Ngày thứ
nhất. Buổi thứ hai.
Khi
bàn về tình bạn, nói chung chúng ta phân biệt hai loại. Tình
bạn dựa vào sự giàu sang, thế lực, quyền uy, v.v... chẳng
phải là tình bạn chân thật. Trong những trường hợp đó,
tình bạn được duy trì nếu nền tảng như sự giàu sang,
thế lực, vẫn còn hiện hữu. Tuy nhiên, một khi những nền
tảng đó tan mất, tình bạn sẽ bắt đầu phai dần.
Nguợc
lại, tình bạn chân thật dựa vào tình người chân thật
hay cảm giác thân thiết nhờ qua lại chia xẻ. Tôi gọi đây
là tình bạn chân thật vì dẫu sự giàu sang, quyền thế,
danh vọng của cá nhân có tăng hay giảm, chúng không ảnh hưởng
đến tình bạn đó. Yếu tố duy trì tình bạn đó là hai người
có thiện ý và cảm thông lẫn nhau hay chăng. Nếu thiếu điều
đó, thì sẽ không thể duy trì được tình bạn.
4.
Vị thầy có tâm sân hận sẽ gặp sự đe dọa bị giết bởi
những người vốn có tài sản và hạnh phúc dựa vào lòng
từ bi của vị đó.
5.
Vì việc này, bạn bè và quyến thuộc thất vọng; dù được
bố thí, nhưng họ sẽ không tin tôi. Tóm lại, không ai sống
hạnh phúc với sân hận.
6.
Kẻ thù sân hận tạo khổ đau như thế. Tuy nhiên, bất cứ
ai tinh tấn điều phục sân hận, sẽ tìm được niềm hạnh
phúc trong hiện tại và mai sau.
Bài
kệ thứ sáu trình bày giá trị và sự lợi lạc của hạnh
nhẫn nhục. Càng quán chiếu rõ về hậu quả tai hại của
sân hận cùng hiệu quả ích lợi của hạnh nhẫn nhục, chúng
ta càng có khả năng phát triển sự nhận thức tinh tường
về chúng, và càng cẩn thận tránh xa tâm sân hận đó. Nhờ
thế, chúng ta sẽ phát triển duyên lành với hạnh nhẫn nhục.
Điều này sẽ có ý nghĩa tác động mạnh mẽ vào tâm niệm.
Niềm hăng hái hỗ trợ khả năng nhẫn nhục của cá nhân
sẽ tăng trưởng cũng như việc thực hành hạnh nhẫn nhục
cũng tăng gia.
Một
khi đã phát triển mức độ tu hành tinh tấn mãnh liệt, chúng
ta phải thực sự hành trì để hỗ trợ hạnh nhẫn nhục.
Cách nên làm là trước nhất phải tìm xem nhân duyên phát
sanh sân hận. Điều này phù hợp với giải pháp chung của
đạo Phật về việc đối phó với những vấn đề và hoàn
cảnh khó khăn.
Điển
hình, đạo Phật chấp nhận luật nhân quả như định luật
tự nhiên; khi trực diện với hiện thực, chúng ta phải theo
luật nhân quả. Ví dụ, trong kinh nghiệm sống hằng ngày,
nếu có điều gì mà chúng ta không muốn nó phát sanh, cách
hay nhất là chúng ta phải chắc chắn ngăn ngừa nhân duyên
phát sanh ra nó. Cũng vậy, nếu muốn được điều gì, điều
lô gích phải làm là tạo và tích lũy nhân duyên để nó phát
sanh.
Đối
với tâm niệm và kinh nghiệm cũng như thế. Nếu muốn có
một kinh nghiệm đặc thù, chúng ta phải tạo nhân lành để
giúp nó phát sanh. Nếu không muốn gặp khổ, phải đảm bảo
rằng nhân duyên sanh khổ không còn.
Nhận
thức đúng đắn về luật nhân quả rất quan trọng. Đã phát
nguyện giảm bớt và điều phục sân hận, rồi đứng đó
cầu mong nó không phát sanh hay tiêu mất, thì điều này sẽ
không bao giờ xảy ra. Ngoài ra, nếu cố vùng vẫy đôi chút
khi sân hận đã phát sanh, thì dường như chẳng có hiệu quả
nhiều cho lắm, vì ngay lúc đó tâm đã bị lửa sân khống
chế. Khi đó, nếu cố ngăn ngừa sân hận phát sanh là điều
ngu si, vì đã không thể tự kềm chế.
Thế
nên, cách hay nhất là đầu tiên phải nhận ra những nhân
duyên châm ngòi lửa sân.
7.
Đã biết nhiên liệu của tâm buồn bã; tâm đó cản trở
những gì tôi mong ước, và làm những gì tôi chẳng muốn;
lửa sân bốc cháy rồi thiêu đốt tôi.
Bài
kệ này thuyết rằng yếu tố cung cấp nhiên liệu cho sân
hận là tâm niệm buồn bã (theo cách diễn dịch này). Tuy nhiên,
tôi thiết nghĩ chữ 'bất mãn hay chẳng thỏa mãn' hay hơn.
Cảm giác bực bội bất mãn hay bất như ý vốn là nhiên liệu
châm ngòi sân hận. Nên cố gắng tìm cách ngăn ngừa nhiên
liệu bất mãn phát sanh. Nói chung, tâm bất mãn hay buồn bã
phát sanh khi chúng ta cảm thấy chính mình, hay người thân
yêu, hoặc bạn bè thân thiết bị đối xử bất công hoặc
bị đe dọa. Cũng vậy, khi bị ai cản trở bước đường
thành công, chúng ta cảm thấy bị chà đạp, nên mới tức
giận. Vì thế, giải pháp nơi đây là nhìn suốt cội gốc,
nhận định rõ nhân duyên chằng chịt và vòng xích lẫn quẩn,
bộc phát qua tâm tình vọng động như sân hận. Điều lý
tưởng là phải ngừa lửa sân từ lúc đầu, chứ không đợi
đến khi nó đã bốc cháy. Ví dụ, nếu muốn chặn một dòng
sông, cách hay nhất là tới đầu nguồn rồi làm những việc
cần thiết, như chuyển hướng chảy của nó, v.v...
8.
Do đó, tôi phải bỏ hết nhiên liệu của kẻ thù này, vì
nó chỉ có tác dụng gây hại.
Nơi
đây, 'kẻ thù' chính là nội thù truyền kiếp: Sân hận; không
những hủy hoại tâm an lạc thanh thản trong hiện thời, nó
còn ném chúng ta vào cảnh giới mê lầm, hoàn cảnh phức tạp,
vấn đề rắc rối.
Thế
nên, gây tổn hại, hủy diệt chúng ta trong hiện tại và tương
lai là chức năng duy nhất của lửa sân, kẻ nội thù.
Nó
khác với kẻ thù bình thường. Dù người mà chúng ta xem như
kẻ thù có thể làm những việc gây tổn hại cho chúng ta,
nhưng ít ra họ cũng có nhiều công việc khác như ăn uống,
ngủ nghỉ, nên không thể dùng hết hai mươi bốn giờ để
tính toán hãm hại chúng ta. Ngược lại, sân hận không có
chức năng hay mục đích nào khác hơn là hủy diệt chúng ta.
Nhận ra điểm này, hành giả chúng ta phải phát tâm không
bao giờ để cho kẻ thù sân hận có cơ may phát sanh.
Điều
có thể xảy ra là lúc đương đầu với sân hận, chúng ta
có thể suy nghĩ: 'Sân hận vốn là một phần của tâm niệm.
Tại sao phải đối phó nó?' Nơi đây, nên biết tâm niệm
con người không những phức tạp mà còn rất tinh xảo. Nó
có khả năng tìm nhiều cách để đương đ?u với những hoàn
cảnh khó khăn, cũng như chấp nhận những quan điểm khác
nhau.
Ví
dụ, trong quyển Hiện Quán Trang Nghiêm Luận có một phần
dạy cách thiền quán liên hệ đặc biệt với Thánh Đế thứ
nhất của Tứ Diệu Đế, tức là Khổ Đế; trong đó dạy
chúng ta quán sát thân thể này như kẻ thù, rồi đối thoại
với nó. Cũng vậy, trong phạm vi tu tâm Bồ Đề hỗ trợ tâm
niệm lợi tha, có một loại thiền quán đối thoại với tâm
ích kỷ; nghĩa là sự đối thoại giữa bản ngã hiện thân
bằng tâm ích kỷ và hành giả chính mình. Giống như thế,
dù sân hận là một phần của tâm niệm, nhưng chúng ta có
thể cố xem nó như đối tượng cần phải trực diện.
Ngoài
ra, trong kinh nghiệm sống hằng ngày, chúng ta thường thấy
mình đứng trong hoàn cảnh tự trách móc. Chúng ta bảo: 'Ồ
! Vào ngày này ngày nọ, tôi tự đánh mất nhuệ khí'. Kế
đến, chúng ta cảm thấy tức giận chính mình. Trong thực
tế, chẳng có hai bản ngã khác biệt, mà chỉ là dòng chuyển
biến tâm thức của một cá nhân. Tuy nhiên, tự phê bình dường
như đúng đắn. Nơi đó cũng có sự đối thoại. Đây là
điều mà tất cả chúng ta đều biết rõ xuyên qua kinh nghiệm
cá nhân. Dù trong hiện thực chỉ có một cá nhân với dòng
tâm thức chuyển biến liên tục, nhưng nơi đó lại có hai
quan điểm khác nhau. Khi bảo: 'Tôi sai lầm' và 'Điều này
chẳng đúng', thì chúng ta tự phê bình. Bản ngã làm việc
phê bình hành sự theo quan điểm của một thực thể khác
biệt; bản ngã bị phê bình là một thực thể đứng về
quan điểm thể nghiệm sự kiện nào đó. Vì vậy, chúng ta
thấy rằng mối liên hệ giữa bản ngã và bản ngã có thể
xảy ra.
Điều
lý thú nơi đây là nên quán chiếu về nhiều khía cạnh đa
dạng của đặc tính cá nhân. Chúng ta hãy lấy ví dụ về
một tăng sĩ Tây Tạng. Cá nhân đó có cảm giác đặc tánh
cá thể từ quan điểm làm tăng sĩ: 'Tôi là tăng sĩ'. Kế
đến, họ cũng có thể có thêm một giai tầng đặc tính cá
thể chẳng dựa nhiều về việc xem mình như tăng sĩ, mà dựa
vào nguồn gốc chủng tộc, tức là người Tây Tạng. Do đó,
họ có thể bảo: 'Tôi là người Tây Tạng'. Kế tiếp, tại
một giai tầng khác, họ cũng có thể có thêm một đặc tính
cá thể khác; nơi đó việc làm tăng sĩ và người Tây Tạng
có thể không đóng vai trò quan trọng. Họ có thể nghĩ: 'Tôi
là một con người'. Vì vậy, chúng ta thấy được nhiều quan
điểm khác nhau ngay trong đặc tính của mỗi cá nhân. Điều
này biểu lộ rằng theo khái niệm, khi gieo duyên với việc
gì, chúng ta có khả năng nhìn một hiện tượng từ nhiều
góc độ khác nhau, nhưng thông thường chúng ta thật rất chọn
lọc. Chúng ta chú trọng vào một góc độ và khía cạnh đặc
biệt của hiện tượng đó cùng chấp nhận một quan điểm
đặc biệt nào đó.
9.
Bất cứ điều gì xảy đến, tôi sẽ không để chúng quấy
nhiễu tâm an lạc; vì nếu để tâm buồn bã, tôi sẽ không
đạt thành tựu những gì mong muốn và công đức sẽ giảm
dần.
Bài
kệ này biểu lộ rằng hành giả tu nhẫn nhục chúng ta phải
phát nguyện 'dù có điều gì xảy đến, tôi cũng không để
chúng quấy nhiễu tâm an lạc'.
Tâm
an lạc tức là tâm tịch tĩnh thanh thản ngược với tâm bất
mãn buồn bã. Lý do tại sao phát nguyện chẳng bao giờ để
tâm an lạc bị quấy động, vì nếu bất mãn hay buồn bã,
chúng ta sẽ không thể đạt thành tựu những gì mong muốn.
Do đó, buồn bã là điều vô ích và tai hại, vì nếu đánh
mất tâm an lạc, lửa sân sẽ nổi bừng, khiến giảm bớt
công đức.
10.
Tại sao phải buồn vì điều gì, nếu điều đó có thể thay
đổi? Nếu không thể thay đổi hoàn cảnh, buồn bã về việc
đó có ích gì?
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên đưa ra một lý do khác để tránh tâm
niệm buồn bã; nếu có thể thay đổi hoàn cảnh hay bản chất
của vấn đề, thì không cần bực mình hay buồn bã về việc
đó. Ngược lại, nếu không thể thay đổi hay chẳng có khả
năng giải quyết vấn đề khó khăn đó, thì bực mình hay
buồn bã cũng vô ích.
Trong
bài kệ thứ muời một, ngài Tịch Thiên xác định yếu tố
thường phát sanh cảm giác bất mãn và tâm buồn bã.
11.
Vì cá nhân và bạn bè thân thuộc, tôi không muốn khổ đau,
không được cung kính, không muốn nghe lời thô lỗ, và bất
cứ điều gì vô vị. Tuy nhiên, đối với kẻ thù thì ngược
lại.
Điều
này giải thích về tám pháp thế gian [iii] . Nói chung, tâm
phàm phu vui khi gặp thuận cảnh, và buồn khi gặp nghịch cảnh.
Chúng ta cảm thấy vui khi được khen, và buồn khi bị mắng
chửi hay nói xấu. Cũng vậy, chúng ta cảm thấy sung sướng
khi được vật chất như ý, và buồn khi không được chúng.
Chúng ta cũng cảm thấy hãnh diện khi được nổi tiếng và
buồn khi bị tiếng xấu. Liên quan đến tám pháp thế gian,
như cá nhân, chúng ta cũng có cảm giác tương tự khi những
việc này xảy đến với bạn bè thân thuộc.
Tuy
nhiên, đối với kẻ thù của chúng ta thì điều này không
thể xảy ra. Nghĩa là, chúng ta tự nhiên cảm thấy buồn khổ
khi kẻ thù thành công hay nổi danh trong đời và mừng khi vận
may hay danh tiếng của họ bị sa sút.
Điều
này chứng tỏ rằng chúng ta có xu hướng tự nhiên không thích
khổ đau, buồn bã, và vấn đề rắc rối, mà chỉ mong cầu
hạnh phúc an lạc. Vì có liên quan đến khuynh hướng tự nhiên
phát khởi tâm bất mãn buồn bã, nên ngài Tịch Thiên nhấn
mạnh rằng phải cần thay đổi cách nhìn về khổ đau. Khổ
đau có thể không tệ hại như chúng ta thường suy nghĩ.
Do
đó, điều quan trọng là phải hiểu rõ quan điểm căn bản
của đạo Phật đối với toàn bộ câu hỏi về khổ đau.
Trong những lần thuyết giảng cho đại chúng, giáo pháp đầu
tiên mà đức Phật thuyết giảng là Tứ Diệu Đế; nó được
bắt đầu bằng Khổ Đế (chân lý khổ đau). Trong đó, đức
Phật nhấn mạnh rất nhiều về việc nhận ra bản chất khổ
đau của vòng luân hồi. Lý do tại sao việc quán chiếu về
bản chất khổ đau rất quan trọng, bởi vì có cách khác thoát
khỏi điều đó, tức là có khả năng giải thoát khỏi khổ
đau. Mặt khác, nếu không có hy vọng và không có khả năng
thoát khỏi khổ đau, quán chiếu về khổ đau sẽ là hình
thức suy nghĩ bịnh hoạn vì nó hoàn toàn tiêu cực.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên sách tấn chúng ta: Nếu muốn thoát khỏi
những nỗi khổ cùng cực trong tương lai, nên chấp nhận vài
quan điểm để có khả năng chịu khổ trong hiện tại, vì
mục đích cao thượng.
12.
Vui rất ít, nhưng khổ lại nhiều. Chẳng có khổ đau thì
không có hạnh xả ly. Do đó, tâm niệm ngươi phải kiên cố.
Chúng
ta nhận thấy rằng có nhiều nhân duyên gây đau khổ trong
cuộc đời, nhưng nhân duyên tạo hạnh phúc sung sướng lại
hiếm hoi. Dù muốn hay không muốn, khổ đau là sự thật tự
nhiên của cuộc sống, nên phải giữ mình hành hạnh nhẫn
nhục để chịu đựng chúng nhiều hơn. Chúng ta cũng nên giữ
tư thế hỗ trợ hạnh nhẫn nhục để tâm tư không bị khổ
quấy rầy. Nếu không thì cuộc đời chúng ta sẽ bị khốn
cùng. Điển hình, khi thấy ác mộng, chúng ta dường như cảm
thấy nó mãi mãi xảy ra vĩnh viễn. Cũng vậy, nếu không có
tâm nhẫn chịu khổ đau, cuộc đời của chúng ta sẽ càng
thống khổ.
Ví
dụ, nếu ai xuất thân từ hoàn cảnh sung sướng, đầy đủ
vật chất, họ có thể bị hư hỏng; thông thường, khả năng
chịu đựng khó khăn của họ rất yếu kém. Họ cũng không
thể giải quyết được ngay cả vấn đề nhỏ nhặt. Cố
bào huynh của tôi (Lobsang Samten) sống nhiều năm ở Mỹ; có
lần ông ta bảo tôi rằng nếu bị cúp điện trong thời gian
dài, thì có thể có nhiều người bị chết đói, vì con người
chịu lệ thuộc quá nhiều vào điện. Nào là tủ lạnh, máy
đông lạnh, đồ nấu ăn bằng điện, v.v...; tiện nghi của
cuộc sống quá tiến bộ. Trong nhiều tòa cao ốc ở các thành
phố, có những hệ thống thang máy. Nếu không có điện thì
chúng ngừng hoạt động. Những người ở các tầng lầu cao
phải tự chuẩn bị hành thiền dài lâu; hoặc giả nếu là
mùa đông, họ có thể bị chết cóng.
'Nếu
không có khổ đau thì nào có hạnh xả ly! Do đó, tâm niệm
ngươi phải kiên trì'.
Câu
này khuyên chúng ta rằng quán chiếu về khổ đau rất quan
trọng, và mang lại lợi ích lớn lao. Quán chiếu về khổ
đau có ý nghĩa lớn lao vì nhờ nhận ra tánh chất khổ đau,
chúng ta mới phát tâm xả ly chân chánh, tức là chân thật
phát nguyện tìm cách thoát khỏi sự trói buộc đó.
Điển
hình, hành giả Phật tử phải quán chiếu rõ ràng về lẽ
khổ và bất như ý trong hiện đời. Vẫn còn chịu nghiệp
lực và phiền não chi phối, chúng ta vẫn còn sống trong cảnh
khổ đau và bất như ý. Chúng ta cảm nhận rõ ràng về khổ
đau như đau nhức, khó khăn, bịnh tật, v.v... như những triệu
chứng kỳ lạ về tánh chất bất như ý căn bản của cuộc
sống. Chúng giống như thiện tri thức nhắc nhở chúng ta về
tánh chất căn bản này.
Thỉnh
thoảng gặp những hành giả than phiền về những việc khó
khăn, đau nhức, khổ đau, v.v... tôi nói đùa rằng chúng ta
phải biết ơn chúng vì bàn về lý tưởng, chúng ta được
những kinh nghiệm thực chứng dựa vào thiền quán về khổ
đau. Vì chưa đạt được kinh nghiệm đó, thân thể bảo rằng
chúng ta đang sống trong cuộc đời có bản chất bất như
ý. Vì vậy, chúng ta phải tri ơn những nỗi đau đớn khổ
nhọc.
13.
Nếu những ai tu khổ hạnh và những người Karnapa chịu đau
đớn vì cắt xén và thiêu đốt vô lý do, thì vì mục tiêu
giải thoát tại sao tôi không có lòng can đảm?
Nếu
có người sẳn sàng chịu đựng khổ nhọc, đau đớn, khó
khăn để đạt những mục đích tạm thời, thì tại sao tôi
không thể nhẫn chịu những nỗi khổ cần thiết trên bước
đường tu đạo giải thoát? Chúng ta có thể tìm thấy lời
dạy này trong nhiều kinh điển khác nhau: Cách tu hành của
bậc trí giả là xả bỏ mục đích nhỏ nhặt để đạt đến
mục đích cao thượng, chứ không hành ngược lại. Người
Tây Tạng có câu rằng xả bỏ một trăm để được một
ngàn. Chúng ta có thể nghĩ rằng phải hy sinh những việc nhỏ
cho mục đích cao thượng là điều đúng đắn, nhưng vẫn
nghi ngờ có khả năng làm được việc đó hay chăng, nên khiến
chán nản.
Trong
bài kệ thứ mười bốn, ngài Tịch Thiên bảo rằng chớ nản
lòng vì nếu thường xuyên làm quen và tu tập thì sẽ dễ
dàng chấp nhận bất cứ hạnh gì.
14.
Nhờ thường làm quen, chẳng có điều gì không trở nên dễ
dàng. Do đó, nhờ quen với những sự tổn hại nhỏ nhặt,
tôi phải học cách kiên nhẫn chấp nhận những điều tổn
hại lớn lao.
Lúc
đầu có thể thối chí khi gieo duyên với một hoạt động
hay pháp môn đặc biệt. Tuy nhiên, nhờ thường làm quen và
nhờ gia tăng ý chí, có thể khiến cho việc đó được dễ
dàng hơn. Chẳng phải việc đó dễ dàng, mà vì tâm niệm
quen thuộc với nó hơn; nghĩa là tướng của các pháp thường
thay đổi tùy theo tâm niệm.
Trong
ba bài kệ dưới đây, ngài Tịch Thiên đưa ra ví dụ về
những loại khổ đau mà chúng ta có thể làm quen nhờ thường
gần gũi tiếp xúc.
15.
Có ai chưa nếm khổ đau nhỏ nhặt như bị côn trùng hay rắn
cắn, bị đói khát, và bị ngứa ngáy?
16.
Nếu không thể nhẫn được nóng lạnh, gió mưa, bịnh tật,
trói buộc, đánh đập, thì khi bị hại sẽ không nhẫn nỗi.
17.
Có người vừa thấy máu của mình thì mạnh dạn cứng rắn.
Ngược lại, có người vừa thấy máu đổ thì ngất xỉu.
Nơi
đây, ngài Tịch Thiên đưa ra ví dụ về hai loại người:
Có người vừa thấy máu của mình, thì càng can đảm hơn.
Ngược lại, có người khi thấy máu đổ thì ngất xỉu. Điểm
khác biệt là có thường làm quen hay không.
18.
Tùy theo tâm cứng rắn hay yếu mềm mà phản ứng như thế.
Do đó, tôi phải xem thường và không để chúng gây ảnh hưởng.
Tóm
lại, đã bàn luận xong về một trong những cách đối phó
tâm bất mãn buồn bã; nhờ đó mà thay đổi cách nhìn về
khổ đau. Tâm niệm phàm phu có khuynh hướng tự nhiên hoàn
toàn không thích khổ đau. Nhờ thường làm quen, nhờ biết
có khả năng chuyển hóa tâm niệm, và nhờ quán chiếu bản
chất của khổ đau, chúng ta giảm bớt mức độ chán ghét
khổ đau để chấp nhận nó dễ hơn.
Tuy
nhiên, tôi nghĩ rằng phải có chánh kiến về những cách quán
chiếu đó. Nơi đây, đặc biệt theo đạo Phật, có ít nhiều
hàm ý, như cách trình bày về giáo lý Tứ Diệu Đế và Nhị
Đế (thắng nghĩa đế và thế tục đế). Hàm ý chung bao gồm
Địa, Đạo, Quả mà chúng ta đang hướng đến. Phải hiểu
hết hàm ý đó, bằng không rất nguy hiểm nếu xem giải pháp
đó dường như bịnh hoạn. Vì thế, việc ngụ ý hóa rất
quan trọng.
Do
đó, liên quan đến nhiều khía cạnh của đạo Phật, việc
quan trọng là phải có chánh kiến xem xét những vấn đề
được trình bày trong kinh điển. Trong trường hợp này, tôi
nghĩ rằng truyền thống Phật giáo Tây Tạng rất vi diệu
vì luôn luôn nhấn mạnh về việc tu và học.
Thiền
quán.
Lúc
thiền quán, chúng ta hãy chú tâm suy nghiệm về bản chất
khổ đau và vô thường (muôn pháp thường biến đổi) của
cuộc sống. Theo đạo Phật, phải hiểu ra rằng sự vô thường
của các pháp vận hành như bộ máy cơ khí; nghĩa là chúng
có nhân duyên chằng chịt với nhau. Khi xem xét các căn, chúng
ta nhận thấy rằng chúng bị vô minh chi phối; nếu như thế
thì nào còn chỗ trống cho niềm hạnh phúc! Đã bị vô minh
tiêu cực chi phối thì không thể mang lại kết quả tích cực
tốt đẹp.
Sân
hận, kẻ thù nội tại (đã bàn qua), và chấp trước (hay
tham lam) vốn là bạn bè thân thiết của vô minh. Nói cách
khác, vô minh như tổng thống hay thủ tướng, còn chấp trước
và sân hận như hai bộ trưởng có thế lực mạnh mẽ nhất.
Kết hợp với nhau, chúng được xem là ba chất độc của
tâm.
Nếu
sống dưới thế lực của ba độc đó, thì chắc chắn sẽ
bất như ý. Để thiền quán về khổ đau, phải thẩm thấu
cội gốc khổ đau để dẹp trừ phiền não; chớ chỉ buồn
vì đau nhức; chẳng phải cảm thấy thất vọng vì thân thể
đau đớn.
Trước
hết dùng chánh kiến để quán chiếu lẽ vô thường và nguyên
nhân của nó, rồi xem xét khuyết điểm của cõi Ta Bà.
Hỏi:
Tâm lý liệu pháp của Tây Phương là khuyến khích bộc lộ
lửa sân. Có cách bày tỏ lửa sân nào hay hơn nhẫn nhục
chăng? Ngài có ý kiến gì về các nhà tâm lý học và các
nhà cố vấn bảo: 'Hãy trút mọi sân hận ra hết'?
Đáp:
Nơi đây, tôi thiết nghĩ phải hiểu rằng có nhiều trường
hợp. Trong vài trường hợp, có người ghìm giữ lửa sân
dựa vào những việc đã xảy ra trong quá khứ như bị ngược
đãi, v.v... Bàn về việc này, người Tây Tạng có câu rằng
nếu có gì làm ống tù và bị tắc nghẽn, hãy thổi nó ra,
thì ống tù và sẽ sạch. Do đó, có thể dùng một cách giải
quyết vấn đề là chỉ việc trút hết lòng sân hận.
Tuy
nhiên, nói chung sân hận là một vọng niệm; nếu không điều
phục, nó có xu hướng tăng trưởng. Việc hay nhất là hãy
lưu tâm với nó nhiều hơn và cẩn thận cố gắng giảm lửa
sân.
Hỏi:
Sân hận có liên quan đến sự chấp trước vào sự vật,
chủ thuyết, lý thuyết, mà đặc biệt về việc nhận định
cái 'Ta' như một bản ngã thường hằng?
Đáp:
Điều chân thật là sân hận vốn nằm dưới gốc chấp ngã
thường hằng kiên cố. Nói chung, khi bàn về việc đó, phải
phân biệt hai loại. Một định nghĩa của bản ngã là tâm
ích kỷ; nghĩa là, xem quyền lợi cá nhân quý giá, rồi thờ
ơ với tình cảnh chật vật của người khác. Loại thứ hai
tin vào bản ngã thường hằng kiên cố. Ở bước đầu, cả
hai tâm niệm chấp ngã này hỗ trợ và tăng cường cho nhau;
nghĩa là chúng gắn bó mật thiết với nhau.
Tuy
nhiên, nếu đặt nặng về việc tu tâm Bồ Đề, tức tâm
nguyện thành Phật vì lợi ích của mọi chúng sanh, nhưng cùng
lúc lại làm giảm khả năng lợi tha đó như chỉ để tâm
chút ít về việc phát triển trí huệ thấu suốt chân tánh
của hiện thực [iv] , thì có thể trong vài trường hợp nó
vẫn còn nằm ngoài phạm vi kiến thức; nghĩa là, sự chấp
ngã dựa vào lòng ích kỷ (lạnh lùng với chúng sanh) có thể
giảm bớt, nhưng sự chấp trước vào bản ngã thường hằng
kiên cố có thể vẫn còn. Cũng vậy, nếu nhấn mạnh vào
việc thẩm thấu tánh Không nhưng chẳng chú ý về mặt phát
tâm Bồ Đề, thì sự chấp ngã thường hằng kiên cố có
thể yếu mềm, nhưng tâm ích kỷ vẫn còn. Vì vậy, ở cấp
độ cao, chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa hai bản ngã
đó.
Vì
vậy, điều quan trọng khi tu đạo tiến đến cảnh giới giác
ngộ viên mãn là phải có khả năng kết hợp trí huệ và
phương tiện.
Tôi
thiết nghĩ câu hỏi này cũng liên quan đến lập trường căn
bản của đạo Phật; do chấp trước và sân hận vốn nằm
sâu trong vô minh và tà kiến về chân tánh (bản chất của
hiện thực), nên đối chất sân hận và chấp trước được
xem rất giới hạn, vì chỉ hợp với căn tánh nào đó thôi.
Ngược lại, đối chất vô minh hay tà kiến vốn phổ cập
hơn vì nó cũng làm đối chất cho sân hận và chấp trước
(vì chúng nằm sâu trong vô minh).
Cũng
vậy, trong đạo Phật, khi bàn về sự chấp ngã, quan trọng
phải nhớ rằng có cấp độ khác nhau. Có vài loại bản ngã
cần phải gia tăng cường. Ví dụ, để kiên quyết hướng
về quả vị Phật vì lợi ích chúng sanh, cần có niềm tự
tín kiên cố, dựa vào thệ nguyện và lòng can đảm; điều
này cần có ý thức bản ngã [v] mạnh mẽ. Nếu không thì
chúng ta sẽ không thể phát triển niềm tự tín và lòng can
đảm để kiên quyết hướng về mục đích này. Hơn nữa,
thuyết Phật tánh mang lại nhiều sự khích lệ và niềm tự
tin, vì chúng ta nhận ra rằng tiềm năng Phật tánh nằm sẳn
trong tâm; điều này sẽ cho phép chúng ta chứng đạo giác
ngộ viên mãn mà mình đang hướng về. Tuy nhiên, có những
sự chấp ngã khác; chúng nằm sâu trong niềm tin vào một thực
thể thường hằng kiên cố được gọi là cái 'Ta' hay 'bản
ngã'. Cần phải thay đổi tà kiến chấp ngã này.
Cũng
vậy, về tà kiến chấp ngã, chúng ta thấy có nhiều cấp
độ đa dạng và nhiều hình thức thô thiển, như có niềm
tin ngây ngô về một bản ngã thường hằng bất biến. Nếu
đi xa hơn nữa, chúng ta nhận thấy có niềm tin về một đấng
độc lập đặc biệt có chân thể (bản chất hiện thực)
và địa vị. Một lần nữa, đó là tà kiến.
Một
loại tà kiến chấp ngã kiên cố liên quan đến xu hướng
lạnh lùng với tình cảnh khốn khổ của người khác. Cũng
vậy, phải nên xả bỏ và điều phục sự chấp ngã đó.
Vì vậy, chúng ta phải nhạy bén khi dùng chữ 'bản ngã' và
'cái Ta' trong phạm trù Phật pháp; chớ chấp nhận lập trường
hoàn toàn trắng và đen, bảo: 'Đây là hướng ra, và đây
là hướng vào'.
Hỏi:
Vai trò của các Bổn Tôn phẫn nộ ra sao?
Đáp:
Điều này khó lòng giải thích. Tôi thiết nghĩ triết lý căn
bản là tâm tình con người như sân hận thường hiện hành
như một động lực thúc đẩy hành động nhanh nhẹn. Triết
lý ẩn tàng sau quan niệm về các Bổn Tôn phẫn nộ là một
điểm độc đắc đối với tâm tình như sân hận hay những
phiền não khác, vì chúng là một trợ lực; khi có tâm tình
đó, nó hỗ trợ cá nhân hành sự nhanh nhẹn; đây là yếu
tố tác động rất mạnh mẽ. Liên quan về điểm này, phải
hiểu rõ về việc tu hành dựa vào các Bổn Tôn phẫn nộ.
Một
điểm khác chúng ta cần hiểu rõ là lập trường căn bản
của đạo Phật đối với cái gọi là 'Phiền não'. Theo quan
điểm Tiểu Thừa, vì mục đích cứu cánh là tự giải thoát
khỏi cõi Ta Bà, phải xả bỏ mọi nghiệp xấu của thân khẩu
ý mà không có trường hợp ngoại lệ gì được chấp nhận,
nhưng không đề cập việc phát tâm Bồ Đề.
Tuy
nhiên, trong kinh điển Đại Thừa, có vài trường hợp ngoại
lệ liên quan đến nghiệp xấu của thân và khẩu, vì mục
đích chủ yếu của hành giả Bồ Tát là phục vụ tha nhân.
Mặt khác, đối với tâm niệm xấu, không được ngoại lệ,
vì nó hoàn toàn vô ích. Về hành giả Bồ Tát, nếu đứng
trong tình thế phải làm lợi ích cho một cộng đồng lớn
hay nhiều chúng sanh, thì được phép dùng sự chấp trước;
nghĩa là không chấp nhiều về đường đạo, mà chỉ làm
trợ duyên cho việc tu đạo để tiến đến mục đích cứu
giúp người khác. Tuy thế, trong Kinh Thừa (Hiển giáo), Bồ
Tát không được phép khởi tâm sân hận.
Phật
giáo Mật Thừa bao gồm những pháp môn thiền quán độc đắc
về tánh Không dựa vào Bổn Tôn Du Già; trong tiến trình thiền
quán, hành giả xả bỏ tri kiến khái niệm phàm phu và cố
chấp nhận một đặc tính thánh thiện viên mãn. Dựa vào
nền tảng đó, trong trường hợp ngoại lệ được phép dùng
nóng giận; trong phạm vi này, các Bổn Tôn phẫn nộ được
xử dụng vào thiền quán Mật-tích.
Khi
dùng trợ lực nóng giận cho việc lợi tha, điều tự nhiên
là dễ quán tưởng các Bổn Tôn phẫn nộ hơn là quán tưởng
các Bổn Tôn hiền hòa.
Hỏi:
Nếu không có linh hồn, thực chất của dòng tâm thức luân
chuyển từ đời này sang đời khác là gì? Làm sao tâm thức
đó trở thành một thật thể riêng biệt?
Đáp:
Một lần nữa, điều này tùy thuộc rất nhiều vào sự hiểu
biết về danh từ 'Linh hồn'. Nếu hiểu danh từ 'Linh hồn'
như một dòng biến chuyển của cá thể từ giây phút này
sang giây phút khác và từ đời này sang đời khác, thì có
thể bảo rằng đạo Phật cũng chấp nhận khái niệm về
linh hồn; nghĩa là có một dòng tâm thức chuyển biến. Theo
quan điểm này, việc bàn luận về có linh hồn hay chăng chỉ
có ý nghĩa trên danh từ. Tuy nhiên, đối với giáo lý vô ngã
hay 'phi linh hồn' của đạo Phật, phải hiểu rằng không có
bản ngã hay 'linh hồn' thường hằng bất biến; nghĩa là đạo
Phật phủ nhận 'Linh hồn' đó.
Đạo
Phật không phủ nhận dòng tâm thức chuyển biến liên tục.
Vì lý do này, chúng ta nhận thấy vài học giả Tây Tạng như
ngài Nhân Đạt Ngõa (Rendawa) thuộc phái Tát Ca (Sakya) chấp
nhận có bản ngã hay linh hồn (tiếng Tây Tạng là 'kangsak
ki dak'). Tuy vậy, cũng đồng chữ đó, nhiều học giả khác
lại phủ nhận chữ 'Bản ngã', cái 'Ta', thực thể ấy.
Đối
với tánh chất bản ngã chân thật là gì và thực thể đó
là gì mà liên tiếp chuyển biến từ sát na này đến sát
na khác và từ đời này sang đời khác, chúng ta nhận thấy
có nhiều quan điểm khác nhau giữa các học giả Phật giáo.
Có vị cố gắng xác định nó trong các căn phần của thân
và tâm. Có vị giải thích nó theo phạm vi danh xưng dựa vào
thành phần kết cấu của thân, tâm, v.v...
Chúng
ta cũng nhận thấy có một bộ phái trong truyền thống Đại
Thừa được gọi là Duy Thức Học. Một hệ phái của Duy
Thức Học giữ lập luận rằng có dòng tâm thức chuyển biến
liên tục đặc biệt được gọi là A Lại Da Thức, tức là
ý thức chủ yếu. Lý do đưa ra điều này là vì các ngài
cho rằng nếu có vật gì như bản ngã (tức là dòng tâm thức
chuyển biến liên tục từ bao đời), thì phải tìm ra nền
tảng chân thật đằng sau danh từ 'cái Ta' hay 'bản ngã' hoặc
bất cứ danh xưng gì; nếu không thì chúng ta sẽ có khuynh
hướng đi đến chủ nghĩa hư vô (biên kiến chấp đoạn).
Tuy vậy, nếu định lập một bản ngã hay một tác nhân độc
lập với thân và tâm, chúng ta sẽ có xu hướng tiến đến
chủ nghĩa tuyệt đối (biên kiến chấp thường). Hơn nữa,
nếu nhận định bản ngã hay cá nhân ngay trong dòng tâm thức,
thì đây cũng là vấn đề rắc rối vì đạo Phật chấp nhận
có những cảnh thiền vắng bặt tâm thức; nghĩa là không
có tâm thức nào hiện hữu trong tâm của cá nhân đó. Do những
vấn đề ấy, bộ phái này định lập dòng tâm thức căn
bản, chủ yếu, và riêng biệt được gọi là A Lại Da Thức.
Ngoài
ra, một trong những lý do mà các học giả Duy Thức Học cảm
thấy cần phải đưa ra dòng tâm thức đặc biệt này là vì
nếu cố gắng giải thích về bản ngã hay cá nhân ngay trong
sáu thức và năm căn, thì sẽ có những vấn đề rắc rối
như tôi đã đưa ra. Ví dụ, trong cảnh giới vô niệm, nơi
đó không có ý thức, nên sẽ không có con người nào cả.
Cũng vậy, đạo Phật chấp nhận có cảnh giới tri giác hiểu
rõ tánh Không trực tiếp khi tâm thức được thanh tịnh hoàn
toàn, mà không lỗi lầm tỳ vết. Lúc ấy, dù con người đó
chưa đạt giác ngộ viên mãn, nhưng trong tâm thức không còn
lỗi lầm nhiễm ô. Tuy nhiên, phải chấp nhận vài tâm thức
nhiễm ô che chướng sự chứng đạo giác ngộ viên mãn, và
phải hiểu nó theo phạm trù tỳ vết hay tập khí, v.v... Một
lần nữa, vì lý do này, các học giả Duy Thức Học nhận
thấy cần phải đưa ra nền tảng chủ yếu này và định
nghĩa nó theo danh từ tâm thức vô ký; tâm thức đó chỉ có
nhiệm vụ chứa đựng tất cả tỳ vết đa dạng đã từng
gieo trồng trong tâm niệm.
Hỏi:
Hậu quả chung của sân hận là những sự giết chóc lạnh
lùng của thanh thiếu niên. Vai trò của xã hội trong việc
đối phó những hậu quả sân hận như thế nào?
Đáp:
Như đã bàn trong cuộc họp báo hôm qua, tôi cảm thấy rằng
vào những thời gian hay những thập niên vừa qua, chúng ta
không chú tâm nhiều về tầm quan trọng của giá trị nhân
bản, để rồi thêm nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng
xã hội hiện tại. Do đó, đưa ra một giải pháp đơn độc
là điều vô cùng khó khăn. Điều cần thiết, nên kết hợp
trợ lực của nhiều người từ nhiều quan điểm khác nhau
để giải quyết vấn đề. Không ngờ vực, ngành giáo dục
là nhân tố chủ yếu. Cách thức chúng ta giáo dục trẻ em
rất quan trọng. Tôi cũng tin rằng hành vi của thầy, cô là
những nhân tố rất quan trọng. Ngoài bổn phận truyền đạt
kiến thức, họ cũng phải làm gương về đạo lý đang giảng
dạy. Để giáo dục trẻ em, nêu gương tốt rất quan trọng.
Bằng cách đó, giá trị lý thuyết trở nên những gì rất
thân thương ngay trong tâm của trẻ em. Dĩ nhiên, các phương
tiện truyền thông cũng liên hệ đến việc giáo dục trẻ
em.
Hỏi:
Chúng ta phải làm gì để giảm bớt sự chi phối của lòng
tham?
Đáp:
Nếu không có tham lam thì chẳng có tái sanh. Để tái sanh,
chúng ta cần có tham. Cũng như sân hận, tôi thiết nghĩ có
nhiều loại tham t?t và xấu. Lòng tham là hình thức của tham
dục. Tuy nhiên, nó là hình thức phóng đại của tham dục
dựa vào sự mong muốn quá độ.
Lực
đề kháng chính của lòng tham là tâm biết đủ. Đối với
hành giả Phật tử, có nhiều pháp môn chuyển hóa lòng tham
như nhận thức về giá trị mưu cầu giải thoát khỏi khổ
đau, nhận thức về tánh chất bất như ý của cuộc sống,
v.v... Những cách nhìn đó giúp hành giả giảm bớt lòng tham.
Tuy nhiên, trong phạm vi phản ứng tức thì về lòng tham, có
cách là quán chiếu về sự quá độ của lòng tham; nghĩa là
quán chiếu về những điều tổn hại gì nó sẽ gây ra và
nó sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Lòng tham dẫn chúng ta đến
tâm trạng thất vọng, chán chường, nhiều mê mờ, và nhiều
vấn đề rắc rối.
Khi
đối phó với lòng tham, một điểm rất đặc sắc là dẫu
nó khởi từ sự mong muốn chiếm đoạt vật chi, nhưng nó
không còn thỏa mãn khi đã lấy vật đó. Vì vậy, lòng tham
không đáy dẫn đến bao vấn đề rắc rối. Điểm thú vị
về lòng tham là động cơ chủ yếu vốn muốn được thỏa
mãn. Tuy vậy, như đã bàn, vừa được vật như ý, chúng ta
v?n chưa thỏa mãn. Ngược lại, nếu có tâm biết đủ quyết
liệt, thì có đạt mục đích hay không cũng chẳng thành vấn
đề; dù như thế nào, chúng ta cũng biết đủ.
Hỏi:
Mối quan hệ giữa tâm tỉnh giác và nhẫn nhục, cùng mối
quan hệ giữa sự nhún nhường và hạnh nhẫn nhục như thế
nào?
Đáp:
Nói chung, bất luận hành trì pháp môn nào, sự tỉnh giác
rất cần thiết, vì nó giúp chúng ta giữ sự chú tâm vào
đối tượng quan sát. Để chuyên chú hành hạnh nhẫn nhục
hay những hạnh khác, cần có sự tỉnh giác.
Hạnh
nhún nhường và nhẫn nhục liên quan mật thiết với nhau;
hành hạnh nhún nhường nghĩa là dù có khả năng trả thù
nhưng chúng ta lại quyết không làm, bằng không thì có thể
đề kháng quyết liệt. Tôi gọi đó là hạnh nhún nhường
chân thật. Khi cảm thấy bất lực hay không có khả năng giải
quyết vấn đề, tôi không gọi đó là hạnh nhún nhường
chân thật, vì không có cách gì ngoài việc bó tay.
Cũng
vậy, có nhiều loại nhẫn nhục khác nhau. Loại chân thật
liên quan đến việc quyết tâm kiên nhẫn nhờ tự khắc chế.
Ngược lại, khi bị ép buộc phải đề kháng, điều đó dường
như yếu đuối chứ chẳng phải kiên nhẫn. Đó là những
sự khác biệt.
Tổng
quát, kiên nhẫn cần tánh tự khắc chế: Nhận thức rằng
có thể đề kháng bằng hành động hay giải pháp bạo lực,
nhưng lại quyết không làm, chứ chẳng phải bị ai ép buộc
phải kiên nhẫn. Hạnh nhẫn nhục của chúng tôi đối với
người Tàu vốn là chân thật chứ không có vấn đề gì.
Chú
Thích Của Dịch Giả
[i]
Biến Ðổi
[ii]
Ðược Chấp Nhận Có Giá Trị Thật Sự
[iii]
Tám Ngọn Gió
[iv]
Duyên Khởi, Tánh Không
[v]
Phật Tánh