Ngày thứ
ba. Buổi thứ nhất.
Phần
trên, ngài Tịch Thiên đã bàn qua cách đối phó những sự
tổn hại gây cho thân mình. Từ đây, Ngài giải thích cách
thức tránh nổi lửa sân khi gặp kẻ phá hoại vật sở hữu
của mình.
64.
Khi kẻ khác hủy báng hay hủy phá Pháp Bảo như các thánh
tượng, kinh điển, v.v..., nếu tôi thù hằn họ thì là việc
sai trái, vì Tam Bảo không thể bị tổn hoại.
Trong
bài kệ trên, ngài Tịch Thiên nói rằng người Phật tử cố
biện minh cho việc tức giận kẻ hủy hoại tượng Phật,
hủy báng Tam Bảo, v.v... vì đó là những thánh vật rất quý
báu, và vì muốn hộ trì Phật pháp. Ngài Tịch Thiên bảo
rằng không đúng cho lắm. Thực ra, chúng ta phản ứng tiêu
cực như thế chỉ vì bất bình. Tuy nhiên, những thánh vật
đó không thể nào bị tổn hoại.
65.
Phải tránh thù hận những kẻ hãm hại thầy Tổ, bạn bè,
thân quyến của mình. Ngược lại, như đã bàn, phải xem những
việc đó phát sanh từ nhân duyên.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên bảo rằng thù hận những kẻ
hãm hại thầy tổ, bạn bè, thân quyến của mình cũng không
đúng. Trong những trường hợp đó, vì tạo nghiệp xấu trong
quá khứ, nên nay họ mới bị hãm hại. Lại nữa, đôi khi
có nhiều nhân duyên liên hệ. Sự hãm hại của kẻ khác có
thể liên hệ với thái độ của bạn bè chúng ta. Thế nên,
chúng ta phải xem xét những nhân duyên đó và chớ thù hận.
66.
Tại sao chỉ thù hằn loài hữu tình, trong khi loài vô tình
cũng góp phần gây tổn hại? Tôi phải kiên nhẫn chấp nhận
tất cả sự tổn hại.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên nói rằng bàn về các nhân duyên
liên hệ đến sự tổn hại (như đã bàn), có những đối
tượng hữu tình và vô tình. Tuy nhiên, tại sao chúng ta đặc
biệt tính toán, chọn lựa, và giữ tâm hiềm thù với những
đối tượng hữu tình?
67.
Có người do ngu si mà làm hại, có người do ngu si mà nổi
sân, vậy thì ai có lỗi, ai không lỗi?
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên đưa ra sự cân xứng giữa hai bên. Kẻ
hãm hại chúng ta hay bạn bè của chúng ta, vì hắn ngu muội
về hậu quả xấu. Nếu bất bình nổi giận kẻ đó, thì
chúng ta cũng là kẻ ngu. Hai hành động đó đối xứng với
nhau, thì ai đúng ai sai? Kẻ ác lẫn người sân đều ngu muội.
68.
Vì xưa kia gây nghiệp xấu, nên nay mới bị hãm hại. Mọi
việc đều liên hệ đến hành vi của tôi, thì tại sao tôi
thù hận kẻ đó?
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên đáp lại sự phản ứng thông
thường; để biện hộ sự thù hận, chúng ta nói rằng đó
là hai trường hợp khác biệt: 'Ngay lúc đầu, tôi chỉ lo
việc của mình, chứ nào chọc tức họ đâu, nhưng lại bị
hại. Do đó, trong trường hợp đặc biệt này, tức giận
họ là điều đáng làm'.
Ngài
Tịch Thiên bảo rằng về việc này, chúng ta chưa suy nghĩ
chính chắn. Nếu xem xét cẩn thận, sẽ thấy rằng chính mình
phải chịu trách nhiệm vì đó là quả báo xấu của mình.
Do đó, không thể nói: 'Tôi hoàn toàn vô tội trong trường
hợp này'.
69.
Đã nhận ra, tôi phải cố gắng vươn mình tạo công đức
để chắc chắn trang trải tình thương đến mọi người.
Trong
bài kệ trên, ngài Tịch Thiên kết luận rằng sau khi hiểu
những lời giải thích trước kia, chúng ta phải phát nguyện:
'Kể từ nay, tôi nguyện nhắc mình và người sống hòa hợp
và trải rộng lòng từ bi'.
70.
Ví dụ, khi lửa từ nhà này cháy lan sang nhà khác, điều hay
nhất là phải vứt bỏ rơm và những vật dễ cháy.
71.
Cũng vậy, khi lửa sân cháy tràn sang những gì mà tôi đắm
chấp, thì tôi phải lập tức dập tắt nó, vì e rằng công
đức sẽ ra tro.
Trong
hai bài kệ trên, ngài Tịch Thiên nhấn mạnh tầm quan trọng
trong việc đương đầu với tâm chấp trước vì nó chính
là cội gốc của sân hận. Ngài đưa ra một ví dụ rằng
nếu thấy lửa cháy nhà, thì tức khắc phải dập tắt những
cọng rơm đang cháy để đảm bảo rằng ngọn lửa này không
cháy lan sang những căn nhà khác. Cũng vậy, khi lửa sân nổi
lên, nó sẽ cháy lan tràn nhờ nhiên liệu chấp trước. Thế
nên, phải cố gắng tẩy trừ tâm chấp trước. Nói chung,
trong kinh điển Đại Thừa trình bày lý tưởng Bồ Tát hay
'Cách sống'; trong quyển Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận,
ngài Tịch Thiên nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc
đối phó với sân hận, cũng như làm sao để tự thủ hộ
và tẩy trừ nó. Tuy nhiên, Ngài nhấn mạnh rằng có những
trường hợp ngoại lệ mà chấp trước có thể hỗ trợ Bồ
Tát làm việc lợi tha. Tuy vậy, tham trước vẫn là cội gốc
của sân hận.
Khác
với chấp trước, khi sân hận nổi lên nó rất tai hại, thô
lỗ, và có đặc tánh gây bấn loan. Ngược lại, chấp trước
nhẹ nhàng hơn. Nhưng, chấp trước cũng là cội gốc của
sân hận. Để tẩy trừ hoàn toàn sân hận, chúng ta cũng phải
đối đầu với chấp trước.
Tuy
đôi khi chấp trước hỗ trợ Bồ Tát làm việc lợi tha, nhưng
đó không phải là bản chất của nó, mà nhờ Bồ Tát dùng
phương tiện thiện xảo xử dụng nó; nghĩa là nên nhớ rằng
trên căn bản, chấp trước vốn là cội gốc của vòng luân
hồi.
Lại
nữa, nhiều sự gây gỗ trong gia đình do chấp trước gây
ra. Có nhiều loại chấp trước khác nhau tùy theo đối tượng.
Điển hình, do chấp trước vào hình sắc, âm thanh, mùi hương,
vị, xúc chạm v.v... nên vấp phải bao vấn đề. Có lẽ tâm
chấp trước vào ái dục mạnh mẽ nhất. Kinh điển thuyết
rằng nó có liên hệ đến sự chấp trước của năm căn.
Do đó, nó mạnh mẽ hơn hết và có khả năng gây bao vấn
đề rắc rối.
Tuy
nhiên, tôi không biết việc đắm chấp vào tiền bạc thuộc
về loại nào, vì không thể bảo rằng đắm chấp vào hình
tướng đẹp đẽ hay âm thanh diệu dàng của tiền bạc. Với
tiền bạc, chúng ta có thể có được rất nhiều đối tượng
dục lạc, nên mới đắm chấp vào nó mạnh mẽ.
Bàn
về nam tính và nữ tính, tôi nhận thấy hai nhân tính này
chủ yếu liên hệ với nhau qua ái dục. Đôi khi, con người
kết duyên với nhau qua ái dục với động cơ tìm sự thỏa
mãn tạm thời. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ mối quan hệ đó
không vững vàng đáng tin cậy vì họ không dựa vào tình người
mà chỉ dựa vào thú vui xác thịt. Ngược lại, có loại quan
hệ tình dục không dựa vào nhục thể, mà chủ yếu nhấn
mạnh về việc tôn trọng và hiểu rõ phẩm giá lẫn nhau như
thấy rằng họ tử tế, hiền hậu, nhã nhặn. Ngoài việc
cần thời gian tìm hiểu để thông cảm lẫn nhau, bất cứ
mối quan hệ tình dục nào dựa vào điều này sẽ được
dài lâu, đáng tin cậy, và chân chánh; ở đây, hai bên có
ý thức trách nhiệm qua việc cam kết với nhau. Ngược lại,
trong trường hợp trước chưa đủ những yếu tố đó, vì
chỉ muốn thỏa mãn tạm thời.
Như
đã bàn luận, trong nội tâm của mọi người đều có nhiều
điều mâu thuẫn. Đôi khi, vì vọng niệm trước và sau giằng
co với nhau suốt ngày, khiến chúng ta phải cố gắng hết
sức hòa giải chúng, nên lắm lúc sanh bịnh nhức đầu. Do
đó, vì giữa hai người, giữa cha mẹ con cái, giữa anh chị
em, đều có sự khác biệt, nên hẳn nhiên có sự xung đột
và bất đồng. Để giải quyết những vấn đề đó phải
có niềm tự tín về khả năng hòa hợp.
72.
Bị chặt tay rồi được tha bổng, vậy thì tử tội có phải
may mắn lắm không? Cũng vậy, phải chịu đau khổ của kiếp
người có phải may mắn hơn là bị đọa địa ngục chăng?
73.
Khổ đau nhỏ nhặt trong hiện tại không thể chịu đựng
nổi, huống gì khổ đau cùng cực ở địa ngục chỉ vì lửa
sân tạo ra?
Trong
hai bài kệ trên, ngài Tịch Thiên giải thích rằng muốn tự
bảo vệ và tránh quả báo xấu trong tương lai, chớ nên thù
hận kẻ hại mình; nghĩa là khi gặp khó khăn hay bị hại
mà vẫn nhẫn nhục chịu đựng thì sẽ tránh hậu quả xấu
về sau. Nhờ biết cách giải quyết và gạt bỏ những việc
nhỏ nhặt, chúng ta sẽ có kinh nghiệm đương đầu với những
việc trọng đại mai sau. Ngài đưa ra ví dụ rằng để được
phóng thích tránh khỏi tội chết, tử tội phải bị chặt
tay, thì hắn có mừng lắm không? Nghĩa là hy sinh chịu khổ
đau nhỏ nhặt (bị chặt tay) để tránh nổi khổ cùng cực
(bị xử tử). Ngài lại nói rằng khi bị hại mà vẫn hành
hạnh nhẫn nhục thì sẽ được hai lợi ích: Thứ nhất, tránh
gây quả báo xấu về sau. Thứ hai, giảm bớt ghiệp xấu xưa
kia.
Kiên
nhẫn chấp nhận những thử thách nhỏ nhặt cũng giúp có
cơ hội hành trì những pháp môn khác. Có thể phát nguyện
hồi hướng 'Nhờ chịu khổ đau, nguyện cho con tịnh hóa nghiệp
xấu xưa kia'. Chúng ta cũng dùng dịp đó để hành hạnh 'tong-len',
tức là hạnh 'Thủ và Xả'. Vì thế, khi chịu đựng khổ
đau, phải suy nghĩ: 'Nguyện khổ đau này thay thế tất cả
khổ đau của chúng sanh để họ được an lạc'. Nghĩa là
phải dùng cơ hội chịu đựng khổ đau để phát nguyện thay
thế chúng sanh chịu khổ.
Đặc
biệt, lời giáo huấn này rất hữu ích khi gặp bịnh hoạn.
Dĩ nhiên, trước hết việc quan trọng là phải dùng mọi cách
phòng ngừa nỗi khổ vì bịnh hoạn như kiên cử ăn uống
đúng cách. Kế đến, khi bị bịnh, chớ xem thường thuốc
thang trị liệu cần thiết. Ngoài ra, cũng có sự khác biệt
lớn lao trong cách đối phó bịnh tật; nhờ có thái độ thích
ứng, chúng ta tự cứu mình tránh khỏi những nỗi khổ tinh
thần như than van, hối tiếc, tràn ngập bao nỗi lo âu sầu
muộn, v.v... Dù chưa giảm được nỗi khổ của xác thân,
nhưng hãy suy nghĩ: 'Nhờ kinh nghiệm này, nguyện cho tôi cứu
giúp những ai phải bị chịu khổ như thế'.
Đó
là cơ hội tu đạo, tức là hành hạnh 'tong-len (Thủ và Xả)'.
Chắc chắn pháp môn này giúp chúng ta tránh bớt nỗi khổ
tinh thần, dù bịnh tình chưa hẳn được bình phục. Lại
nữa, thay vì buồn rầu than vãn, hãy vui mừng và xem cơn bịnh
như một đặc ân, giúp cuộc sống được tươi đẹp hơn.
Đôi
khi, do hiểu lầm thuyết nhân quả, chúng ta quen đổ lỗi mọi
việc cho nghiệp, rồi xuôi tay, lẫn tránh trách nhiệm. Thật
sự, có thể nói dễ dàng: 'Tôi bất lực không biết phải
làm gì vì đây là quả báo của nghiệp xấu xa xưa'. Đó là
sự hiểu sai lầm hoàn toàn về nghiệp, vì dù phải chịu
khổ đau do quả báo xấu, nhưng không có nghĩa rằng hết cách
chọn lựa hay hết hy vọng chuyển nghiệp. Cũng vậy, trong
mọi khía cạnh của cuộc sống, chớ nghĩ tiêu cực rằng
tất cả đều là định nghiệp, mà không hành động tích
cực để chuyển nghiệp. Nếu có chánh kiến về nghiệp, nên
hiểu rằng nghiệp nghĩa là 'hành vi', tức là tiến trình thay
đổi tích cực.
Nghiệp
(hay hành vi) bao gồm hành động do một tác nhân tạo tác trong
quá khứ (trong trường hợp này là chính mình). Nói rộng hơn,
hành động hiện tại định đoạt tương lai trong tầm tay;
nghĩa là hiểu nghiệp với cách nhìn tích cực. Điều này
chứng tỏ rằng tác nhân đóng vai trò quan trọng trong việc
quyết định hướng đi của nghiệp. Ví dụ đơn giản, muốn
nuôi sống thân thể, phải tự tìm thức ăn, rồi nấu nướng
để dùng. Việc này chứng minh rằng nhờ tích cực làm mới
đạt đến mục đích đơn giản như thế.
74.
Để thỏa mãn dục vọng, tôi tạo nghiệp xấu, rồi bị hành
phạt khổ sở trong địa ngục. Tuy nhiên, những hành vi đó
không thể làm mãn nguyện mình và người.
75.
Thực sự tôi phải vui mừng vì sự tổn hại kia nào bằng
một phần của việc làm đầy ý nghĩa lớn lao: Chịu khổ
thay cho chúng sanh để họ không bị tổn hại.
Trong
những bài kệ này, ngài Tịch Thiên giải thích rằng những
nỗi gian truân gặp phải trên bước đường hành hạnh lợi
tha và nhẫn nhục, nào sánh bằng những nỗi khổ ở các cõi
thấp hèn. Nhờ hành trì và hành hạnh lợi tha, chắc chắn
sẽ giải quyết được những nỗi khổ trong hiện tại.
Thiền
quán.
Hãy
thiền quán về lòng từ bi bằng cách quán tưởng một chúng
sanh đang bị bịnh tật hành hạ hay gặp hoàn cảnh bất hạnh.
Kế đến, cố gắng gieo duyên với họ bằng cách nghĩ rằng
giống như mình, họ cũng cảm nghiệm buồn vui. Kế tiếp,
hãy rãi tâm từ bi thông cảm hoàn cảnh khổ đau bất hạnh
của họ.
Như
lúc trước, chúng ta hãy dùng ba phút đầu để hành thiền
quán chiếu như nghĩ về khổ, cảnh trạng bất hạnh của
khổ, v.v... Kế tiếp, cố gắng nhất tâm phát nguyện: 'Nguyện
cho chúng sanh thoát khổ', và 'Tôi sẽ cứu độ họ hết khổ'.
Nói
chung, có hai loại thiền quán chủ yếu. Loại thứ nhất, quý
vị chọn ra đề mục thiền quán. Ví dụ, trong trường hợp
thiền quán về lý vô thường hay tánh Không, không thể suy
nghĩ về bản chất của chúng, mà phải nhất tâm quán chiếu
chúng như đề mục thiền quán. Loại thiền quán khác là phát
khởi tâm niệm hướng vào một cảnh giới đặc biệt. Ví
dụ, để thiền quán về tâm từ bi, không thể dùng tâm đó
làm đề mục thiền quán, mà phải hướng tâm sống với tâm
đó.
Tôi
thiết nghĩ theo định nghĩa, phải hiểu rằng khi phát triển
tâm từ bi, quý vị đang cố gắng chia xẻ nỗi khổ của chúng
sanh; nghĩa là tự nguyện chấp nhận gánh thêm khổ đau. Trong
khoảnh khắc, có thể cảm thấy bực bội đôi chút, nhưng
ẩn tàng sự tỉnh giác rằng vì mục đích cao thượng và
vì lòng từ bi, mình tự nguyện chịu khổ thay người. Điều
này trái ngược với tâm tư lo lắng cho mình vì bị cơn bịnh
hành hạ, thiêu đốt làm tê liệt các căn. Vì vậy, nên nhớ
rằng càng tự nguyện thay người chịu khổ nhiều chừng nào,
thì càng tăng cường ý chí và sự tỉnh giác bấy nhiêu.
Có
nhiều người hiểu lầm về ngài Lãng Nhật Đường Ba (Langgri
Tangpa), vị đại hành giả thiền quán về lòng từ bi, với
biệt hiệu là 'Lạt Ma rơi lệ'. Ngài thường rơi lệ vì tâm
niệm đạt đến cảnh giới 'Sugata' rốt ráo hoan hỷ về mình
và người; nghĩa là 'đến bờ kia' hay 'vượt xa', và là cảnh
giới hoàn toàn hoan hỷ, an lạc. Tóm lại, Ngài không phải
khóc vì muốn khổ đau, mà muốn mình cùng người đi đến
cảnh giới hạnh phúc an lạc.
Hỏi:
Xin Ngài giải thích về mối liên hệ giữa sự sợ hãi và
thù hận, cùng sự sợ hãi và nhẫn nhục.
Đáp:
Có nhiều loại sợ hãi. Loại thứ nhất, dựa vào lý do chính
đáng mà sợ hãi. Loại thứ hai, do tâm tưởng tượng nên
sanh ra sợ hãi. Tôi thiết nghĩ loại thứ hai đến từ quả
báo xấu sâu xa, và là cảnh giới đau khổ. Tôi thiết nghi,
lo sợ vọng niệm xấu xa của mình là loại sợ hãi chính
đáng. Vọng niệm xấu xa phóng đại sự thù nghịch, khiến
mình sợ kẻ khác. Vì thế, đôi khi thù hận dẫn đến sợ
hãi.
Đối
với mối liên hệ giữa sợ hãi và nhẫn nhục, tôi không
biết.
Hỏi:
Phải chăng thà tránh giận người, còn hơn học cách đối
phó sân hận?
Đáp:
Điều này rất đúng. Thật ra, vào lúc đầu, hành giả phải
chọn nơi cô tịch hoang vắng. Tuy nhiên, đây chỉ là cách
giải quyết tạm thời chứ không lâu dài. Trong khi sống đơn
độc, phải hành trì và phát triển nội lực mạnh mẽ, để
khi trở lại xã hội, chúng ta được trang bị hoàn hảo. Muốn
thành A La Hán như tê giác, phải thường sống đơn độc tránh
va chạm với xã hội để nhất tâm hành thiền.
Hỏi:
Bằng chứng nào cho thấy chúng ta có Phật tánh? Làm sao biết
rằng mọi người và mình đều có Phật tánh?
Đáp:
Trước hết, theo đạo Phật, chân tâm rốt ráo vô thể tánh,
nghĩa là tánh Không. Do đó, nên nhận ra tâm thức chỉ là
ảo huyễn, vọng động không thật, nên có thể được loại
trừ. Nhờ tư duy, quán chiếu, và trực nghiệm mới tỏ ngộ
rằng chân tâm vốn là tánh Không; do nằm trong chân tánh, cuối
cùng sẽ tẩy trừ được vọng tâm.
Tóm
lại, chân tâm vốn thanh tịnh sáng suốt, và thức tánh lại
nằm trong đó. Nói rộng ra, dù chưa hoàn toàn sống với chân
tâm, nhưng nhờ quán chiếu thâm sâu mà tỏ ngộ điều đó,
rồi dựa vào kinh điển để biện biệt những cảnh giới
tâm thức khác nhau. Những điều này được giải thích trong
phạm trù của bốn cảnh giới tâm thức vi tế, và được
gọi là 'Tịnh Quang', hay chân tâm. Nếu lý luận suông mà không
dựa vào kinh điển thì khó lòng hiểu rõ những điều đó.
Điểm
trọng yếu là cá nhân phải thực sự liễu ngộ. Trong luận
điển Mật Tích có những lời lẽ ẩn dụ về 'tám mươi
tâm sở biểu trưng cho các tâm niệm vi tế', và cách chúng
liên hệ đến bốn cảnh giới Tịnh Quang. Tuy nhiên, tôi thấy
rằng nếu chỉ dùng lý luận lô-gích thì khó lòng đi đến
kết luận mỹ mãn. Ngoài ra, trong quyển Vô Thượng Bổn Tích,
ngoài việc giải thích về chân tâm, ngài Di Lặc còn dạy
rằng sở dĩ chúng sanh đều muốn thoát khổ được vui, vì
họ có khả năng đó.
Hỏi:
Ngài nghĩ gì về các vị giảng sư Phật giáo tuy thuyết và
viết rất hay, nhưng thực hành?
Đáp:
Vì biết sẽ xảy ra điều này, nên đức Phật quy định khắc
khe về phẩm hạnh thiết yếu của một vị thầy đức độ.
Ngày nay, có lẽ đây là vấn đề nghiêm trọng. Vì Phật pháp
không phải là một môn sử học hay văn học, nên những lời
thuyết giảng về giáo lý chỉ có ý nghĩa và lợi ích khi
vị giảng sư đã từng thực hành những điều đó. Vì vậy,
những ai muốn thuyết pháp phải tự chuẩn bị và nhận rõ
trọng trách. Vì sự hệ trọng này, khi miêu tả phẩm hạnh
thiết yếu cho một cá nhân trở thành vị thầy, ngài Tông
Khách Ba trích dẫn lời dạy chi tiết của ngài Di Lặc về
phẩm hạnh căn bản của một vị thầy trong quyển 'Đại
Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Tạng (Ornament of Scriptures)', như
phải tự khắc chế, được t? tại, có lòng từ bi, v.v...
Ngài Tông Khách Ba kết luận rằng trước hết phải hiểu
biết về phẩm hạnh thiết yếu của một vị thầy nếu muốn
tầm sư học đạo. Cũng vậy, muốn thâu nhận đệ tử, vị
thầy phải hiểu rõ trọng trách và tự xét mình có đầy
đủ những phẩm hạnh đó chăng, để bổ túc những gì thiếu
sót. Bàn sâu hơn, nếu tu hành không vì mục đích giải thoát
mà vì tiền tài, thì điều đó thật sai lầm, vì kiếm tiền
bằng cách khác hay hơn. Hành động như thế thật sự làm
bằng chứng cho lời tố giác của Cộng Sản rằng tôn giáo
vốn là công cụ bóc lột. Điều này thật đáng buồn.
Dự
biết sự lạm dụng như thế, đức Phật dứt khoát dạy rằng
chớ sinh sống bằng năm nghề nghiệp bất chánh, như lường
gạt hay tâng bốc thí chủ để được lợi lạc tối đa.
Người
đệ tử cũng có trách nhiệm rằng chớ mù quáng nhận ai làm
thầy. Có thể tu học Phật pháp với các vị thiện tri thức
mà không nhất thiết phải tôn thờ họ như vị thầy bổn
sư. Xem xét cho đến khi nào hiểu rõ, tin tưởng chắc thật
về họ: 'Bây giờ, Ngài có thể làm thầy bổn sư của con',
rồi theo họ tu học. Ngoài ra, quý vị cũng có thể tu học
qua kinh sách vì ngày càng có nhiều hơn.
Phải
có chánh kiến để tránh hiểu lầm những lời nhấn mạnh
về hoàn cảnh đặc biệt của ngài Tịch Thiên trong quyển
luận Nhập Bồ Tát Hạnh. Nói chung, vì vị thầy đóng vai
trò quan trọng trong việc mang lại niềm hứng khởi, ban phước
lành, truyền giáo pháp, v.v..., nên phải nhấn mạnh rất nhiều
về việc duy trì niềm tin và mối liên hệ chân chánh với
vị thầy. Kinh dạy: 'Nguyện cho con sáng suốt phát tâm tôn
kính vị đạo sư, để thấy mọi hành vi của Ngài đều thanh
tịnh'.
Hơn
ba mươi năm về trước, tôi đã từng bảo rằng phải cẩn
thận suy xét liều thuốc độc này, vì dễ dàng bị lạm dụng
nếu cho rằng mọi hành vi cử chỉ của vị đạo sư là thanh
tịnh, giác ngộ. Đối với một số người Tây Tạng, lời
này có lẽ hơi thái quá. Tuy nhiên, qua dòng thời gian, tôi
tin chắc rằng lời nhắc nhở này hoàn toàn có lý, vì rất
nguy hiểm nếu hiểu sai lời Phật dạy. Điển hình, bàn về
tầm quan trọng của mối liên hệ thầy trò, trong tạng luật,
đức Phật dạy rằng dù phải tùy thuận tôn kính vị đạo
sư, nhưng chớ chấp nhận những lời dạy phi pháp.
Cũng
vậy, trong tạng kinh, đức Phật dạy rằng phải y theo bất
cứ lời dạy nào đúng chánh pháp, còn ngược lại chớ tin
theo.
Trong
pháp Vô Thượng Du Già Mật Tích của Phật giáo Mật Thừa,
mối liên hệ thầy trò vô cùng quan trọng. Điển hình, trong
Vô Thượng Du Già Mật Tích, có pháp Đạo Sư Du Già, tức
là hành hạnh Du Già hướng đến vị đạo sư. Tuy nhiên, trong
đó dạy rằng nếu vị thầy dạy bất cứ điều gì phi pháp
thì chớ y theo. Phải giải thích lý do tại sao không thể làm
theo lời dạy đó cho vị đạo sư nghe. Nơi đây, phải hiểu
rằng chúng ta không được dạy: 'Vâng! Bất cứ lời gì Ngài
dạy, con sẽ làm theo', mà được nhắc rằng phải dùng trí
huệ để suy xét sự việc và sẵn sang bác bỏ những lời
dạy phi pháp.
Tuy
nhiên, lịch sử Phật giáo có ghi nhận những tấm gương tôn
thờ đạo sư như ngài Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa; những câu
chuyện đó có thể dường như thái quá đôi chút. Bề ngoài,
các ngài có thể giả dạng như những kẻ xin ăn hạ tiện,
hoặc có những hành vi kỳ lạ mà đôi khi khiến cho người
khác mất tin tưởng, nhưng lúc cần để hỗ trợ người khác
có niềm tin kiên cố vào Phật pháp, các ngài có những nhân
duyên quân bình hóa: Cảnh giới chứng ngộ cao siêu. Nói chung,
các ngài có thể hiển hiện rất nhiều thần thông nhiều
hơn những gì mà người khác thường tự hào có được. Ngược
lại, các ông thầy đời nay có những hành vi bất chính vượt
trội hơn hết, nhưng lại thiếu các yếu tố quân bình; nghĩa
là khả năng hiển hiện thần thông, để rồi dẫn đến bao
vấn đề rắc rối.
Do
đó, là người đệ tử, đầu tiên quý vị phải quán sát
và tìm hiểu vị thầy tường tận. Chớ chấp nhận ai đó
làm thầy trừ phi tin tưởng chắc thật về đạo hạnh của
vị đó. Thứ hai, nếu về sau xảy ra những điều không hay,
quý vị cũng có quyền từ bỏ họ. Điểm trọng yếu là người
đệ tử phải chắc chắn rằng không làm vị đạo sư bị
hủ hóa.
Hỏi:
Với niềm tôn kính tột bậc, tôi ngồi đây suy nghĩ về việc
thật ngạo mạn khi bảo rằng không có đấng sáng tạo. Tuy
nhiên, tôi biết đạo Phật có dạy về sự khiêm tốn. Tại
sao Ngài nghĩ rằng dùng lý luận lô gích có thể hiểu rõ
tất cả việc trọng đại? Phải chăng đơn giản đây là
một hình thức tín ngưỡng? Cuối cùng, về vấn đề có hay
không có một đấng sang tạo, trực giác và cảm giác đóng
vai trò gì?
Đáp:
Về việc không có đấng sáng tạo, kinh điển nhà Phật nói
rõ điều này. Ví dụ, hãy bàn qua bài kinh 'Yểu Cán (Cây Lúa
Non)', tức bài kinh nói về lý duyên khởi. Trong đó, đức
Phật dạy rằng vì gieo nhân nên có quả. Về sau, trong các
quyển luận của những vị học giả như ngài Nguyệt Xứng
(Chandrakirti) và Tịch Thiên (Shantideva) cũng bàn về lý đó.
Cũng như ngài Nguyệt Xứng, ngài Tịch Thiên trong chương chín
của quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh, và ngài Pháp Xứng trong
chương hai của quyển Lượng Thích Luận đều thẳng thắn
xác định lập trường rõ ràng trong mọi vấn đề về đấng
sáng tạo. Trong một bài kệ đặc biệt, ngài Pháp Xưng bàn
luận rằng Phật đã trở thành một đấng hoàn thiện. Câu
'trở thành' được dùng nơi đây để chỉ rõ rằng Ngài không
tin có một đấng toàn năng tuyệt đối. Trải qua quá trình
tu tập lâu dài cộng với nhiều nhân duyên hội tụ, Phật
Thích Ca Mâu Ni trở thành một đấng toàn giác viên mãn. Do
đó, mới có sự chọn lựa danh từ 'trở thành'. Đó là lập
trường của đạo Phật.
Như
tôi thường nói, có lẽ năm tỷ người (trên thế giới) với
căn tánh khác nhau cần có năm tỷ tôn giáo. Dĩ nhiên, đối
với một số người, nếu quan niệm về đấng sáng tạo có
lợi lạc và phù hợp hơn, thì tốt nhất nên y theo tín ngưỡng
đó. Điểm chủ yếu: Mỗi cá nhân nên chọn lựa tôn giáo
thích hợp với căn tánh, khí chất, và niềm tin của mình.
Về
câu hỏi thứ hai, trực giác hay cảm giác về đấng sáng tạo
đến từ đâu? Có thể có vài điểm giải thích theo luận
lý xã hội học; phong tục tập quán cũng chiếm một vai trò
quan trọng. Điển hình, đối với người Tây Tạng, bản năng
trực giác về đời hậu thế hay tái sanh vốn là điều tự
nhiên, mà không cần tranh luận.
Nếu
dùng triết lý tôn giáo khác nhau để tranh luận, thì tôi thiết
nghĩ điều đó thật sai lầm. Hãy sống với triết lý tôn
giáo đó. Điều rất rõ ràng: Đạo Phật là việc của người
Phật tử; đạo Cơ Đốc là việc của người Cơ Đốc. Không
ai tranh luận quyền chọn lựa thức ăn khác nhau trong nhà hàng.
Hỏi:
Nếu tất cả hành vi đều do nhiều nhân duyên thúc đẩy,
thì làm sao chọn ra con đường tu hành thành Phật? Phải tự
chọn lựa hay đó chỉ là bước kế tiếp không thể tránh
khỏi?
Đáp:
Quá trình giải thoát thành Phật không thể đơn giản xảy
ra như kết quả của chu trình tiến hóa theo dòng thời gian.
Nếu không tự tỉnh thức phát tâm tinh tấn tiến bước trên
đường đạo đi đến cảnh giới giác ngộ viên mãn, thì
cá nhân không có khả năng tự nhiên tiến hóa thành bậc giác
ngộ.
Kinh
điển có liệt kê mười sáu loại tánh Không khác nhau. Tánh
Không của cõi Ta Bà được gọi là 'tánh Không của đời
vô thủy không cùng tận'; nghĩa là trừ khi biết tỉnh thức
phát tâm tinh tấn tu hành, chúng ta vẫn mãi mãi làm phàm phu.
Năm
đặc tánh của hành giả Bồ Tát mà ngài Lặc bàn luận trong
chương thứ hai của quyển luận Hiện Quán Trang Nghiêm 'Ornament
of Clear Realization' có nhiều điểm lý thú; Ngài dạy rằng
có thể khẳng định vài điều về khuynh hướng tự nhiên;
có người hướng về đạo tự giải thoát; có người hướng
về lý tưởng Bồ Tát dẫn đến mục đích của Phật giáo
Đại Thừa, tức quả vị Phật cứu cánh. Tuy nhiên, theo quan
điểm cứu cánh, tất cả chúng sanh đều bình đẳng vì ai
ai cũng có Phật tánh. Do đó, phải phân biệt giữa tiềm năng
sẵn có và khả năng sống với điều đó.