Ngày thứ
hai. Buổi thứ hai.
34.
Nếu có quyền lựa chọn, chúng sanh nào muốn khổ đau?
35.
Vì bất cẩn, con người dùng vũ khí để tự hại mình. Họ
ngu si và cực khổ chỉ vì ái dục nặng nề.
Trong
bài kệ ba mươi bốn và ba mươi lăm, ngài Tịch Thiên đưa
ra cách giải quyết vấn đề bị hãm hại là phải giữ tâm
không thù hằn kẻ ác; nghĩa là đôi khi, nếu suy xét cẩn
thận, chúng ta sẽ nhận thấy rằng vì ngu si, bất cẩn, vô
tình, cùng đường bí lối mà tạo nghiệp xấu, chứ không
vì hiềm thù. Nếu không phải như thế, tại sao lắm lúc họ
lại tự hại mình?
36.
Có kẻ ngu si tự hại mình như tự thắt cổ, nhảy xuống
hố, dùng thức ăn và thuốc độc hại.
37.
Khi bị phiền não khống chế, con người sẳn sàng hủy hoại
sanh mạng quý báu của họ. Nếu như thế, làm sao họ tránh
khỏi việc hãm hại thân mạng chúng sanh?
Trong
bài kệ thứ ba mươi bảy, ngài Tịch Thiên bảo rằng nếu
ai có thể sẵn sàng tự hại họ vì ngu si hay bất cẩn, thì
họ cũng có thể hãm hại những người khác.
38.
Tệ lắm là phải tránh hận thù, nếu chưa có khả năng khởi
lòng từ bi trang trải đến kẻ thù.
Trong
bài kệ này, Ngài dạy rằng phải thương xót những kẻ tự
hại và hại người.
39.
Dù những kẻ ngu thường hãm hại chúng sanh, nhưng cũng không
nên tức giận họ, vì chẳng khác nào tức giận lửa có tánh
thiêu đốt.
40.
Dù người đáng tin cậy có phạm lỗi đôi chút, nhưng cũng
chớ oán giận họ, vì chẳng khác nào oán giận hư không để
khói bốc lên.
Trong
hai bài kệ này, ngài Tịch Thiên trình bày những phương pháp
mà chúng ta có thể phòng ngừa sân hận phát sanh. Ngài bảo
rằng nếu kẻ ngu có tánh thích hại người, thì tức giận
họ là việc vô lý, vì dù có làm gì đi nữa, họ cũng vẫn
tạo nghiệp xấu. Ngược lại, nếu vì hoàn cảnh bức bách
mà họ phạm lỗi lầm, thì thật vô lý nếu tức giận họ.
Tức
giận kẻ ngu trong trường hợp đầu, cũng giống như tức
giận lửa có tánh thiêu đốt; do khả năng thiêu đốt là
một phần bản chất của lửa, có tức giận nó thì thật
vô lý. Trong trường hợp thứ hai, nếu tức giận người phạm
lỗi vì hoàn cảnh bức bách, thì cũng giống như tức giận
mây mù phủ kín bầu trời. Bầu trời vốn trong sáng, nhưng
đôi khi cũng bị mây che vì nhiều nhân duyên hội tụ.
41.
Vì ai đó bị sân hận khống chế mà dùng gậy gây thương
tích cho tôi, thì lẽ ra tôi phải tức giận sân hận của
họ.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên đưa ra phương pháp cố gắng
tránh hay giảm thiểu lửa sân bằng cách xem xét nhân duyên
gần và xa mang đến sự tổn thương nào đó. Chúng ta có thể
bảo rằng đáng giận nhân duyên trực tiếp gây đau thương.
Ví dụ, nếu bị ai dùng gậy đánh đập, thì lẽ ra phải
tức giận cây gậy đó, nhưng chúng ta lại bảo rằng phải
căm giận nguyên nhân gây ra việc đó. Trong trường hợp này,
vì thù hận vốn là nhân duyên chủ động của hành vi đó,
nên chúng ta phải hướng tâm tức giận đến sự thù hận
ấy. Vậy thì tại sao chúng ta đặc biệt chọn lựa môi giới
(con người) giữa nguyên nhân trực tiếp (cây gậy) và gián
tiếp (thù hận) gây tổn thương và bỏ qua hai nguyên nhân
đó, rồi dồn sự tức giận đến với người đó!
42.
Xưa kia, do đã từng hãm hại chúng sanh, nên nay phải gánh
lấy hậu quả xấu; đó là điều thích đáng.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên chỉ rõ góc độ nhìn về việc
bị đánh đập. Ngài dạy rằng vì mọi khổ đau vốn là quả
báo của nghiệp xấu đã tạo trong quá khứ, nếu bàn đến
mọi nhân duyên phát sanh sự tổn hại đó, chúng ta cũng phải
chịu trách nhiệm phần nào.
43.
Cả gậy gộc lẫn thân thể của tôi vốn là nguyên nhân của
khổ đau. Họ dùng gậy gộc (để đánh đập), còn tôi đưa
thân thể, thì tôi phải giận ai?
Ở
đây, ngài Tịch Thiên nhận xét rằng vì nhiều nhân duyên
hội tụ, chúng ta mới cảm nghiệm khổ đau. Ví dụ, khi bị
đánh đập, kẻ đánh dùng gậy gộc, còn tôi đưa thân chịu
đòn. Ngay lúc đầu, không thân thì nào thấy đau. Do đó, tại
sao chỉ tức giận một nguyên nhân cá biệt (kẻ đánh), mà
không oán giận thân thể và gậy gộc?
Lại
nữa, nếu tức giận vì biết kẻ khác nói xấu sau lưng thì
tự mình hủy hoại nội tâm an lạc; nghĩa là chính mình tạo
khổ đau cho mình. Người Tây Tạng có câu rằng phải xem lời
nói như gió thổi qua tai. Nói cách khác, chỉ việc bỏ qua
ngoài tai. Nếu làm được như thế, chúng ta sẽ không cảm
thấy bị tổn hại hay hành hạ. Bàn rộng hơn, điều này
cho thấy rằng mức độ khổ đau tùy thuộc vào cách xử sự
và xem coi có nhạy cảm hay chấp nê sự việc đó chăng.
Thế
nên, theo đạo Phật, trong cuộc sống hằng ngày, đôi khi chúng
ta rất nhạy cảm với những việc nhỏ nhặt, còn những việc
trọng đại ảnh hưởng dài lâu thì ít để tâm đến. Vì
vậy, Phật dạy rằng phàm phu chúng ta ngây ngô như trẻ con.
Chữ 'jhipa (ngây ngô) của tiếng Tây Tạng được dùng theo
nhiều cách khác nhau: Đôi khi nó được dùng theo tuổi tác
bình thường; đôi khi nó chỉ cho phàm phu ngu si khác với thánh
hiền; đôi khi nó nói về những kẻ chỉ lo cho cuộc sống
hiện tại mà chẳng màng đến những việc trong tương lai.
Tóm lại, chúng ta có tập khí ngu dại là quá chấp nê và
dễ dàng cảm thấy bị thương tổn vì những việc lặt vặt,
còn khi gặp những việc lớn lao ảnh hưởng dài lâu thì lại
xem thường.
44.
Nếu ngu si đắm chấp thân xác đầy khổ đau nhưng không thể
chịu đựng sự xúc chạm, thì khi nó bị tổn hại, tôi sẽ
tức giận ai?
Ngài
Tịch Thiên nói rằng nếu thân và tâm vẫn còn bị nghiệp
báo và phiền não chi phối thì chúng ta mãi mãi chịu đau khổ,
bất như ý.
45.
Vì lỗi lầm dại dột mà kẻ ngu bị hại; dù không muốn
khổ đau, nhưng họ lại chấp nê vào những nhân duyên nhỏ
nhặt. Thế thì tại sao họ lại tức giận người khác?
46.
Những sự khổ đau phát sanh từ hành vi cá nhân như kẻ ngục
tốt và rừng rậm chông gai. Vậy thì tôi phải giận ai?
Trong
bài kệ thứ bốn mươi lăm, ngài Tịch Thiên bảo rằng hầu
hết những nỗi đau khổ đều do tập khí ngu dại gây ra;
tập khí đó chấp nê những việc nhỏ nhặt, và xem thường
những điều trọng đại mang lại ảnh hưởng dài lâu. Thật
vậy, nỗi khổ đau vốn do hành vi của chính mình tạo tác.
Thế thì tại sao chúng ta lại cho rằng người khác phải gánh
trách nhiệm về sự khổ đau của mình?
Điển
hình, sau cuộc chiến vùng Vịnh vào năm 1990, nhiều người
đổ lỗi cuộc xung đột chiến tranh cho Saddam Hussein. Bàn về
việc này, tôi có nói đôi lần: 'Thật bất công!' Trong hoàn
cảnh đó, tôi cảm thấy thương hại cho Saddam Hussein. Dĩ nhiên,
ông ta là kẻ độc tài và có nhiều lỗi xấu, nhưng nếu
không có quân trang thì quân đội không thể gây chiến sự.
Tất cả quân trang đó chẳng tự phát sanh. Khi nhận xét như
thế, chúng ta thấy nhiều quốc gia liên hệ đến cuộc xung
đột đó. Tuy nhiên, xu hướng thường tình của chúng ta là
đổ lỗi cho những nhân duyên ngoại tại khác. Xu hướng này
nhắm vào một nguyên nhân đơn độc, rồi cố tình lẫn tránh
trách nhiệm.
Thế
nên, tôi thiết nghĩ cách tu tâm là nên nhìn vấn đề bao quát
hơn để thấy có nhiều nhân duyên liên hệ đến sự việc.
Chúng ta không thể hoàn toàn đổ lỗi cho một cá nhân về
những gì đã xảy ra. Một ví dụ khác, hãy xem vấn đề giữa
người Tây Tạng chúng ta và người Tàu. Tôi thiết nghĩ về
phía người Tây Tạng, chúng ta phải gánh trách nhiệm góp
phần vào hoàn cảnh bi thương này. Có lẽ thế hệ chúng ta
đóng góp phần nào, nhưng điều chắc chắc là các thế hệ
trước đã từng góp phần vào tấm bi kịch này. Vì vậy,
đổ lỗi mọi việc cho người Tàu là việc bất công.
Nếu
nhận xét mọi hoàn cảnh theo chiều hướng trung thật bất
thiên vị và theo quan điểm rộng sâu, nói chung chúng ta cũng
phải chịu trách nhiệm về những sự kiện ám muội.
47.
Do hành vi của tôi kích thích, nên mới bị người khác hãm
hại. Nếu vì nghiệp xấu (hãm hại) đó mà họ phải đọa
vào địa ngục, chắc chắn có phải chính tôi hại họ chăng?
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên đưa ra rằng do nghiệp và hành
vi xấu xa đã tạo tác trong quá khứ mới khiến người khác
gây tổn hại hay phiền muộn cho mình. Ngoài ra, vì hành vi
xấu đó, họ tạo nghiệp xấu. Thế thì có lẽ chúng ta khiến
họ bị đọa lạc, vì do nghiệp của mình thúc đẩy phạm
nhân hung bạo tạo nghiệp xấu.
48.
Nhờ vào họ, tôi tịnh hóa nghiệp xấu bằng cách kiên nhẫn
chấp nhận những điều tổn hại do họ gây ra. Tuy nhiên,
do vì tôi, họ sẽ đọa lạc vào địa ngục khổ đau lâu
dài.
49.
Tôi hại họ, còn họ mang lại lợi ích cho tôi, thế thì tại
sao tâm thô lỗ này không oán giận những việc sai lầm đó?
Trong
hai bài kệ này, ngài Tịch Thiên nhận thấy rằng theo quan
điểm đã được trình bày, khi kẻ khác hãm hại và gây phiền
muộn cho chúng ta thì họ tích tụ nghiệp xấu. Tuy vậy, nếu
xem xét cẩn thận, nhờ hành vi xấu xa của họ, chúng ta có
cơ hội hành hạnh nhẫn nhục. Thế nên, theo góc độ đó,
phải tri ân kẻ cho chúng ta dịp may ấy; nghĩa là, họ thì
mang nghiệp xấu, còn chúng ta thì có dịp may tích lũy nghiệp
lành nhờ hành hạnh nhẫn nhục. Thế thì tại sao thay vì tri
ân kẻ đó, mà chúng ta lại tức giận họ?
50.
Nếu tâm tôi có phạm hạnh (nhẫn nhục) cao thượng, tôi sẽ
không đọa địa ngục. Tôi tự vệ bằng cách này, nhưng còn
họ thì sẽ ra sao?
Nơi
đây có hai vấn đề. Thứ nhất, khi bị kẻ khác hãm hại,
tôi cho họ dịp tạo nghiệp xấu, thì phải chăng tôi cũng
sẽ tích tụ nghiệp xấu vì khiến họ bị đọa lạc? Ngài
Tịch Thiên đáp rằng không phải, vì nếu phản ứng tích
cực như hành hạnh nhẫn nhục thay vì tích tụ nghiệp xấu,
chúng ta sẽ tích lũy công đức lành.
Thứ
hai, do bị kẻ khác hãm hại mà tôi có dịp hành hạnh nhẫn
nhục, rồi nhờ đó tích lũy được nghiệp lành, thì có phải
kẻ xấu cũng sẽ tích lũy nghiệp lành chăng? Ngài Tịch Thiên
đáp rằng điều này không thể xảy ra vì chỉ có người
hành hạnh nhẫn nhục mới gặt quả báo lành.
51.
Tuy nhiên, nếu tôi trả thù thì cũng không giúp họ. Làm như
thế phạm hạnh nhẫn nhục sẽ suy tổn.
Ngài
Tịch Thiên bảo rằng nếu chúng ta trả thù vì họ hãm hại
mình, thì hành động đó thật vô ích và tai hại cho mình
và người; nghĩa là hành động đó sẽ làm suy giảm tâm Bồ
Đề và lực nhẫn nhục đã được gầy dựng.
Khi
bị kẻ khác hãm hại, nếu thay vì phản ứng tích cực bằng
hạnh nhẫn nhục nhưng chúng ta trả thù họ, thì sẽ tạo
ra mối thù truyền kiếp. Vì bị trả thù, họ cũng sẽ trả
thù lại, rồi chúng ta lại trả thù tiếp; mối thù đó cứ
mãi xoay vần. Ở cấp độ cộng đồng, sự trả thù cứ mãi
xoay vần liên tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kết
quả, cả hai bên đều chịu khổ đau và đánh mất ý nghĩa
của cuộc sống. Điển hình, trong các trại tị nạn, sự
thù hằn phát sanh từ lúc ấu niên; có người cho rằng sự
thù hận rất lợi cho quyền lợi quốc gia. Tuy nhiên, tôi thiết
nghĩ đó là điều thiển cận xấu xa.
Chúng
ta đã bàn về cách phản ứng tích cực qua hạnh nhẫn nhục
khi bị kẻ khác hãm hại. Tuy vậy, chớ hiểu lầm và nghĩ
rằng ngài Tịch Thiên bảo chúng ta phải xuôi tay chấp nhận
bất cứ điều gì xảy đến.
Điều
này phù hợp với một trong những cách hành hạnh bố thí.
Theo hạnh Bồ Tát, phải phát triển hạnh bố thí đến mức
độ rằng nếu cần thiết, Bồ Tát vẫn sẳn sàng hy sinh cả
thân mạng. Tuy nhiên, về điểm này, điều quan trọng là phải
bén nhạy về yếu tố thời gian. Chớ hấp tấp làm, trước
khi phát triển đầy đủ năng lực, chứng ng?, v.v... trên bước
đường tu tập. Việc nhạy bén về thời gian rất quan trọng,
vì liên quan đến những điều đã bàn: Chớ hy sinh hay xả
bỏ những việc hệ trọng vì mục tiêu nhỏ nhặt. Dĩ nhiên,
ngài Tịch Thiên không khuyến khích hành giả tu tâm Bồ Đề
rằng chỉ việc bó tay chấp nhận mọi sự hãm hại của kẻ
xấu. Ngược lại, nếu cần thiết, điều hay nhất và thông
minh nhất là chỉ việc lánh xa vài dặm!
Lý
do tôi nói rằng việc nhạy bén về thời gian tùy theo sự
chứng ngộ rất quan trọng là vì trong kinh điển có những
mẫu chuyện về các đại hành giả xả thân vì người. Điển
hình, một trong những đời tiền kiếp của Phật Thích Ca
Mâu Ni (giữa các câu truyện tiền kiếp), Ngài sẳn sàng chấp
nhận xả thân như để bị chặt cắt chân tay, v.v... Thay vì
lẫn tránh, Ngài lại trực diện với những tình huống đó.
Hành được những hạnh như thế, chỉ có những đại hành
giả chứng ngộ cao siêu mới hành được như thế, vì biết
rõ rằng nhờ vậy mà có thể thành tựu mục đích vĩ đại.
Những
ví dụ đó trình bày yếu điểm là khi tu hành, chúng ta phải
cân nhắc về hoàn cảnh, hậu quả xa gần, và sự lợi hại.
Nói
chung, Tạng Luật (trình bày giới luật của tăng ni) có xu
hướng ít linh động hơn lập trường Đại Thừa về vấn
đề luân lý (giới luật). Dù là vậy, khi dạy những giới
luật phổ cập, đức Phật cũng đưa ra các trường hợp ngoại
lệ; cũng hành vi đó nhưng trong trường hợp mới lại được
chấp nhận. Ngoài ra, Ngài dạy những giới luật cần yếu
khác nhau mà các đệ tử phải y theo. Lại nữa, trong vài trường
hợp đặc biệt không cần chấp nê vào giới luật, Ngài cho
phép vài cá nhân hưởng đôi điều ngoại lệ. Nghĩa là, dù
giới luật ít uyển chuyển, nhưng vẫn nhạy cảm về tình
huống bối cảnh.
Đã
bàn về cách phản ứng và đối phó thích đáng khi bị hại.
Trong các bài kệ kế tiếp, ngài Tịch Thiên bàn về cách xử
sự khi tinh thần bị tổn thương như lúc bị sỉ nhục.
52.
Vì tâm không phải là vật thể, nên nào ai hủy diệt được
nó. Tuy nhiên, vì đắm chấp xác thân, nên nó cũng đau đớn
cùng lúc với xác thân.
53.
Những lời khinh khi, nhục mạ, và thô lỗ nào hại gì đến
xác thân, thì tại sao tâm lại quá sân hận?
Trong
hai bài kệ này, ngài Tịch Thiên nhắc nhở rằng tâm không
phải là vật thể; Ngài cũng bàn về sự tương quan giữa
thân và tâm. Ngài lại hỏi rằng trong trường hợp bị khinh
khi, nhục mạ, mắng chửi, v.v... thân thể không trực tiếp
bị tổn hại, nhưng tại sao tâm lại nóng giận kẻ thốt
ra những lời đó?
54.
Tại sao không muốn bị ganh ghét dù việc đó nào hại mình
trong hiện tại và tương lai?
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên dự đoán sự biện hộ rằng dù thân
thể không bị hại trực tiếp vì những lời mắng chửi khinh
khi, nhưng chúng sẽ khiến cho những người khác ghét tôi;
thế nên, tôi phải tức giận những lời lẽ đó. Ngài Tịch
Thiên biện luận rằng không đáng gì để tức giận, vì nếu
người khác ghét tôi, thì điều này nào khiến tôi bị đọa
lạc trong hiện đời và tương lai. Ngược lại, nếu phản
ứng sân hận bất bình về những lời lẽ đó, thì kết quả
cuối cùng là chính mình sẽ chịu thua thiệt vì điều đó
hủy diệt nội tâm an lạc.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên không đề nghị rằng phải gạt bỏ
ý kiến hay bất cần sự suy nghĩ của người khác. Phải hiểu
rõ những điều mà ngài Tịch Thiên khuyên nhủ chúng ta thực
hành. Trong quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh, ngài Tịch Thiên
nói một câu rằng dù đến chỗ mới lạ nào, phải hòa nhập
với cuộc sống của người dân bản xứ để làm họ vui
lòng. Vì có mang hạnh phúc đến cho người, chúng ta mới có
dịp phục vụ họ chu toàn hơn. Đây là một hạnh quan trọng
của Bồ Tát. Thế nên, chớ hiểu lầm mà nghĩ rằng ngài
Tịch Thiên đề nghị chúng ta không đếm xỉa gì đến người
khác. Tuy nhiên, phải đơn giản hóa; nghĩa là để không nổi
lửa sân vì bị nhục mạ khinh khi, v.v..., chúng ta phải suy
nghĩ như thế. Tuy vậy, đây chỉ là một vấn đề đặc biệt.
55.
Vì điều này (bị nhục mạ khinh khi) sẽ cản trở sự thành
công trong cuộc đời. Tuy nhiên, dù không muốn, cuối cùng
tôi vẫn phải để lại sau lưng sự nghiệp thế gian, và mãi
mãi gánh lấy những nghiệp xấu.
Trong
bài kệ này, ngài Tịch Thiên dự đoán thêm một điều biện
hộ rằng có thể cảm thấy công bình khi trả thù những kẻ
chửi mắng, nói xấu, khinh khi chúng ta, vì những lời lẽ
đó sẽ cản trở sự thành công ở thế gian. Ngài Tịch Thiên
bảo rằng trả thù kẻ chửi mắng khinh khi chúng ta là điều
vô lý. Dù những lời lẽ đó có cản trở sự thành công
lợi lạc ở hiện thế, nhưng cuối cuộc đời, chúng ta cũng
phải để chúng lại sau lưng, nên chớ xem trọng chúng. Bất
bình tức giận rồi tạo nghiệp vì những lời sỉ nhục khinh
khi của người khác, thì mình phải gánh lấy những nghiệp
xấu đó đến đời vị lai.
56.
Do đó, thà chết sớm, còn hơn sống tạo tội. Dù ai có thích
tôi được sống lâu, nhưng tử thần nào để tôi yên.
57.
Giả sử có hai người vừa tỉnh giấc mộng hưởng thú vui
trong trăm năm và trong giây lát.
58.
Niềm vui của họ đều tan biến. Cũng vậy, dù được trường
thọ hay bị đoản thọ, vào lúc lâm chung thọ mạng đều
kết thúc giống nhau.
59.
Dù sống hưởng giàu sang phú quý, nhưng tôi vẫn phải ra đi
với đôi tay trắng như bị tước đoạt tất cả.
Trong
những bài kệ trên, ngài Tịch Thiên nói rằng thà chết sớm
còn hơn sống thành công nhờ tà nghiệp bất chánh, vì sớm
muộn gì cũng sẽ chết và bỏ lại những tài sản đó, nhưng
mãi mãi mang theo nghiệp xấu cho đến đời tương lai. Mặt
khác, lúc vừa qua đời, niềm sung sướng tạm thời nhờ sống
thành công bằng tà nghiệp bất chánh, dù có hưởng lâu đến
đâu, sẽ chỉ là điều vô nghĩa in trong tâm thức, vì giống
như giấc mơ đêm qua. Sự hưởng thụ như thế hay chỉ trong
khoảnh khắc nào có khác chi! Một khi đã trôi qua, thì chúng
chỉ giống như giấc mộng đêm hôm.
60.
Điều chắc chắn là tài sản vật chất sẽ giúp tôi sống
và tránh ác làm lành. Tuy nhiên, nếu tôi tức giận vì bị
cản trở, thì công đức sẽ bị tan mất và nghiệp xấu tăng
trưởng chăng?
61.
Nếu chỉ muốn thành tựu vật chất mà sống tạo nghiệp
xấu thì có ích chi, vì sẽ khiến công đức trong hiện đời
bị giảm mất?
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên dự đoán có một cách trả lời rằng
ai đó có thể suy nghĩ: 'Điều chắc chắn là nhờ tích tũy
của cải mà tôi được sống thoải mái và có cơ hội làm
lành tích phước. Vì vậy, chắc chắn rằng trả thù những
ai cản trở tôi tích lũy tài sản là việc rất công bình'.
Ngài
Tịch Thiên bảo rằng nghĩ như thế cũng chưa đúng. Việc
nhờ có tài sản mà có cơ hội làm lành tích phước, và việc
tạo nghiệp xấu do trả thù kẻ chửi mắng nhục mạ, v.v...
không thể so sánh với nhau, vì tạo nghiệp xấu thì nhiều,
còn tạo nghiệp lành thì ít. Vì thế, không thể biện hộ
cho sự trả thù những lời sỉ nhục khinh khi của người
khác.
62.
Chắc chắn, tôi sẽ tức giận những ai nói lời lẽ xấu
xa khiến giảm niềm tin của những người khác (với tôi).
Tuy nhiên, tại sao tôi không tức giận với những người nói
lời lẽ xấu xa với những kẻ khác?
63.
Nếu có thể kiên nhẫn chấp nhận việc mất niềm tin vì
có liên hệ đến kẻ khác, thì tại sao tôi không kiên nhẫn
với những lời lẽ xấu xa (nói về tôi), vì chúng đồng
phát sanh từ phiền não?
Ngài
Tịch Thiên lại dự đoán thêm một lời biện hộ nữa bằng
cách bảo rằng có người sẽ nói: 'Chắc chắn, khi ai chửi
mắng, khinh khi, nói xấu tôi, tức giận họ là điều thích
đáng, vì những lời này sẽ khiến cho người khác mất niềm
tin vào tôi'.
Ngài
Tịch Thiên biện luận rằng nếu là lời biện minh thích đáng
thì tại sao không tức giận những ai nói xấu về người
thứ ba? Chúng ta có thể đáp: 'Khi có ai chửi mắng người
thứ ba, thì nào có liên quan gì với tôi'.
Thiền
quán.
Trong
lần thiền quán này, chúng ta hãy hành thiền quán tưởng kẻ
đáng ghét như thường gây rắc rối phiền muộn cho mình.
Lúc ấy, trong tâm trí, hãy để phản ứng nổi lên tự nhiên.
Hãy xem trong vòng ba bốn phút, việc đó có khiến mạch tim
đập nhanh chăng, có nhiều cảm giác khó chịu hơn an lạc
chăng? Kế đến, vào phút cuối, nên hiểu rằng thật vô ích
nếu phải gánh phiền não, mất an lạc. Thế nên phải tự
bảo: 'Trong tương lai, tôi sẽ không bao giờ làm như thế'.
Phát
tâm như thế rồi nhẹ nhàng nhập vào thiền định.
Hỏi:
Ngoài việc quán chiếu về khổ đau cá nhân, phải tu tập
pháp nào để dẹp trừ tâm ngã mạn?
Đáp:
Theo đạo Phật, để đối trị tâm ngã mạn, nên quán chiếu
và thực nghiệm những cách tu hành khác nhau y theo kinh điển;
nghĩa là dung trí huệ để điều phục ngã mạn. Trong nền
giáo dục hiện đại cũng có nhiều quy chế khác nhau.
Hỏi:
Hạnh hỷ xả đóng vai trò hỗ trợ cho hạnh nhẫn nhục ra
sao?
Đáp:
Hỷ xả là kết quả hay sản phẩm cuối cùng của hạnh nhẫn
nhục. Khi thật sự hành hạnh nhẫn nhục, hỷ xả sẽ tự
nhiên đến. Thế nên, chúng liên hệ mật thiết với nhau.
Hỏi:
Vai trò của phụ nữ trong đạo Phật như thế nào? Chúng tôi
đã từng nghe nhiều thành kiến lố bịch cùng những hành
vi lố lăng đối với phụ nữ trong đạo Phật và các tôn
giáo khác. Kinh điển nhà Phật hầu như bàn theo quan điểm
của phái nam. Về mặt xã hội và thể chất, phái nữ dường
như có những tiêu chuẩn khác biệt. Có pháp môn hay kinh điển
đặc biệt nào giúp cư sĩ nữ và ni chúng vượt qua chướng
ngại trên bước đường tu tập? Cuộc sống tu hành của ni
chúng khác tăng chúng ra sao?
Đáp:
Thật ra, hầu hết các vị cao tăng đại đức người Ấn
có ảnh hưởng đến tư tưởng của nền Phật học Ấn Độ
và Tây Tạng đều là phái nam, nên những trước tác của
các ngài chủ yếu phản ảnh quan điểm của phái nam.
Điểm
thứ hai phức tạp đôi chút. Về giới luật, đức Phật ban
cho nam và nữ những cơ hội tu hành bình đẳng, như trong Giới
Kinh có những tiêu chuẩn thọ giới cụ túc dành cho hai phái.
Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ vì tập quán trọng nam khinh nữ,
Tỳ Kheo được kính trọng hơn Tỳ Kheo Ni. Về khía cạnh đó,
có phần kỳ thị đôi chút.
Tuy
nhiên, hành giả nam và nữ đều bình đẳng hành hạnh Bồ
Tát và phát mật nguyện. Tuy vậy, có những bộ kinh cả quyết
rằng để thành Phật, Bồ Tát phải thị hiện hình tướng
phái nam.
Theo
quan điểm của Mật Pháp Vô Thượng Du Già, dù hành giả nam
hay nữ, ai ai cũng có cơ hội bình đẳng đắc đạo giác ngộ
viên mãn. Thế nên, ở đây không có sự phân biệt hay kỳ
thị. Tuy nhiên, dường như Mật pháp Vô Thượng Du Già đặc
biệt chú ý về nữ quyền vì giới cấm khinh khi nữ giới
là một trong những giới trọng của Mật pháp. Tôi nghĩ rằng
vì xã hội có thành kiến với phái nữ, nên mới có giới
đó; nghĩa là đặc biệt quan tâm về thanh danh và quyền lợi
của phụ nữ.
Ngược
lại, cấm khinh khi phái nam không phải là giới trọng. Điều
này cho thấy rằng phải đặc biệt lưu tâm đến phái nữ.
Vì thế, tôi thiết nghĩ trên căn bản, mọi người đều có
quyền bình đẳng. Tuy nhiên, do phong tục tập quán nên mới
tạo ra mối họa chèn ép khinh khi phụ nữ. Nếu nhìn việc
này theo quan điểm Bồ Tát đạo, tôi thiết nghĩ thật hoàn
toàn bình đẳng.
Theo
Phật giáo Tây Tạng, Bổn Tôn Tara vốn là một trong các nữ
Bổn Tôn có oai lực mạnh nhất. Theo truyền thuyết, do nhận
thấy đa phần Bồ Tát vừa phát tâm, đang phát tâm, và đã
thành Phật đều thị hiện hình tướng nam, nên Bổn Tôn Tara
phát nguyện rằng sẽ giữ hình tướng nữ từ lúc phát tâm
Bồ Đề cho đến ngày thành Phật.
Hỏi:
Xin Ngài bàn luận về vấn đề 'Tự Hận' và phương pháp
của Phật giáo làm dịu bớt vấn đề đó.
Đáp:
Thật ra, tôi rất ng?c nhiên bỡ ngỡ khi nghe và chạm mặt
với khái niệm 'Tự Hận'. Tôi nhận thấy Phật tử chúng
ta tinh tấn tu hành để điều phục bản ngã, tâm niệm ích
kỷ, mà lại tự hận hay tự khinh, thì là việc ngoài sức
tưởng tượng. Theo đạo Phật, nếu sống với tâm trạng
chán nản não nề thì đó là tâm trạng tiêu cực thái quá.
Tự hận lại còn thái quá so với tâm trạng chán nản não
nề, nên nó thật rất nguy hiểm.
Để
tránh tâm trạng này, phải: Chấp nhận hay tin tưởng rằng
mọi chúng sanh (mà đặc biệt là con người) đều có Phật
tánh. Ai ai cũng có khả năng thành Phật trong tương lai. Thật
vậy, ngài Tịch Thiên nhấn mạnh rất nhiều về điểm này
trong quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh; Ngài bảo rằng ngay cả
những chúng sanh yếu hèn như ong, ruồi, và côn trùng đều
có Phật tánh. Nếu phát tâm tu đạo, chúng có khả năng thành
Phật. Thế thì tại sao một con người như tôi có trí thông
minh và có đầy đủ các căn, nếu phát tâm tu hành, lại không
thành Phật? Trong quyển luận Vô Thượng Bổn Tích, ngài Di
Lặc trình bày quan điểm đạo Phật dựa vào triết lý Phật
tánh: Dù có nghèo hèn yếu kém đến đâu, chúng sanh vẫn không
bao giờ đánh mất Phật tánh của họ. Hạt giống thành Phật
luôn luôn còn đó.
Về
việc tự hận hay tự khinh, tạm thời chớ suy nghĩ nhiều
về bản chất khổ đau bất như ý của vòng luân hồi, mà
phải nhìn nhiều khía cạnh tích cực của nó như có chánh
kiến về tiềm năng và cơ hội sẳn có của mình. Kinh điển
trình bày mọi phẩm hạnh sẳn có của một thánh nhân trong
vòng luân hồi. Quán chiếu như thế sẽ tăng trưởng giá trị
nhân phẩm và niềm tự tín.
Lại
nữa, phải dùng phương tiện thiện xảo để phù hợp căn
tánh, và ý thích của mình. Ví dụ, giả sử anh A muốn anh
B đi từ làng này đến làng khác xa xôi hơn, nhưng anh lại
B hơi nhát gan. Nếu anh A kể những sự khó khăn, thì anh B
có thể cảm thấy chán nản, thất vọng: 'Anh ơi! Tôi sẽ
không bao giờ đến vùng đó được'.
Tuy
nhiên, anh A có thể đạt được mục đích qua việc dùng phương
tiện thiện xảo bằng cách chỉ dẫn anh B từng bước: 'Này
Bạn! Chúng ta hãy đi đến thôn làng này', rồi lại bảo:
'Bạn ơi! Chúng ta hãy đi qua làng khác'.
Thêm
một ví dụ điển hình khác; về học vấn, dù mục đích
là vào đại học để có trình độ học vấn cao, nhưng chúng
ta không thể bắt đầu ngay điểm đó mà phải khởi đầu
học vần mẫu tự từ cấp mẫu giáo, v.v... Khi tiến bộ thì
sẽ bước lên cấp kế tiếp, v.v..., rồi đến bậc tiến
sĩ. Cũng vậy, lúc tu đạo, phải hành trì pháp môn thích hợp
với điều kiện hiện tại. Điển hình, do có phiền não khác
nhau như tham lam, sân hận, ngu si, yến hèn, v.v..., phải tu hành
những pháp môn thích hợp để đối trị chúng. Trong quyển
Tứ Bách Kệ Luận (luận về Bốn Trăm Bài Kệ), ngài Thánh
Đề Bà bàn rất rộng về cách dẫn dắt đệ tử tu tập
là phải tùy theo căn tánh của họ.
Vào
thời đức Phật, có một ông vua phạm tội ngũ nghịch giết
cha, rồi bị ám ảnh vì tội lỗi đó, nên rất sầu não.
Khi đến thăm ông ta, đức Phật dạy rằng phải giết cha
mẹ, nhưng không phải là cha mẹ thật. Ngài dùng cha mẹ như
một ẩn dụ về nghiệp lực và tham ái dẫn dắt tái sanh.
Vì chúng kết hợp với nhau khiến có tái sanh, nên theo vài
khía cạnh, chúng giống như cha mẹ. Vì vậy, Ngài dạy phải
giết cha mẹ, tức là phải tẩy trừ nghiệp lực và tham dục.
Mỗi
hành giả chúng ta phải khéo léo hiểu sâu sắc những lời
dạy của đức Phật trong kinh điển mà dường như đôi khi
Ngài chấp nhận lý thuyết bản ngã.
Hỏi:
Làm sao nhận ra bản chất khổ đau của cõi Ta Bà để phát
tâm xả ly chân chánh? Phải chăng nhờ khổ đau hay nhờ nhận
ra nó mới thúc đẩy sự phát tâm xả ly?
Đáp:
Chỉ nhận thức khổ đau chưa đủ bảo đảm phát tâm xả
ly chân chánh. Cần hiểu sâu sắc về nguyên nhân dẫn đến
khổ đau. Nhờ kết hợp hai sự nhận thức như thế mới phát
tâm xả ly chân chánh.
Kinh
điển dạy rằng giữa ba loại khổ như Khổ Khổ, Hoại Khổ,
Hành Khổ, thì ngay cả loài vật cũng có xu hướng muốn tránh
Khổ Khổ. Điều này chưa được gọi là hạnh xả ly chân
thật vì chỉ có khuynh hướng muốn giải thoát mà thôi.
Ngoại
đạo cũng có thể nhập thiền định để thẩm thấu và phát
nguyện giải thoát khỏi Hoại Khổ. Song, theo đạo Phật, đây
chưa phải là nghĩa của hạnh xả ly chân thật. Phải phát
hạnh xả ly chân chánh liên quan đến loại khổ thứ ba; nghĩa
là nhận ra bản chất bất như ý của vòng luân hồi, tức
là Hành Khổ, dựa vào chánh kiến biết cái 'Ta' giả tạm
là sản phẩm của nghiệp và vô minh. Được như thế, chúng
ta thật sự nhìn đến tận gốc.
Do
nhiều duyên chi phối, bản chất thường hằng thay đổi của
các pháp được biểu lộ qua việc thiếu khả năng chịu đựng,
tự chủ, độc lập của chúng ta. Về các căn, nhân duyên
chi phối chúng chính là nghiệp lực và vô minh. Có thể tìm
ra bản chất khổ đau bất như ý của các căn qua việc hiểu
rõ hạt giống tiêu cực của chúng, rồi dẫn đến ước muốn
chân thật cầu giải thoát. Đó là hạnh xả ly chân thật.
Tôi thiết nghĩ, để phát khởi hạnh xả ly chân chánh, mỗi
cá nhân phải có chánh kiến về khả năng giải thoát, tức
là khả năng chứng đắc Niết Bàn, nếu không thì đức Phật
đâu cần thuyết Bốn Thánh Đế, mà Ngài chỉ dạy đơn sơ
về điều này: Chỉ quán chiếu bản chất của khổ đau. Tuy
nhiên, về việc đó, phải nhớ rằng chúng ta có thể hiểu
nó theo nhiều cách. Điển hình, theo quan điểm rốt ráo, bản
chất hiện thực của khổ đau vốn là không, nhưng vấn đề
này không nằm trong phạm vi phát tâm xả ly, mà chỉ nằm trong
phạm vi thế tục đế.
Hỏi:
Vai trò của lòng từ bi ra sao, nếu mục đích tu hành là tẩy
trừ vọng tình? Lòng từ bi có phải là một vọng tình chăng?
Đáp:
Xin hãy lắng nghe những lời thảo luận giữa tôi và các nhà
khoa học. Khi ấy, chúng tôi thảo luận cách làm sao định
nghĩa vọng tình. Cuối cùng, chúng tôi đều đồng ý rằng
ngay cả cảnh giới Phật quả cũng được gọi là tâm tình.
Thế nên, theo quan điểm đó, có thể xác quyết rằng lòng
từ bi cũng là một loại tâm tình.
Tâm
tình không hẳn là tiêu cực. Trong đó có tâm tình tích cực
(tốt) và tâm tình tiêu cực (xấu). Vì thế, việc nên làm
là phải tẩy trừ tâm tình tiêu cực.
Hỏi:
Tôi là linh mục, một tín đồ Cơ Đốc giáo thuần thành;
vậy có thể thọ giới của đạo Phật được chăng? Theo
sự hiểu biết cá nhân, dường như giữa đạo Phật và đạo
Cơ Đốc có nhiều điểm tương đồng; điều này cho phép
việc chấp nhận và hành trì cả hai tôn giáo vì hai tôn giáo
này đều hướng về ánh sáng, con đường chân lý, tình thương,
và giải thoát. Một trong những vị thầy của tôi, mục sư
Cơ Đốc giáo Thomas Merton, cũng là một hành giả Phật tử.
Đáp:
Dĩ nhiên, có nhiều điểm tương đồng giữa tất cả truyền
thống tôn giáo chính thống trên thế giới. Do đó, tôi tin
tưởng rằng điều rất tốt là vào lúc đầu, có thể song
hành đạo Phật và đạo Cơ Đốc, hay các tôn giáo khác.
Tuy
vậy, muốn tiến bước hành trì thâm sâu thì sẽ vấp phải
nhiều vấn đề. Vì điều đó tương tự như sự học vấn;
nếu muốn trở thành chuyên gia, phải chọn lựa một ngành
nghề đặc biệt. Theo đạo Phật, khi đạt đến cảnh giới
nào đó, việc chứng ngộ tánh Không là một trong những chìa
khóa nhập đạo. Tôi thiết nghĩ, khái niệm về tánh Không
và khái niệm về một đấng tạo hóa tuyệt đối thật khó
lòng dung hòa. Đối với hành giả đạo Cơ Đốc, theo truyền
thống, khái niệm về đấng sáng tạo và việc chấp nhận
vị đó như thần thánh vốn là nhân tố rất quan trọng để
phát triển sự khắc chế, lòng từ bi, tha thứ, và để tăng
trưởng mối liên hệ mật thiết. Ngoài ra, khi Thượng Đế
được xem như một vị thần có quyền năng tuyệt đối, thì
khó lòng hiểu về khái niệm 'Muôn pháp vốn tương đối'.
Tuy nhiên, nếu hiểu về Thượng Đế trong phạm trù của một
bản thể rốt ráo chân thật hay chân lý cứu cánh, thì có
thể có giải pháp đồng nhất. Kế đến, nếu cố gắng diễn
dịch mới mẻ về khái niệm Cha, Con, Thánh Thần, tôi thiết
nghĩ điều này có thể được so sánh với ba thân như Báo
Thân, Ứng Thân, Pháp Thân của đức Phật. Tuy vậy, một khi
bắt đầu diễn dịch ba ngôi như thế theo phạm trù của giáo
lý ba thân, thì sự hành trì đó có thật sự vẫn giữ theo
truyền thống của đạo Cơ Đốc hay không, đó là điều đáng
ngờ vực.
Tôi
thiết nghĩ tín ngưỡng cá nhân phải dựa vào căn tánh của
đương sự. Vì thế, tôi nói với nhiều người rằng là tăng
sĩ Phật giáo, tôi nhận thấy đạo Phật phù hợp nhất đối
với mình. Điều này không có nghĩa rằng đạo Phật là tôn
giáo hợp với mọi người. Đối với những người khác,
các tôn giáo dựa vào lý thuyết đấng tạo hóa như đạo
Cơ Đốc, đạo Hồi, đạo Do Thái thì thích hơn. Do đó, phải
theo tín ngưỡng phù hợp với căn tánh cá nhân.
Ngoài
ra, tôi luôn cố gắng giải thích và nhắc nhở rõ ràng là
việc thay đổi tôn giáo không phải là điều dễ dàng. Điển
hình, ở xứ Tây Phương, hầu hết truyền thống văn hóa và
gia đình của quý vị đều theo đạo Cơ Đốc. Dĩ nhiên, đối
với những ai đang theo lý thuyết vô thần, thì việc hướng
về đạo Phật không thành vấn đề. Điều này rất tốt,
vì thà theo đạo Phật còn hơn theo chủ nghĩa vô thần. Thông
thường, tôi gọi họ là 'vô thần cực đoan' vì đôi khi đạo
Phật và chủ nghĩa vô thần cũng có vài quan điểm tương
đồng. Nói chung, tốt nhất là nên giữ mình 'vô thần cực
đoan'. Song, đ?i với những ai cảm thấy có tôn giáo thích
hợp cho tín ngưỡng cá nhân, thì họ nên đắng đo vấn đề
thay đổi tôn giáo. Tổng quát, tôi thiết nghĩ điều hay nhất
là nên giữ truyền thống tôn giáo của mình. Chắc chắn,
quý vị có thể ứng dụng theo vài pháp môn của đạo Phật
để phát triển hạnh nhẫn nhục, từ bi, hỷ xả, v.v..., mà
không cần chấp nhận thuyết tái sanh hay những triết lý phức
tạp.
Ngoài
ra, tôi nghĩ rằng một điểm quan trọng là có các huynh đệ
Cơ Đốc giáo thích thú pháp thiền. Tôi nhận thấy trong giáo
lý Cơ Đốc Hy Lạp chánh thống gọi đó là 'Thuyết bí tích'.
Dĩ nhiên, có những điểm quý vị có thể chấp nhận. Ngược
lại, nếu vội vàng thay đổi tôn giáo, thì sau này quý vị
có thể gặp chướng ngại rối rắm. Do đó, hãy thận trọng.
Phải nhớ rằng một khi thay đổi tín ngư?ng cá nhân, xu hướng
tự nhiên thông thường là phê bình tín ngưỡng xưa để biện
hộ cho việc chấp nhận tín ngưỡng mới. Điều này rất
nguy hiểm. Dẫu tín ngưỡng xưa có thể không phù hợp cho
cá nhân, nhưng hàng triệu người khác lại được lợi ích.
Vì vậy, chúng ta phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng
lẫn nhau; nghĩa là phải tôn trọng tôn giáo ban niềm tin và
cảm ứng cho hàng triệu người khác. Ngoài ra, còn có rất
nhiều lý do để hành việc đó.