
xứ này cùng giam cầm tra tấn hàng ngàn vị sư và dân chúng.
Ngài
Khamtrul Rinpoche bắt buộc phải rời bỏ tu viện dấu yêu và
gạt nước mắt ra đi lưu vong qua Ấn Độ.
Chuyến
vượt biên của Khamtrul Rinpoche và đoàn tùy tùng thật vô
cùng gian nan và nguy hiểm. Họ phải vượt qua những
dòng sông đóng băng hay những con thác khổng lồ sẵn sàng
cuốn phăng người ta trôi về biển cả. Nghe nói lại là,
Ngài Khamtrul Rinpoche phải chú nguyện thần linh cầu xin giúp
đỡ và tung cát vào những ngọn sóng nước kinh khủng đó
mới trấn áp nổi tốc độ của sóng. Và huyền dịu thay,
không có một ai bị chết và chút đỉnh đồ đạc đem theo
cũng không bị mất. Sau trận hãi hùng đó, đoàn người của
Khamtrul Rinpoche còn kinh hồn bạt vía vì chạm trán phải đoàn
công-voa của lính Trung Quốc đang vận tải vũ khí trên đường.
Nhưng một lần nữa, như có chư thiên hộ vệ, lại không
có một ai bị bắt gặp. Sau cùng và có lẽ cũng là chướng
ngại gian nan nhất là vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn, dãy núi
cao nhất thế giới. Khamtrul Rinpoche, với niềm tin sắt đá
và nghị lực kiên cường, cuối cùng đã hướng dẫn đoàn
người đến được Ấn Độ an toàn.
Trong
vài năm đầu, Khamtrul Rinpoche đi đi về về Dalhousie, quy tụ
lại những tăng sĩ từ từ trốn khỏi Tây Tạng và tái lập
lại tu viện theo đường lối của tu viện Khampagar ở Tây
Tạng.
Ngày
30 tháng 6 năm 1964, Khamtrul Rinpoche đến học viện "Young Lama"
viếng thăm Freda Bedi.
Trong
thời gian ở Dalhousie, Tenzin Palmo tạm làm thư ký cho trường
học và nhiệm vụ của cô là kiểm soát đơn từ, thư tín
các nơi gửi đến. Một lần, cô thấy có một bức thơ đề
tên Khamtrul Rinpoche. Cô không biết Khamtrul Rinpoche là ai, nhưng
khi cô đọc tên Khamtrul Rinpoche đến lần thứ hai, thì cô
cảm thấy có một cái gì đó như là niềm tin dâng lên trong
lòng cô.
Cô
hỏi bà Bedi, và sau khi nghe xong câu chuyện về ngài Khamtrul,
cô mong mỏi được gặp ngài:
-
"Càng nghe về Lạt Ma Khamtrul, tôi càng nao nức được gặp
Ngài. Tôi cảm thấy đó là một vị đạo sư mà tôi sẽ quy
y và tu học theo." Khamtrul Rinpoche đến thăm học viện của
bà Bedi đúng vào ngày Tenzin Palmo được 21 tuổi, ngày 30 tháng
6 năm 1964.
Khi
được bà Bedi báo cho biết, Tenzin quýnh quáng chạy vội vào
phòng thay áo Tây Tạng và quàng mảnh vải trắng để dâng
cúng Ngài Khamtrul theo nghi thức của Tây Tạng.
Khamtrul
Rinpoche ngồi trên ghế bành cao, với hai vị Lạt Ma trẻ tuổi
(người ta nói hai vi Lạt Ma này là hóa thân của hai vị Bồ
Tát).
Tenzin
kể lại :
-
"Tôi sợ quá nên không dám ngẩng đầu lên xem Khamtrul Rinpoche
mập ốm, cao lùn thế nào. Tôi chỉ nhìn gấu áo và đôi giầy
nâu của Ngài."
Bà
Bedi giới thiệu Tenzin lên ngài Khamtrul và kể sơ về mục
đích cô đến đây cốt yếu chỉ tìm một vị đạo sư để
dẫn dắt cô tu học. Tự nhiên Tenzin buột miệng nói lớn
:"Thưa với Ngài rằng, tôi muốn xuất gia."
-
"Ồ, lẽ dĩ nhiên là được." Khamtrul Rinpoche ôn tồn trả
lời.
Ngay
lúc ấy, Tenzin ngước mắt nhìn lên Khamtrul Rinpoche. Ngài là
một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt tròn nhưng rắn
rỏi và mái tóc búi cao trên đầu như Đức Phật. Ngài lớn
hơn Tenzin độ hơn mươi tuổi. Khi nhìn thấy Khamtrul Rinpoche,
Tenzin cảm thấy như gặp lại một hình bóng thân thiết đã
xa cách bao nhiêu lâu nay.
Ba
tuần lễ sau, Khamtrul Rinpoche chủ trì buổi lễ xuất gia của
Tenzin vào ngày 24 tháng 7 năm 1964.
Tenzin
gửi tấm hình cô cạo đầu, mặc áo nữ tu Tây Tạng cho bà
Lee Perry, mẹ cô, và viết :"Mẹ xem con trông rất khoẻ mạnh
và gọn ghẽ hay không? Con rất sung sướng được xuất gia."
-
"Tôi biết mẹ tôi không muốn tôi đi tu và sống xa bà ấy;
nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy giải thoát nhẹ nhàng khi cạo
sạch đầu, và mặc chiếc áo tu sĩ này."
Cô
được thầy cô, Khamtrul Rinpoche, ban cho pháp danh Drubgyu Tenzin
Palmo (có nghĩa là "vị nữ tu sẽ làm rạng danh giáo pháp truyền
thừa"). Cô là người nữ Tây Phương thứ
nhì sau Freda Bedi xuất gia theo tông phái Phật giáo Tây Tạng.
Sau này, có rất nhiều phụ nữ từ các nước Âu Châu, Nam
Mỹ, Úc đại Lợi, và Tân Tây Lan đã theo Tenzin Palmo xuất
gia cầu đạo.
Tình
thầy trò giữa Khamtrul Rinpoche và Tenzin Palmo thật sâu đậm.
Cô luôn luôn được sư phụ trìu mến gọi "Tenzin, đệ tử
của ta !", và cô cảm thấy được che chở bao bọc trong tình
thương của Sư Phụ.
Khamtrul
Rinpoche là một vị đại sư không những nổi tiếng về thần
lực mà còn về tác phong đạo hạnh. Ngài luôn luôn được
mọi người sùng bái kính mến; cả những người theo đạo
Hồi và Ấn Độ giáo cũng rất tôn trọng kính sợ Ngài.
Tenzin
Palmo đã từ giã quê hương, rời xa gia đình, và ngay cả những
đam mê ước vọng của tuổi trẻ để xuất gia tìm đạo;
nhưng còn một vấn đề uẩn khúc trong tâm mà cô chưa hoàn
toàn dứt khoát được. Đó là vấn đề tình cảm giữa cô
và người thanh niên Nhật Bản.
Không
bao lâu sau ngày Tenzin xuất gia, cô nhận được thơ của John
Blofeld, một văn sĩ người Anh nổi tiếng, mời cô viếng thăm
gia đình ông ta ở Thái Lan. Tenzin nghĩ đó là một đề nghị
hấp dẫn. Thái Lan là một quốc gia Phật giáo; hơn nữa John
Blofeld và vợ ông ta rất hiếu khách, và tiện nghi nhà ông
ta ở Thái Lan thì quả hết chê vào đâu được. Cô xin phép
Khamtrul Rinpoche và được Ngài cho phép đi với lời nhắn nhủ
"Con nhớ trở về sớm."
Khi
Tenzin Palmo đến Thái Lan thì một sự tình cờ xảy ra quá
sự tưởng tượng của cô.
Tenzin
gặp lại anh chàng si tình người Nhật Bản mà cô đã gặp
trên chuyến tàu qua Ấn. Cô đã viết thơ nói rõ với anh ta
là cô đã xuất gia và lời ước hẹn giữa họ ngày nào coi
như chấm dứt - nhưng anh ta nghe các bạn cô nói lại rằng
Tenzin sẽ qua Thái Lan nên anh ta tìm cách qua Thái mong Tenzin
sẽ hồi tâm chuyển ý nhận lời cầu hôn của anh ta. Thực
sự, Tenzin Palmo cũng do dự xiêu lòng khi thấy sự thành khẩn
của anh ta. Cô mới xuất gia và Khamtrul Rinpoche chỉ mới
cho cô thọ có một giới là "Cấm Sát Sanh".
Người thanh niên Nhật Bản này thật có sức hấp
dẫn cuốn hút, Tenzin thấy bối rối pha lẫn thích thú
mê đắm mỗi lần gặp anh ta.
-
"Chúng tôi trò chuyện thật tâm đầu ý hợp. Anh ta đề nghị
tôi đi Hồng Kông và ở đó vài tháng chờ cho tóc mọc ra
trở lại; sau đó chúng tôi sẽ làm đám cưới ở Nhật. Bố
mẹ anh ta rất giàu có và tân tiến. Nếu tôi bằng kết hôn
với anh ta, họ sẽ xếp đặt mọi việc chu đáo và ổn thỏa.
"Tôi
nhớ lại những ngày ở Dalhousie. Nếp sống ở đó thật cơ
cực. Ngày đó, những tu viện Tây Tạng chưa được xây dựng
hay tái lập lại. Những tăng sĩ đều sống trong những túp
lều ngoài đồng trống hay núi. Họ không có cả vòi nước
máy, và có chỗ thì bùn sình ngập đến đầu gối - còn nhà
cửa của bố mẹ anh chàng Nhật Bản thì thật tiện nghi và
sang trọng , hết chỗ nói. Đời sống sẽ đáng yêu hạnh
phúc biết chừng nào bên cạnh người yêu và vật chất sung
mãn !"
Tenzin
bị dằng co mâu thuẫn giữa lý trí và con tim. Tiếng gọi
tâm linh trong cô vẫn có một mãnh lực khiến cô không thể
nào quay lưng để chạy theo tình yêu được. Cô lo sợ, đau
khổ, dằn vặt; và một đêm, trong nước mắt nghẹn ngào,
cô chằp tay cầu cứu Sư Phụ hãy giúp cô sáng suốt chọn
đúng cho mình một hướng đi nhất định.
Kỳ
diệu thay, ngài Khamtrul Rinpoche đã nghe được tiếng kêu cầu
cứu của đệ tử mình.
Tenzin
thấy như có một luồng ánh sáng mầu vàng soi sáng toàn thân
và giọng nói của Khamtrul Rinpoche, Sư Phụ cô, rõ ràng bên
tai :"Hãy trở về Ấn Độ lập tức !"
-
"Tôi vô cùng sung sướng. Tôi đã được che chở, đã được
cứu độ. Tôi chắc chắn sẽ dứt khoát được sự sa lầy
vào vòng luân hồi đau khổ."
Sáng
mai, Tenzin mua vé về Ấn Độ lập tức, và từ đó cô không
bao giờ gặp lại người thanh niên Nhật Bản đó nữa.

|