Ngày thứ
tư. Buổi thứ nhất.
Ngài
Long Thọ lễ kính Phật Thích Ca Mâu Ni bằng cách tán thán
đức Phật là một vị đạo sư dạy triết lý tánh Không;
nghĩa là tất cả muôn pháp đều không có đặc tính chân
thật; dù thiếu sự hiện hữu và bản chất chân thật, chúng
vẫn hiện hành tùy theo duyên để phát sanh kết quả. Có thể
nhận thức được điều này nhờ hiểu về bản chất duyên
khởi của sự vật. Ngài Long Thọ lễ kính Phật Thích Ca Mâu
Ni, vị đề xuất giáo lý tánh Không của bản chất hiện
thực bằng cách giảng dạy đặc tánh duyên khởi của các
pháp.
Nói
chung, chúng ta nhận thấy trong luận điển Trung Quán có nhiều
hình thức lập luận nhắm vào việc xác định sự vắng bặt
về bản chất hiện hữu của các pháp. Những điều đó bao
gồm sự suy luận về lý do sự vật phát sanh trên danh từ
và khái niệm; qua sự suy luận đó, chúng ta đi đến kết
luận rằng sự vật thiếu bản chất hiện thực. Hơn nữa,
có một hình thức luận biện: 'khảo sát đặc tính và sự
khác biệt của các pháp'. Chúng ta cũng tìm thấy những cách
luận biện khảo sát các pháp theo quan điểm nhân quả, tức
khả năng phát sanh kết quả.
Tuy
nhiên, giữa mọi cách lý luận, cách hay nhất là lý duyên
khởi, đã đuợc ngài Long Thọ xử dụng. Khi một sự vật
đặc biệt được định lập qua lý duyên khởi, tức là vật
thể không có đặc tánh hiện hữu chân thật, chúng ta nhận
thấy rằng không thể chối bỏ sự hiện hữu của các pháp;
chúng ta cố gắng hiểu về sự hiện hữu và đặc tánh của
chúng qua mối quan hệ của chúng với các pháp khác. Đôi khi,
sự hiện hữu và đặc tính của chúng có thể hợp nhất
với các pháp khác.
Lý
luận độc đắc về mối quan hệ hỗ tương của sự vật
đưa đến lý 'Trung Đạo': Thứ nhất, không thiên chấp lý
tuyệt đối cực đoan, cho rằng muôn pháp thường hằng bất
biến. Thứ hai, không thiên chấp lý hư vô cực đoan, nghĩa
là chối bỏ sự hiện hữu của các pháp. Nhìn nhận lý duyên
khởi qua mối liên hệ hỗ tương của muôn pháp.
Do
đó, trong quyển Nhập Trung Luận (Madhyamakavatara), ngài Nguyệt
Xứng viết rằng một khi sự hiểu biết về việc hiện hữu
và đặc tính của các pháp đã được phát triển dựa vào
sự hiểu biết về bản chất liên hệ hỗ tương của hiện
thực và lý do đặc tính cùng sự hiện hữu được phát sanh
từ mối liên hệ đó, thì điều này cho phép chúng ta hiểu
về khái niệm căn bản của lý nhân quả; nơi đó, sự hiểu
biết của chúng ta về bản chất hiện thực phát xuất từ
việc hiểu biết đúng đắn về lý duyên khởi. Bằng cách
này, chúng ta có thể bác bỏ quan điểm về các pháp vô sanh
hay không nhân duyên, vì sự vật phát sanh từ nhiều nhân duyên
hỗ tương. Nhờ trí huệ thẩm thấu tánh duyên khởi của
hiện thực, và nhờ sự hiểu biết về lý nhân quả nằm
trong phạm vi nhân duyên, chúng ta cũng có thể bác bỏ ý niệm
về một đấng tạo hóa toàn năng nào đó. Cũng vậy, chúng
ta có thể bác bỏ quan niệm rằng một sự vật có thể phát
sanh qua các nhân duyên tương tự hay độc lập với nó. Nhờ
đó sẽ thoát khỏi tất cả lý thuyết cực đoan; đồng thời,
chấp nhận quan điểm căn bản về lý nhân quả chân chánh.
Tuy
nhiên, có những vấn đề rắc rối xảy ra nếu muốn thấu
suốt lý nhân duyên và tại sao muôn pháp tùy thuộc lẫn nhau.
Ví
dụ, hãy bàn về các uẩn (skandhas). Nếu nhìn dòng sóng tâm
thức vi tế nhất và cảm giác về cái 'Tôi' hay 'bản ngã',
đặc tính cá nhân dựa vào những điều đó chưa đủ giá
trị, dù là con người đặc thù nào hay bất cứ điều gì.
Cảm giác cái 'tôi' hay 'bản ngã' phát sanh từ dòng chuyển
biến liên tục của tâm thức là vô cùng tận. Do đó, cái
'tôi' hay 'bản ngã' liên hệ với đặc tính con người không
thể được xem rằng chỉ có trong một đời. Không thể bảo
rằng bản ngã đó là con người hay loài vật mà có thể nói
rằng đó là một chúng sanh.
Trong
phạm vi của dòng sóng căn thức, có thể nói rằng vì là
tiến trình liên tục, bản ngã và sự chấp ngã, tức là các
căn vi tế, phát sanh từ khoảnh khắc ban đầu, mà khoảnh
khắc đó lại phát sanh từ khoảnh khắc trước. Tuy nhiên,
không thể bảo rằng nó là sản phẩm của nghiệp, vì trong
phạm vi của tiến trình diễn biến liên tục, nghiệp không
đóng vai trò quan trọng. Dòng chuyển biến liên tục ấy tiếp
tục xảy ra chỉ là điều tự nhiên.
Nhìn
thoáng qua về cảnh giới phàm phu thô thiển, thì chúng ta có
thân người và đặc tính con người, rồi bảo rằng: 'Tôi
là con người'. Cảm giác bản ngã và các căn mà đặc tính
đó dựa vào có thể được gọi là sản phẩm của nghiệp.
Vì khi nói 'thân người' và 'cuộc sống con người', chúng
ta bàn về quả lành, tức là nghiệp lành đã tạo trong quá
khứ. Vì vậy, nơi đó nghiệp đóng vai trò chủ chốt.
Bàn
về thân người, nói chung có thể bảo rằng nó là sản phẩm
của nghiệp lành; nếu đi tìm nguồn gốc thân thể hay nhân
duyên đặc thù nào, có thể thấy dấu vết nó qua nhân duyên
chủ yếu từ tinh cha huyết mẹ vào buổi đầu, rồi đi xa
hơn nữa. Kế đến, có thể suy tìm dấu vết nguồn gốc vật
chất cho đến (thái dương hệ) điểm hoàn toàn hư không.
Theo vũ trụ quan Phật giáo, trước quá trình tiến hóa của
một thái dương hệ đặc biệt nào, tất cả vật thể được
tin tưởng rằng gắn liền với cái được gọi là 'lân hư
trần (hạt bụi vi tế)'. Một lần nữa, vì quy luật tự nhiên
và hiện thực mà lý nhân duyên thúc đẩy vật thể diễn
biến theo quá trình liên tục, nhưng không có vai trò của nghiệp
ở đây.
Hiện
tại, vấn đề là ở điểm nào hay giai đoạn nào nghiệp
xuất hiện? Ở giai đoạn hư không, lân hư trần sẽ biến
dạng theo quá trình chuyển biến vật chất liên tục, và sẽ
phát sanh những thành phần cấu trúc hạt tử, dẫn đến (theo
lý thuyết khoa học) cấu trúc phân tử, rồi càng phức tạp
hơn đến điểm mà thành phần của phân tử vật chất sẽ
tạo sự khác biệt giữa các cá nhân sống trên thế gian.
Nói cách khác, vật chất liên quan với kinh nghiệm vui buồn
của cá nhân. Ngay nơi đó, nghiệp bắt đầu đóng vai trò
quan trọng. Đó là những vấn đề phức tạp mà tôi mong muốn
quý vị nên suy nghĩ đến.
Vì
sự phức tạp đó, trong kinh điển Phật giáo có nhiều cách
lý luận khác nhau; có bốn yếu tố được xem như pháp ấn
trong thế giới tự nhiên. Ba điều trước nhất là luật nhân
quả, luật duyên sanh, luật hiện hành. Dựa vào ba yếu tố
này, chúng ta có thể dùng luận lý lô-gích để chứng minh.
Tuy nhiên, phải dùng những khái niệm căn bản để xử dụng
chúng.
Có
thể bảo rằng nhờ luật 'Duyên khởi' hay luật 'Vận hành'
mới hiểu rõ cấu tạo hóa học của vật chất. Khi nhiều
vật thể tác dụng hỗ tương, chúng sẽ sanh ra đặc tính
cá biệt. Điều này giúp chúng ta hiểu được sự vận hành
hợp nhất của chúng và luật hóa học.
Nơi
đây, có thể đặt câu hỏi: 'Tại sao có cảnh giới vật
chất và tâm linh (hay tâm thức) trong thế giới tự nhiên?'
Không có đáp án thích đáng, vì chỉ là một sự thật tự
nhiên.
Theo
cách đó, chúng ta đi đến kết luận rằng muôn pháp rốt
ráo thiếu bản chất hiện thật. Chúng phát sanh từ thực
thể của chúng, và đặc tánh của chúng chỉ liên quan với
những nhân duyên khác. Thế nên, sự chấp trước rằng muôn
pháp có bản chất, đặc tánh, và vị trí hiện hữu là một
trạng thái vô minh hay nhận thức sai lầm. Do đó, nhờ phát
khởi trí huệ thấu suốt tánh Không của các pháp, chúng ta
trực nhận ảo ảnh của tà kiến sai lầm, vì trí huệ trực
tiếp chiếu phá và tẩy trừ màn vô minh của vọng tưởng.
Dựa vào đó, nên tin rằng rốt ráo có thể tẩy trừ màn
vô minh và vọng tưởng cắm sâu trong đó.
Bàn
thêm về điểm này, trong quyển Vô Lượng Bổn Tích (Uttaratantra),
ngài Di Lặc đưa ra ba lý do căn bản đưa đến kết luận
rằng tánh chất của quả vị Phật (hay Phật tánh) vốn ẩn
tàng trong tâm của tất cả chúng sanh. Trước hết, Ngài bảo
rằng ba nghiệp của đức Phật hằng sáng soi trong tâm thức
của tất cả chúng sanh. Có thể hiểu điều này theo nhiều
cách:
Thứ
nhất, trong tâm của tất cả chúng sanh đều có hạt giống
lành thiện. Có thể nhìn hạt giống đó như một chứng tích
của đấng giác ngộ viên mãn, tức đức Phật từ bi. Lại
nữa, cũng có thể nhìn nó theo mức đ? thâm sâu hơn; nghĩa
là họ đều có khả năng đạt đến cảnh giới giác ngộ
viên mãn. Do đó, có một đấng hoàn thiện cố hữu đang soi
sáng trong tâm của họ
Thứ
hai, theo Thắng Nghĩa Đế (chân lý rốt ráo của hiện thực),
cõi Ta Bà (bất tịnh) và cõi Niết Bàn (thanh tịnh) đều như
nhau.
Thứ
ba, dòng tâm thức vốn thiếu bản chất hiện hữu và tồn
tại độc lập. Nhờ đó, những vọng tưởng xấu xa khiến
tâm thức bị ô uế sẽ được tẩy trừ. Vì ba lý do đó,
ngài Di Lặc kết luận rằng tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh.
Ngoài
ra, muốn hạt giống đó được nẩy nở, phải tu hành phát
triển lòng từ bi rộng lớn, để rồi giúp chúng ta hướng
về pháp Đại Thừa, mà trong đó hạnh nhẫn nhục cũng đóng
vai trò rất quan trọng. Vì thế, hãy trở lại đề mục về
hạnh nhẫn nhục.
112.
Do đó đức Thế Tôn dạy rằng chư Phật và chúng sanh đều
có ruộng phước như nhau, vì có chúng sanh đã từng làm chư
Phật hoan hỷ do đạt đến quả vị giác ngộ viên mãn.
Chúng
ta có cơ hội quý báu hành hạnh nhẫn nhục và tích lũy công
đức lành nhờ bị kẻ thù hãm hại. Do đó, đức Phật thuyết
rằng chư Phật và chúng sanh đồng có ruộng phước như nhau.
Những 'thửa ruộng' đó là nền tảng tích lũy công đức.
113.
Chúng sanh đều có những phẩm hạnh như chư Phật. Tại sao
tôi chỉ tôn kính chư Phật?
Trong
bài kệ 112, ngài Tịch Thiên thuyết rằng những ai hiểu được
sự thật này và làm chúng sanh hoan hỷ, sẽ mau chóng thành
Phật. Vì thế, chư Phật và chúng sanh đều bình đẳng về
nhân duyên dẫn chúng ta đến cảnh giới giác ngộ viên mãn.
Thế thì tại sao chúng ta lại phân biệt giữa chư Phật (các
đấng toàn giác được tôn kính) và chúng sanh (không được
tôn kính)? Tại sao không tôn kính và thừa nhận sự hỗ trợ
của họ?
Thật
vậy, nếu xét kỹ, nhờ gieo duyên lành với chúng sanh, chúng
ta có nhiều cơ hội tích lũy công đức lớn lao hơn là với
chư Phật. Qua niềm tôn kính chư Phật, chúng ta có thể tích
lũy công đức nhờ phát niềm tịnh tín, cúng dường, v.v...
Tuy nhiên, nhờ gieo duyên lành với chúng sanh mà công đức
mới được tăng trưởng. Cụ thể hóa, nếu muốn tái sanh
vào những cõi lành trong tương lai, phải hành trì và sống
theo khuôn khổ đạo đức như kềm chế thân khẩu ý tránh
phạm những lỗi xấu như giết hại, tà dâm, ăn cắp, nói
láo, v.v..., nhưng tất cả đều tùy thuộc vào loài hữu tình,
chứ không phải loài vô tình.
Ngoài
ra, khi sanh vào cõi lành, như cõi nhân gian, có được hình
tướng đẹp đẽ và cuộc sống sung túc, chỉ nhờ quả báo
lành. Ví dụ, hình tướng đẹp đẽ là quả báo của hạnh
nhẫn nhục; tài sản giàu sang là quả báo của hạnh bố thí.
Để hành những hạnh đó, cần có chúng sanh, chứ không thể
hành nơi trống rỗng.
Đó
chỉ nằm trong mục đích tái sanh vào cõi lành hạn hẹp; việc
tu đạo với mục đích giải thoát khỏi cõi Ta Bà qua nhiều
pháp môn lại còn thích đáng hơn. Ví dụ, để thành Phật,
phải hành hạnh từ bi và những hạnh khác. Không thể phát
khởi những hạnh đó nếu không gieo duyên lành với chúng
sanh.
So
sánh sự hỗ trợ tích lũy công đức, có lẽ chúng sanh góp
phần nhiều hơn chư Phật.
Hãy
lấy ví dụ về việc phát khởi trí huệ thấu suốt tánh
Không. Trí huệ đó rất mạnh mẽ, mà hành giả phải ước
nguyện chứng đắc. Tuy nhiên, nếu nó không được phương
tiện (tâm Bồ Đề) hỗ trợ, thì dù sự chứng ngộ tánh
Không có mạnh mẽ đến đâu, nhưng không thể có được chân
trí phá trừ kiến chấp.
Cũng
vậy, để hưởng cuộc sống sung sướng hạnh phúc, (như đã
bàn) cần có vài nhân duyên như thân thể tráng kiện. Muốn
được như thế, phải tích lũy công đức cần thiết qua sự
hỗ trợ của chúng sanh. Kế đến, nếu xem xét kỹ càng về
tất cả tiện nghi vật chất mà chúng ta thường dùng cho việc
hưởng thụ cuộc sống, chúng ta nhận thấy rằng đa số chúng
đều do người khác tạo ra, và là thành quả đóng góp của
rất nhiều người, dù trực tiếp hay gián tiếp.
Ngoài
ra, để có cuộc sống hạnh phúc, chúng ta cần những người
bạn tốt. Khi bàn về bạn bè, chúng ta nói đến việc gieo
duyên lành với những chúng sanh khác. Sự giao tế có thể
gặp khó khăn như cãi vã, bất hòa, v.v..., nhưng chúng ta vẫn
phải cố gắng duy trì tình bạn; nghĩa là muốn có cuộc sống
hạnh phúc phải gieo duyên lành thích đáng với người khác.
Kết luận, ba nhân duyên như thân thể tráng kiện, tài sản
vật chất, tình bạn đều liên hệ khắng khít với sự cố
gắng cộng tác của người khác.
Nếu
suy nghĩ theo cách đó, chúng ta sẽ nhận thấy rằng lúc còn
làm phàm phu, lúc tu đạo, lúc chứng quả vị Phật, có lẽ
chúng sanh mang lại lợi ích thiết thực cho chúng ta nhiều
hơn là chư Phật đại giác. Do đó, chúng ta phải tri ơn chúng
sanh nhiều hơn chư Phật.
Từ
góc độ khác, chúng ta có thể thấy chư Phật đã viên mãn
sự giác ngộ. Do đó, nói thẳng ra, có lẽ các Ngài không
còn điều gì để làm ngoài bổn phận phục vụ chúng sanh.
Theo vài quan điểm, việc chư Phật làm Phật sự vì lợi ích
của chúng sanh có lẽ không đáng ngưỡng mộ hay ngạc nhiên
gì cả. Ngược lại, đánh giá về tất cả nhược điểm,
lỗi lầm, phiền não, vọng động, v.v... của chúng sanh, chớ
xem thường mà phải tri ơn sự đóng góp của họ cho lợi
ích của chúng ta, dù họ có những giới hạn đó.
Có
thể suy nghĩ về điều này rồi hỏi: 'Ai là người từ bi
hơn đối với chúng ta (chư Phật hay chúng sanh)?' Suy nghĩ cẩn
thận về cách trả lời trong quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh
sẽ thấy rằng thật không quá đáng.
Thế
thì giữa chư Phật và chúng sanh có sự bình đẳng ra sao?
Ngài Tịch Thiên dạy rằng sự bình đẳng đó không được
tính theo trình độ chứng ngộ mà theo khía cạnh tinh tấn
tích lũy công đức cần thiết để thành Phật; nơi đó, chư
Phật và chúng sanh đều bình đẳng.
114.
(Dĩ nhiên) chủ tâm của chúng sanh khác nhau, mà chỉ giống
nhau qua kết quả (họ tạo ra). Về khía cạnh này, họ có
những phẩm hạnh tuyệt vời, nên (được gọi là) bình đẳng.
115.
Nhờ phẩm hạnh cao thượng của chúng sanh mới phát tâm từ
bi cung kính mọi người khiến tích lũy công đức. Cũng vậy,
công đức tín thành đức Phật có được do phẩm hạnh cao
thượng của Ngài.
116.
Vì vậy, chắc chắn rằng chư Phật và chúng sanh đều bình
đẳng trong việc định đoạt những phẩm hạnh cao thượng
của chư Phật. Tuy nhiên, không chúng sanh nào có đồng (phẩm
hạnh thánh thiện) như chư Phật, những vị có phẩm hạnh
cao siêu bao la như biển cả.
117.
Dù cúng dường khắp ba cõi cũng không đủ để kính lễ các
đấng có những phẩm hạnh thánh thiện và những đặc tánh
siêu việt tối thắng.
118.
Vì chúng sanh đều góp phần vào việc phát khởi những phẩm
hạnh siêu việt của chư Phật, thì việc tôn kính họ vì
họ cũng có những phẩm hạnh (như chư Phật) không thích đáng
lắm sao?
Trong
những bài kệ trên, ngài Tịch Thiên nói rằng nếu xem xét
tâm Bồ Đề và tâm lành thiện như những đối tượng đáng
được tôn kính, chúng ta cũng nên nhận thấy chúng sanh đáng
tôn kính vì sự cao thượng của các tâm niệm đó xuất phát
từ phẩm chất cao thượng của họ. Nếu xem công đức tích
tụ nhờ có niềm tịnh tín vào chư Phật như điều lành thiện,
thì đó chính nhờ phẩm hạnh cao thượng của các ngài. Do
đó, điều khẳng định là chư Phật và chúng sanh đều bình
đẳng. Thật ra, sự đóng góp của chúng sanh không thể được
đền bù xứng đáng dù chúng ta có dâng bao cúng phẩm lên
chư Phật trong ba cõi. Ngài Tịch Thiên kết luận rằng vì
lý do căn bản đó, ít nhất về lòng từ bi của họ đối
với chúng ta, chúng ta phải tôn kính họ.
119.
Hơn nữa, có cách gì ngoài việc báo đền ơn đức (của chư
Phật, những vị đã từng ban cho vô lượng lợi ích và là
thiện tri thức của thế gian) bằng cách làm chúng sanh hoan
hỷ?
120.
Vì làm lợi ích chúng sanh sẽ báo đền ơn đức của những
vị bố thí thân thể và vào địa ngục thâm sâu, tôi phải
hành hạnh lành không tỳ vết dù họ có gây khổ đau cùng
cực cho tôi.
121.
Vì mục đích (chứng đạo giác ngộ), các đấng Thế Tôn
nào tiếc thân mạng, thì tại sao (trong tâm của) kẻ ngu si
như tôi lại tràn đầy sự chấp ngã? Tại sao tôi không hành
động giống như một kẻ đầy tớ của các Ngài?
122.
Chúng sanh hạnh phúc thì các đấng Điều Ngự hoan hỷ. Nếu
chúng sanh bị tổn hại thì chư Phật nào hoan hỷ. Do đó,
nhờ làm (chúng sanh) vui lòng nên khiến các bậc Điều Ngự
hoan hỷ. Nếu hãm hại chúng sanh tức là hãm hại các bậc
Điều Ngự.
Trong
bốn bài kệ trên, ngài Tịch Thiên biện luận rằng nếu chúng
ta thật sự phát nguyện báo đền ơn đức của chư Phật
và tôn kính các Ngài, thì chẳng có cách gì hay bằng việc
làm chúng sanh hoan hỷ. Thật ra, trong thâm tâm, chư Phật quan
tâm sâu sắc về chúng sanh. Nếu phục vụ chúng sanh thì chư
Phật hoan hỷ; nếu hãm hại chúng sanh thì chư Phật sẽ đau
lòng. Do đó, nếu thực sự muốn làm chư Phật hoan hỷ nhờ
hành hạnh lành, cách hay nhất là tôn kính và thừa nhận lòng
từ bi của chúng sanh. Ngài Tịch Thiên kết luận:
123.
Giống như những đối tượng dục lạc chẳng làm tôi hoan
hỷ nếu thân mình bị lửa đốt cháy, cũng vậy khi chúng
sanh bị khổ đau, thì các đấng Từ Phụ không thể nào hoan
hỷ.
124.
Do đó, vì đã từng hãm hại chúng sanh, hôm nay tôi công khai
sám hối tất cả nghiệp xấu mà đã làm các đấng Từ Phụ
đau buồn. Xin các đấng Giác Ngộ hãy hỷ xả cho con những
điều đó.
125.
Để làm chư Như Lai hoan hỷ, kể từ ngày nay, tôi sẽ phục
vụ (tất cả chúng sanh trong) pháp giới và chắc chắn ngưng
(gây tổn hại). Dù bị chúng sanh đánh đập trên đầu cổ
đến nỗi nguy hiểm tánh mạng, tôi nguyện hoan hỷ làm kẻ
hộ pháp của thế gian mà không hề trả thù.
126.
Thật sự, những ai có bản chất từ bi đều xem tất cả
chúng sanh (bình đẳng) như họ. Hơn nữa, những ai (thấy được
Phật tánh) như bản tánh của chúng sanh, thì tự thấy được
chư Phật; thế thì tại sao tôi lại không tôn kính chúng sanh?
127.
(Làm chúng sanh hoan hỷ) khiến chư Như Lai hoan hỷ và cũng
làm viên mãn mục đích của tôi. Ngoài ra, điều này loại
trừ sự khổ đau khốn cùng của (chúng sanh trong) pháp giới.
Vì thế, tôi phải luôn luôn thực hành hạnh này.
Nếu
ai tin vào Thượng Đế có thể thay đổi cách quán chiếu chư
Phật như đấng tạo hóa. Nếu nghiêm túc sống chân thật
theo ước muốn của Thượng Đế, làm cho Ngài vui lòng, và
giữ gìn chân lý từ bi của Ngài, thì những điều chân thật
đó sẽ được biểu lộ qua cách cư xử chúng sanh hay ít nhất
qua nhân loại. Vì vậy, lý tưởng phục vụ Thượng Đế chân
thật phải được chuyển thành hành động của mình qua cách
cư xử đồng loại.
Theo
đạo Cơ Đốc, giữa mình và Thượng Đế chỉ có quan hệ
ngay trong hiện đời, chứ không phải trong quá khứ; đó là
dựa vào đức tin Thượng Đế. Nhờ vậy mà mối quan hệ
đó được khắng khít gần gũi. Chắc chắn sẽ có hiệu quả
nếu hành những hạnh đó tùy theo căn cơ, tức là khắc chế
được chính mình trong cuộc sống.
128.
Ví dụ, nếu có quần thần của vua chúa gây tổn hại cho
nhiều người, đối với người hiểu rộng, họ sẽ không
dám báo thù dù có khả năng.
129.
Vì họ thấy rằng (những người đó) không đơn độc mà
được thế lực của nhà vua hỗ trợ. Cũng vậy, tôi sẽ
không khinh thường những chúng sanh yếu hèn đang gây đôi
điều tổn hại cho tôi.
130.
Họ được ngục tốt và tất cả đấng Từ Phụ gia hộ.
Như quần thần của vị vua oai thế đó, tôi phải làm tất
cả chúng sanh hoan hỷ.
131.
Nếu nhà vua có nóng giận, ông ta có thể khiến (tôi) chịu
đau khổ trong địa ngục (quả báo xấu mà tôi phải gánh
lấy vì gây phiền muộn cho chúng sanh) chăng?
132.
Và nếu nhà vua đó từ bi, ông ta không thể ban cho tôi quả
vị Phật (quả báo lành do làm cho chúng sanh hoan hỷ).
133.
Tại sao tôi lại không thấy rằng sự thành tựu quả vị
Phật trong tương lai cũng như danh vọng, lợi lạc, hạnh phúc
trong hiện đời, tất cả đều do làm cho chúng sanh hoan hỷ?
134.
Sống trong vòng luân hồi, hạnh nhẫn nhục giúp tôi có được
thân thể đẹp đẽ, tráng kiện, rồi lại khiến tôi sống
hưởng thú vui dài lâu như một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương.
Đến
đây kết thúc hạnh 'Nhẫn Nhục' trong chương sáu của quyển
luận Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên.
Thiền
quán.
Chúng
ta hãy thiền quán về 'Vô niệm' (không phải để tâm mê mờ
'trống không'). Trước hết, phải phát tâm cần thiết để
giữ tâm vô niệm. Nói chung, tâm chúng ta thường bị ngoại
vật chi phối; nghĩa là nó thường chạy theo những cảm xúc
và khái niệm của các giác quan (sáu căn). Thế nên, hãy thu
nhiếp và chớ để nó rong đuổi theo sáu trần. Đồng thời,
đừng để bị hôn mê, mà phải tỉnh giác. Kế đến, cố
gắng quán chiếu và giữ trạng thái tự nhiên của tâm thức
(không bị vọng tâm lôi về quá khứ hay dẫn đến vị lai
như nghĩ về kỷ niệm xa xưa, dự tính tương lai với bao nỗi
lo âu, sợ hãi, hy vọng, v.v... làm phiền muộn).
Đáy
sông đục ngầu vì dòng nước chảy xiết. Muốn nhìn tận
đáy sông, phải chặn dòng nước lại để mặt sông được
phẳng lặng.
Cũng
vậy, vọng niệm nếu dừng chạy theo sáu trần hay tránh lạc
vào hư vô, thì bên dưới dòng sóng thức đó còn có chân
tâm thanh tịnh sáng soi. Hãy tinh tấn hành trì tuy lúc đầu
rất khó khăn, vì chưa có thể chú tâm vào một đối tượng
đặc thù nào, và dễ dàng bị hôn trầm.
Phải
liễu ngộ bản thể tịch tĩnh của tâm thức, vì đó là chân
tâm sẵn có. Chúng ta quen hiểu tâm niệm theo khía cạnh vật
chất, hay có khuynh hướng nhìn thế giới bên ngoài bằng khái
niệm, tưởng tượng, v.v... Có lẽ khó lòng nhận ra chân tâm
tịch tĩnh sáng soi khi nhiếp tâm tránh chạy theo trần cảnh.
Nhờ từ từ và làm quen, quý vị sẽ bắt đầu liễu ngộ
bản thể sáng soi của chân tâm hằng giác.
Tuy
vậy, chớ lầm cho đó là sự liễu ngộ tánh Không hay chớ
có ảo tưởng rằng đã đắc thiền định thâm sâu, vì thiền
gia nội đạo lẫn ngoại đạo đều có thể đạt đến các
cảnh giới thiền định như: 'Thiền vô sắc giới, phi phi
tưởng giới, v.v...' Có nhiều cảnh giới thiền định vắng
lặng khác nhau. Một lần nữa, chúng chưa phải là cảnh giới
thiền định thâm sâu, nhưng nhờ chúng mà tỏ ngộ chân tâm.
Bắt
đầu ngồi thiền bằng cách quán sát hơi thở. Chú tâm vào
chót mũi và hơi thở. Hãy tỉnh giác hơi thở ra vào; thở
ra vào ba lần, rồi nhập thiền quán.
Hỏi:
Ngài và các vị đại sư khác khuyên chúng con nên thật tâm
hoan hỷ về sự thành công, hạnh phúc của người khác như
đã được bàn luận trong chương sáu của quyển luận Nhập
Bồ Tát Hạnh và trong quyển 'Con Đường Đạt Đến Pháp Lạc'.
Tuy nhiên, nếu chúng ta biết chắc chắn rằng ai đó tích lũy
hay được thành công điều gì bằng những cách bất chánh
như nói láo, ăn cắp, lường gạt, hãm hại, thì niềm vui
mà họ cảm nhận sẽ được thể hiện ra sao?
Đáp:
Đúng vậy! Có hai quan điểm khác nhau giữa sự thành tựu
giả tạo có được nhờ tà nghiệp như nói láo, ăn cắp,
luờng gạt, v.v... và sự thành tựu hạnh phúc chân thật nhờ
chánh nghiệp. Nơi đây, nếu xem xét cẩn thận, dù có thể
dùng nghề nghiệp bất chánh để đạt được niềm hạnh
phúc, nhưng đó chỉ là nhất thời. Thật ra, được hưởng
hạnh phúc như thế nhờ công đức lành đã tích lũy trong
quá khứ. Thế nên, phải nhìn thấy sự khác biệt giữa quả
báo nhất thời và dài lâu.
Một
trong những đặc tính của luật nhân quả là nhân và quả
liên hệ mật thiết với nhau. Không bao giờ tà nghiệp có
thể mang lại niềm hạnh phúc. Về định nghĩa, hạnh phúc
chỉ là quả lành của nghiệp lành. Thế nên, theo quan điểm
đó, có lẽ nên bớt cảm kích quả báo nhất thời, mà phải
xem trọng về chánh nhân của niềm hoan hỷ.
Hỏi:
Có nên chấp nhận sự bất công và dùng nó để hành hạnh
nhẫn nhục hay cố gắng thay đổi thực trạng xã hội đã
gây ra điều đó? Đâu là lẽ công bằng?
Đáp:
Vâng! Theo tôi nghĩ, chắc chắn phải cố gắng thay đổi hoàn
cảnh xã hội; nên dùng nguồn sống dồi dào từ giáo pháp
được ngài Tịch Thiên viết ra qua nhiều thế kỷ, để thay
đổi hoàn cảnh xã hội. Ngài Tịch Thiên không khuyên chúng
ta hoàn toàn giữ mình thụ động tiêu cực, chẳng làm gì
cả. Ngược lại, chúng ta phải phát tâm kiên nhẫn chịu đựng
và dùng hạnh đó như sức mạnh để rồi thay đổi hoàn cảnh
xã hội.
Hỏi:
Làm sao tránh thói quen tức giận người khác khi bị họ xúc
phạm?
Đáp:
Như đã bàn, lúc nhớ lại việc bị người khác xúc phạm
thì khiến nổi giận, nhưng nếu nhìn việc đó theo một khía
cạnh khác, người đó chắc chắn có nhiều phẩm hạnh tốt.
Hơn nữa, có xem xét cẩn thận, sẽ thấy rằng phản ứng
tức tối về việc đó cũng tạo cơ hội hiếm hoi ít có (ngay
cả theo quan niệm cá nhân). Do đó, quý vị có thể nhìn một
sự kiện qua nhiều góc độ khác nhau. Tuy vậy, đối với
hành vi của ai đó, nếu có cố gắng nhưng không thể tìm
ra cách giải quyết, thì trong giai đoạn tạm thời, cách hay
nhất là chỉ việc cố gắng quên đi điều đó.
Hỏi:
Xin Ngài giảng giải chi tiết về mối liên hệ giữa sự chứng
ngộ tánh Không, lý duyên khởi, và hạnh nhẫn nhục? Phải
chăng nếu không có sự chứng ngộ tánh Không và lý duyên
khởi thì hạnh nhẫn nhục chỉ là bề ngoài?
Đáp:
Nơi đây, nghĩa của chữ 'bề ngoài' cũng có thể được nhìn
theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm tu hành, hạnh
nhẫn nhục nếu tách rời khỏi nhân duyên hỗ trợ của trí
huệ và sự trực nhận tánh Không, thì chỉ là bề ngoài,
vì hạnh đó không thể trừ sạch tâm sân hận. Tuy vậy, không
phải điều này ngụ ý dạy rằng nên đợi đến khi chứng
ngộ tánh Không rồi mới bắt đầu hành hạnh nhẫn nhục.
Trong
kinh điển Đại Thừa có nhấn mạnh điều đó, như có nhiều
vị Bồ Tát đã đạt nhiều sự chứng ngộ cao siêu, nhưng
vẫn chưa chứng ngộ tánh Không. Vấn đề là thật khó lòng
tìm được các vị Bồ Tát đã chứng ngộ tánh Không. Tôi
thiết nghĩ, có vài hành giả Tây Tạng đã thật sự thể
nghiệm tâm Bồ Đề thâm sâu, và vài vị pháp hữu của mình
cũng đã thật sự đạt đến cảnh giới thiền định cao
siêu. Điều đáng kinh ngạc là có vị thuật lại rằng đã
đạt thiền định tịch tĩnh suốt bốn tháng, nhưng thật
khó lòng phát tâm Bồ Đề, nên không thích thú Mật Thừa;
vì không phát tâm Bồ Đề thì việc hành pháp Mật Thừa thật
vô ý nghĩa. Vì vậy, trong những lần đàm đạo, tôi cũng
đề cập sự hành trì cá nhân đôi chút. Nhờ chúng tôi kết
tình bạn thân thiết, nên vị đó mới kể lại kinh nghiệm
này, chứ không thì các vị đó nào thích khoe khoang, còn những
người không có kinh nghiệm tu hành như tôi đôi khi lại thích
phô trương.
Hỏi:
Có thể chỉ gặp vị thầy Tây Tạng của mình một hoặc
hai lần trong năm được không?
Đáp:
Điều này rất có thể xảy ra. Tuy nhiên, như đã bàn, phải
nhận thấy rằng vị đó có tư cách tối thiểu của một
vị thầy. Lại nữa, chỉ hỏi vị đó những vấn đề quan
trọng, chứ không vớ vẫn.
Hỏi:
Làm sao biện hộ cho ai đó bị hành phạt hay tù tội vì si
mê, hoàn cảnh, nhân duyên tác động kích thích hãm hại người
khác hay làm những điều phi lý?
Đáp:
Tôi nghĩ rằng phải phân biệt giữa lối hành phạt theo hình
thức ngăn ngừa và hành phạt như quả báo của hành vi xấu
xa. Có lẽ dễ dàng biện hộ cho hành phạt theo hình thức
ngăn ngừa tạo nghiệp xấu trong tương lai.
Nhắc
đến hình phạt xử tử, tôi cảm thấy rất buồn vì vài
quốc gia vẫn còn áp dụng, nhưng lại rất vui khi biết có
những quốc gia đã bỏ luật đó.
Hỏi:
Trong các thành phố lớn, về những lần gặp gỡ lạnh lùng
thoáng qua với những người xa lạ, có cách nào phát khởi
lòng từ bi chăng?
Đáp:
Để rải lòng từ bi đến với người khác, không hẳn cho
rằng phải biết họ. Nếu như thế thì không thể nào trải
lòng từ bi phổ cập vì còn biết bao chúng sanh, cho đến khi
viên mãn thành Phật.
Cũng
vậy, để liễu ngộ bản chất vô thường giả tạm của
muôn pháp, không thể nào làm quen với từng sự vật, mà nhờ
bao quát trực nhận nhân duyên tạo ra tất cả muôn pháp.
Lại
nữa, nhờ bao quát liễu ngộ rằng cứu cánh tất cả cảm
thọ phát sanh từ những hành vi ô nhiễm là bất như ý, mà
không cần phải đi xuyên qua từng kinh nghiệm, rồi suy nghĩ:
'Điều này không thỏa mãn; điều kia bất như ý'.
Tương
tự, khi rải tâm từ bi khắp chúng sanh hãy nghĩ rằng với
kinh nghiệm vui buồn và quý trọng thân thể, họ luôn có xu
hướng mong muốn được hạnh phúc và tránh khổ đau. Do đó,
nguyện cho họ mau chóng hoàn mãn ước vọng này, và nguyện
cho tôi có khả năng trợ giúp họ.
Hỏi:
Nếu đang tu học và hành trì pháp 'Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
(Lamrim)' và 'Đại Viên Mãn (Dzogchen)', thì có cần tu pháp Vô
Thượng Du Già Bộ (Anuttara Yoga Tantra) chăng?
Đáp:
Để hành thiền quán về pháp Đại Viên Mãn, cần phải được
truyền pháp quán đảnh và ban phước sơ khởi, vì pháp này
liên hệ với pháp Vô Thượng Du Già. Do đó, chưa hành pháp
Vô Thượng Du Già thì quý vị không thể tu hành thành tựu
pháp Đại Viên Mãn. Có thể vài vị thầy khi ban pháp Đại
Viên Mãn và pháp Sơ Hành, chưa xác định được pháp này
thuộc về Mật pháp đặc biệt nào. Tuy nhiên, khi xem xét sự
khác biệt giữa pháp Đại Du Già (Maha Yoga), A Nộ Du Già (Anu
Yoga), A Đề Du Già (Ati Yoga), tức là ba pháp Nội Du Già theo
danh từ chuyên môn của phái Ninh Mã (Nyingma), chúng ta phải
hiểu rằng thật ra ba loại này nằm trong pháp Vô Thượng
Du Già.
Hỏi:
Xin Ngài giải thích về vai trò của hạnh độc cư trong việc
thành tựu đạo giác ngộ. Hoàn cảnh độc cư đó giống môi
trường tự viện như thế nào?
Đáp:
Thật ra, có vài ngôi chùa hoạt động rất náo nhiệt; tôi
thiết nghĩ điều này thái quá đôi chút. Xưa kia, có nhiều
đại hành giả sống trong các tự viện mà có vài vị pháp
hữu của tôi đã từng biết đến. Để dõng mãnh tinh tấn
tu hành ở nơi cô quạnh, một trong những phương pháp mà các
ngài thường dùng là làm một hệ thống khóa cửa đặc biệt
để có thể lấy chìa khóa trong am thất. Bằng cách này, nhìn
từ bên ngoài, dường như các ngài không ở trong am thất,
và giữ sự bí mật cá nhân ở nơi đó. Thật vậy, có vài
vị đã đạt đến cảnh giới chứng ngộ cao siêu, được
gọi là cảnh giới viên mãn trong pháp Vô Thượng Du Già.
Tiếng
Tây Tạng gọi danh từ tự viện là 'gompa'; theo ngôn ngữ học,
nó mang ý nghĩa của nơi cô quạnh xa rời phố xá. Vì vậy,
trong vài tu viện ở Tây Tạng, có những luật nghiêm cấm
mọi hoạt động gây ồn náo như không thể nuôi chó trong
chùa vì chúng sẽ sủa gây tiếng ồn; không thể lắc chuông,
đánh choảng, đánh trống tay, đánh trống lớn v.v... Âm thanh
duy nhất chỉ là tiếng đàm luận Phật pháp ở trong khu đất
tranh luận.
Bất
hạnh thay! Hiện tại, quần chúng có cảm nghĩ sai lầm rằng
nếu trong chùa không làm lễ như đánh trống, đánh choảng,
hay rung chuông, thì dường như tu viện đó không thanh tịnh.
Thật ra, tu viện phải tràn đầy không khí thiền quán và
sự ghép mình trong thiền quán. Thiếu những điều đó, tu
viện sẽ giống như bất cứ một cơ quan nào đó.
Hỏi:
Con phải xét lại các điều kiện gì để quyết định rằng
có nên thọ giới Bồ Tát vào lúc này chăng? Con muốn tránh
những lỗi lầm tỳ vết và thực hành lục độ, nhưng không
biết mình có khả năng hay chăng?
Đáp:
Khác với sự truyền giới Bồ Tát vào ngày mai, trước đó
tôi sẽ làm lễ phát tâm Bồ Đề. Trong trường hợp này,
tốt nhất là thọ lễ phát tâm Bồ Đề, và khoan thọ giới
Bồ Tát.
Tôi
không biết rõ hoàn cảnh đặc biệt của quý vị; nếu đã
từng làm quen với Phật giáo nói chung và Đại Thừa nói riêng
cùng được ban nhiều pháp Đại Thừa, thì điều này có thể
khác biệt hơn. Ngược lại, nếu đây là lần đầu tiên mà
quý vị gặp giáo pháp của hạnh Bồ Tát, thì có lẽ tốt
nhất là chớ thọ giới Bồ Tát.
Hỏi:
Cá nhân và đoàn thể tăng già phải nên phục vụ gì cho người
khác?
Đáp:
Đây là vấn đề vô cùng phức tạp và phải nên lưu tâm
vì đối với tăng ni ở phương Tây, mà đặc biệt là ni chúng,
chưa thiết lập được một tổ chức hỗ trợ đáng tin cậy.
Tuy nhiên, về cá nhân, nói chung nếu tăng ni có thể đóng
góp bất cứ điều gì cho xã hội thì đó là điều vi diệu
đáng ngưỡng mộ vì đó chính là mục đích tu hành.
Các
đạo hữu Cơ Đốc giáo, như linh mục lẫn bà sơ, đều phát
nguyện dấn mình vào việc phục vụ xã hội mà chính nhất
là ngành giáo dục và y tế. Điều này rất hay. Theo truyền
thống, giữa tăng ni Phật giáo, con số hành hạnh đó rất
ít. Do đó, vừa đến Ấn Độ vào đầu thập niên sáu mươi,
tôi nhắc nhở các vị lãnh đạo tăng viện và ni viện rằng
cuối cùng tăng ni cũng phải gánh vác trọng trách về hai ngành
đó. Tuy nhiên, cho đến nay, rất ít có sự đáp ứng.
Kế
đến, đối với tăng ni người Tây Phương, dù có nhiều trung
tâm đó đây ở châu Âu và châu Úc cùng nhiều nơi khác, nhưng
trong hiện tại ở mọi nơi quý vị đều gặp rất nhiều
sự khó khăn. Dĩ nhiên, cần có thời gian để giải quyết.
Do
đó, tôi thật rất khâm phục những tăng ni người Tây Phương
gi? giới luật và tinh tấn tu đạo dù gặp bao chướng ngại.
Vào tháng ba năm ngoái, chúng tôi có một buổi họp mặt rất
kết quả ở vùng Dharamsala; tham dự buổi họp mặt đó có
ni chúng và có vài vị đang ở đây. Lắng nghe họ giải thích
về những nỗi khó khăn, khiến cho tôi cảm động rơi lệ.
Họ ăn nói lưu loát, nên được lòng thính giả.
Hỏi:
Xin Ngài chỉ dạy cho những người già yếu bắt đầu tu học
kinh điển Phật pháp.
Đáp:
Xin chớ lo lắng! Có một câu chuyện Phật giáo mang lại niềm
khích lệ tu học mạnh mẽ. Trong thời đức Phật, có một
ông lão tên là Pelgye phát tâm tinh tấn tu hành vào lúc tám
mươi tuổi, nhưng lại bị con cháu khinh khi mắng chửi. Cuối
cùng, ông ta xả bỏ thế tục, sống đời xuất gia, tinh tấn
hành trì, rồi chứng ngộ cảnh giới chứng ngộ cao siêu.
Khi
vị giáo thọ sư của tôi, ngài Lâm Nhân Ba Thiết (Ling Rinpoche),
trở thành viện chủ của chùa Gyuto, còn vị cựu viện chủ
vốn là vị cao tăng thức giả; trước tuổi hai mươi lăm,
vị đó lại là một trong những ông tăng 'dop dops (ngu đần)';
nghĩa là họ buông lung phóng túng không bao giờ chịu tu học'.
Điều ngu xuẩn xấu xa là lắm lúc họ đánh đấm chửi mắng
lẫn nhau, hay gây phiền hà trong chùa lẫn phố xá.
Đấy
là tánh xấu của vị cựu viện trưởng đó cho đến khi hai
mươi lăm tuổi. Về sau nhờ những điều nhiệm mầu nào đó,
vị này thay đổi tánh khí và dồn mọi sức lực vào việc
tu hành, rồi trở thành một bậc cao tăng thức giả. Những
câu chuyện đó cho chúng ta nhiều niềm hy vọng.
Tôi
thiết nghĩ trước và ngay sau khi xuất gia có rất nhiều vị
đại sư xưa kia gặp bao chướng ngại. Kế đến, vào tuổi
ba mươi, bốn mươi, năm mươi, các ngài bắt đầu nghiêm chỉnh
tu hành, rồi trở thành những bậc đại sư. Do đó, lúc tuổi
về chiều, sức khỏe giảm sút, nhưng so sánh ra bộ não vẫn
còn đó.
Ngoài
ra, nếu có niềm tin về lý tái sanh trong đạo Phật thì không
có lúc nào là quá trể. Dù chỉ vừa tu hành một năm trước
khi lâm chung, thì quả báo lành từ sự tinh tấn của quý vị
sẽ không mất đi vì có sự tái sanh; nghĩa là chúng sẽ được
tiếp tục mang qua đời sau.
Đại
sư Tát Ca Bán Trạch Đa (Sakya Pandita Kunga Gyaltsen) bảo rằng
dù biết chắc rằng ngày mai sẽ chết, vẫn phải phát triển
trí huệ cần thiết, vì nó sẽ chuyển sang đời sau, giống
như ai đó giữ giùm mình.
Tuy
nhiên, những điều đó thật vô ý nghĩa với những ai không
tin thuyết tái sanh.
Hỏi:
Xin Ngài giải thích về quan điểm cầu nguyện của đạo Phật.
Theo đạo Phật thì không có một đấng sáng tạo. Văy, tín
chúng nên cầu nguyện với đấng nào hay hình tượng gì?
Đáp:
Có hai loại cầu nguyện. Thứ nhất, tôi thiết nghĩ, hầu
như việc cầu nguyện chỉ là điều nhắc nhở sự tu hành
thường nhật. Những câu kệ giống như các bài cầu nguyện,
nhưng thật ra nhắc nhở cách nói năng hành xử vấn đề trong
cuộc sống hằng ngày. Điển hình, theo thời gian hành trì
thường nhật, nếu kéo dài, việc tụng niệm của tôi mất
khoảng bốn tiếng. Tôi thiết nghĩ có lẽ việc tu hành chỉ
là sự ôn bài về lòng từ bi, hỷ xả, và (dĩ nhiên) tánh
Không. Về cá nhân, pháp môn chủ yếu là quán tưởng Bổn
Tôn, Mạn Đà La, và hành trì Mật pháp bao gồm quán tưởng
sự chết và tái sanh. Cụ thể hóa, tám lần trong mỗi ngày
tôi quán tưởng Bổn Tôn Mạn Đà La, Bổn Tôn Du Già, cái
chết, thân trung ấm, và sự tái sanh. Tám lần chết là tám
lần tái sanh. Tôi phải chuẩn bị cho cái chết của mình.
Khi tử thần đến, tôi cũng chưa biết rõ sẽ đạt thành
tựu hay chăng.
Thứ
hai, một phần của sự tu hành là cầu nguyện lên đức Phật.
Dù không thờ kính Ngài như Thượng Đế, nhưng đồng thời
chúng ta phải tôn kính Ngài như một đấng đại hùng, đại
lực, đại từ bi cao cả đã tự thanh tịnh hóa thân tâm.
Có lẽ khi nhìn theo chiều hướng đó thì việc cầu nguyện
lên đức Phật có thể được xem như cầu nguyện Thượng
Đế.