01.
Tứ niệm xứ và Tâm kinh
Tứ
Niệm Xứ là một pháp hành Thiền do từ Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna
Sutta, kinh thứ 10 trong Trung Bộ Kinh) là một Kinh rất quan trọng
trong Phật giáo Nam Tông. Còn Bát Nhã Tâm Kinh là một bài Kinh
ngắn thường được tụng trong tất cả các thời Kinh trong
Phật giáo Ðại Thừa Việt Nam. Hai Kinh này ý nghĩa có xung
khắc nhau không?
A.
Tứ Niệm Xứ
Kinh
Niệm Xứ, thường được gọi là Kinh Tứ Niệm Xứ, là một
trong những kinh trọng yếu nhất mà Ðức Phật đã thuyết
giảng hơn 2500 năm về trước để rèn luyện, uốn nắn, làm
cho quân bình và thanh lọc thân tâm.
Pháp
Niệm Xứ được thiết lập trên sự áp đặt tâm niệm (Satipatthàna).
"Sati" là niệm, "patthàna" là một hình thức rút ngắn của
chữ Upatthàna có nghĩa là để gần lại tâm của mình.
Mở
đầu bài Kinh có chỉ dẫn rõ ràng:
"Sau
đây là những lời mà tôi đã được nghe Ðức Thế Tôn dạy,
hồi Ngài còn đang cư ngụ ở Kammassadhamma, một khu phố của
giống dân Kuru. Một hôm Ðức Thế Tôn gọi chư Tăng: "Này
các Tỳ Kheo". Chư Tăng đáp: "Thưa Ðức Thế Tôn, có chúng
con đây". Phật nói: " Này quý vị, đây ta chỉ cho quý vị
con đường duy nhất (ekàyano maggo) để có thể gạn lọc bản
thân, vượt thoát mọi phiền não, tiêu diệt ưu khổ, đạt
tới chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn: Ðó là Pháp Niệm
Xứ".
Pháp
Niệm Xứ có bốn phần, đó là tinh chuyên chú niệm vào:
1/
Thân (Kàyànupassanà). Niệm thân.
2/
Thọ hay cảm giác (Vedanànupassanà). Niệm Thọ.
3/
Tâm (Cittànupassanà). Niệm Tâm.
4/
Pháp (Dhammànupassanà) là những đối tượng của Tâm. Niệm
Pháp.
Ðiểm
chánh yếu ở đây là niệm (Sati) và sự chú tâm hay sự quan
sát (anupassanà). Ở đây tôi chỉ tóm tắt đại ý của Kinh
thôi.
1)
Niệm thân. Hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể. Xin
độc giả lưu ý chữ quán niệm thân thể nơi thân thể, chứ
không phải quán niệm thân thể nơi cảm thọ, hoặc quán niệm
thân thể nơi tâm thức, v.v...
Vì
đó có nghĩa là ngay nơi thân thể, hành giả quán niệm về
thân thể, chứ không phải nương theo nơi một cảm giác hay
ý tưởng mà quán niệm về thân thể. Quán niệm về thân
thể là quán sát và ghi nhận tất cả những gì liên quan và
đang xảy ra nơi thân thể.
Quán
niệm về thân thể gồm có: hơi thở vô-ra, bốn oai nghi (đi,
đứng, nằm, ngồi), các động tác thông thường, các bộ
phận ở trong thân thể, tứ đại và 9 giai đoạn tan rã của
thân thể.
Trong
pháp niệm thân, đặc biệt là phần niệm hơi thở vô-ra (ànàpànasati).
Hành giả ngồi xếp bằng thoải mái, đặt hết tâm ý vào
sự theo dõi và ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra. Khi hỉt
vào một hơi dài, hành giả biết mình đang hít vào một hơi
dài; khi thở ra một hơi dài, hành giả biết mình đang thở
ra một hơi dài... Ðây là một phương pháp hành thiền rất
phổ thông, vì nó có thể thích hợp cho mọi người, để
lắng tâm, cũng như để gom tâm an trụ. Chính đức Phật xưa
kia đã tận lực hành trì để chứng đạo quả vô thượng
Bồ Ðề, và ngài cũng quả quyết khẳng định tầm quan trọng
của pháp hành này.
2)
Niệm thọ hay cảm giác. Hành giả quán niệm cảm giác nơi
cảm giác, có nghĩa là giác tỉnh chú tâm ghi nhận "một cách
khách quan" những cảm giác hay cảm thọ của mình: vui sướng
(lạc thọ), đau khổ (khổ thọ), hoặc không vui sướng cũng
không đau khổ (xả thọ), xem chúng khởi lên ra sao và biến
mất như thế nào. Thí dụ khi có một cảm giác vui, hành giả
liền biết và ghi nhận: "có một cảm giác vui", và như thế
hành giả hay biết các cảm thọ khác và chứng nghiệm một
cách giác tỉnh các cảm giác ấy theo đúng thực tế, đúng
như thật sự nó là như thế ấy.
Thường
lệ, người ta hay thất vọng khi chứng nghiệm một thọ khổ
và phấn khởi vui sướng khi thọ lạc. Công trình tu tập niệm
thọ giúp cho hành giả chứng nghiệm tất cả cảm giác một
cách khách quan, với tâm xả (bình thản), và tránh cho con người
khỏi bị cảm giác của mình chi phối, khỏi phải làm nô
lệ hay lệ thuộc nơi cảm giác.
3)
Niệm tâm hay những hoạt động của Tâm. Trong khi hành thiền,
nếu có những ý nghĩ hay tư tưởng phát sanh thì hành giả
phải liền ý thức và ghi nhận chúng. Những tư tưởng ở
đây có thể là tốt, là xấu, thiện hay bất thiện. Hành
giả quán sát, theo dõi, nhìn cả hai mà không luyến ái hay
bất mãn. Phương pháp quán sát tâm mình một cách khách quan
giúp cho hành giả thấu đạt bản chất và hoạt động thật
sự của tâm. Những ai thường xuyên niệm tâm sẽ học được
phương cách kiểm soát và điều khiển tâm mình.
4)
Niệm Pháp hay đối tượng tâm thức. Trong phần này hành giả
quán niệm về: năm hiện tượng ngăn che hay ngũ cái (Nivaranà):
tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi hối - Năm nhóm
tụ hợp hay ngũ uẩn (Khanda): sắc, thọ, tưởng, hành, thức
- Sáu giác quan và sáu loại đối tượng hay lục căn và lục
trần (Ayatana): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và hình sắc,
âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng - Bảy
yếu tố của sự ngộ đạo, Thất giác chi (Bojhangà): niệm,
trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, hành xả - Bốn
sự thật cao quý, Tứ diệu đế (Cattari Ariya Sacca): khổ đau,
nguyên nhân đưa đến khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, và
con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.
Và
cuối cùng trong Kinh nói rằng người nào thực hành bốn phép
quán niệm trên, người ấy có thể có khả năng đạt được
quả vị chánh trí ngay ở đây và trong kiếp này, hoặc nếu
còn dư báo thì cũng đạt được quả vị không còn trở lại.
Ðặc
biệt trong Kinh này, được lập đi lập lại câu: "Vị ấy
(hành giả) sống tự do và không còn bám víu vào một thứ
gì trong thế gian". "Tự do" ở đây có nghĩa là thoát ra khỏi
ái dục (tanhà) và tà kiến (ditthi), cùng tất cả sự ràng
buộc của danh sắc, một bản ngã thường còn hay một cái
"Ta" vĩnh cửu.
Cũng
cần nhấn mạnh là Pháp Tứ Niệm Xứ phải được thực hành
một cách khách quan, có nghĩa là hành giả chỉ quán sát suông
mà không nên dính mắc vào đề mục, không thấy mình liên
hệ với đề mục. Khi ấy hành giả mới có thể nhìn thấy
thực tướng của sự vật, thấy sự vật đúng như chúng
là (yathàbhutan), chớ không phải thấy phớt bên ngoài, thấy
hình như sự vật là như vậy.
Tứ
Niệm Xứ phải được xem như là một phương pháp hành thiền,
chứ không phải một lý thuyết suông. Trong Phật giáo Ðại
Thừa, 37 phẩm Trợ đạo thường không được khai thác triệt
để đúng với danh từ của nó, mà chỉ được xem như những
lý thuyết cần để biết thôi. Trong các sách Phật Học căn
bản khi nói đến Tứ Niệm Xứ thì thường định nghĩa và
tóm tắt như sau
1/.
Quán thân bất tịnh.
2/.
Quán thọ thị khổ.
3/.
Quán tâm vô thường.
4/.
Quán pháp vô ngã.
Qua
sự tóm tắt trên, ta thấy Tứ Niệm Xứ bị đóng khung và
tạo cho độc giả một thành kiến sai lầm về Tứ Niệm Xứ.
Như quý vị đã xem qua ở phần trước là Tứ Niệm Xứ phải
được áp dụng một cách khách quan.
--
Về Niệm Thân có 6 đề mục quán niệm, trong đó có quán
niệm về những bộ phận bên trong thân thể, và niệm về
sự tan rã của một xác chết. Không thể vì hai đề mục
này mà nói là quán thân bất tịnh. Nếu muốn đề cao đề
mục quan trọng của niệm thân thì phải lấy đề mục quán
niệm về hơi thở vô-ra, vì đề mục này đã được Ðức
Phật dạy riêng trong Kinh quán niệm hơi thở (Anàpànasati Sutta).
Trong
các sách Phật Học, khi nói Quán thân bất tịnh, cốt dạy
cho độc giả quán tưởng làm sao để thấy được sự bất
tịnh của thân, nhằm mục đích nhàm chán, ghê tởm thân để
không còn bám víu vào nó nữa, và nhờ vậy có thể trị được
bệnh tham sắc dục. Ðây cũng là một phép quán hữu ích nhưng
không đúng với ý nghĩa niệm thân của Tứ Niệm Xứ.
--
Về Niệm Thọ là quán niệm và ghi nhận những cảm giác dễ
chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) hay bình thường (xả
thọ), biết rõ tính cách sanh diệt của chúng, nhờ đó hành
giả thoát ra được sự ràng buộc và sai sử của những cảm
giác.
Trong
các sách Phật Học, khi nói về niệm thọ đã ngụ ý bảo
độc giả quán tưởng làm sao để thấy thọ là khổ, vì
có nhận lãnh là có khổ. Chữ thọ được giảng với ý nghĩa
là nhận lãnh một thứ đồ vật gì bên ngoài. "Thọ thì khổ"
được xem là một phép quán dạy cho người ta bớt tham, nhưng
đó không phải ý nghĩa của niệm thọ trong Tứ Niệm Xứ.
--
Về Niệm Tâm và Niệm Pháp cũng vậy. Nếu bảo quán tâm vô
thường thì không đúng. Chính vì sự hoạt động của Tâm
tạo ra những ý niệm sinh diệt, diệt sinh trong khoảnh khắc
nên gọi là vô thường. Vô thường là những ý niệm đó
chứ không phải Tâm. Còn bảo "Pháp vô ngã" thì đúng nhưng
không phải ý nghĩa niệm pháp của Tứ Niệm Xứ.
B.
Bát Nhã Tâm Kinh
Trong
Phật giáo Bắc tông, chúng ta có thông lệ mỗi khi tụng một
thời Kinh nào đều mở đầu bằng thần chú Ðại Bi và cuối
cùng kết thúc bằng Tâm Kinh Bát nhã. Hầu hết các phật tử
đến chùa, không ai là không thuộc Bát nhã, do đó nó được
xem như một Kinh quan trọng vậy.
Bài
Kinh này được Ngài Huyền Trang đời nhà Ðường dịch từ
chữ Phạn ra chữ Hán vào năm 649 Tây lịch. Toàn bài gồm
có 262 chữ. Bát nhã Tâm Kinh là nói tắt, nếu nói cho đủ
là Ma ha Bát nhã Ba la mật đa Tâm Kinh (Maha Prajnàpàramitàhrdaya
Sùtra). Ma ha có nghĩa là lớn, Bát nhã là trí tuệ, Ba la mật
đa là đến bờ bên kia, Tâm (Hrdaya) là cốt lõi hay tinh yếu,
chứ không phải tâm ý (citta). Ðại ý Kinh này nói về trí
huệ rộng lớn có thể đưa hành giả sang bờ bên kia, tức
bờ giải thoát.
Kinh
này là Kinh nhật tụng của Phật tử tại gia cũng như xuất
gia, và đã có rất nhiều sách giảng giải về ý nghĩa Kinh
này. Vì thế ở đây sẽ không đi sâu vào chi tiết, mà chỉ
hạn chế bình luận những điểm chính yếu của Kinh và sau
đó so sánh nó với Kinh Tứ Niệm Xứ.
Toàn
bộ Kinh có 262 chữ, nhưng đại ý của Kinh nằm gọn trong
25 chữ đầu: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la
mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết
khổ ách". Nghĩa là có một vị Bồ Tát tên là Quán Tự Tại
khi thực hành sâu về Trí hụê Bát nhã thì Ngài soi thấy
5 uẩn đều "không", và từ đó thoát mọi khổ nạn. Chữ
"không" ở đây thường được giảng theo nhiều nghĩa, có
sách nói "không" là không thiệt, có chỗ để nguyên chữ không,
có chỗ nói tánh nó là không. Chữ "không" ở đây nên được
hiểu là không có tự tánh (vide de nature propre), chứ không
phải "không thiệt" hay là "không" đối với "có". Chữ "không"
(sùnyatà, emptiness, vide) này rất quan trọng, nó được xem
như nền tảng của hệ thống giáo lý Ðại Thừa.
Tiếp
theo sau câu "Quán Tự Tại... nhất thiết khổ ách", đến câu
"Xá Lợi tử, Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc
tức thị Không, Không tức thị Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
diệc phục như thị ". Dịch nghĩa là Xá Lợi tử, Sắc chẳng
khác không. Không chẳng khác Sắc, Sắc tức là Không, Không
tức là Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.
Trong
phần Bát nhã Tâm Kinh ở đây chỉ bình luận hai câu đầu
này thôi vì nó tóm lược tất cả những ý nghĩa quan trọng
của Kinh. Còn những phần sau chỉ giảng giải thêm về tánh
Không, về những diệu dụng của nó, tôi thấy không đem lại
nhiều lợi ích cho người sơ cơ học đạo, mà ngược lại
có thể biến họ thành những biện luận sư về tánh Không.
Kinh
Bát nhã dạy chúng ta nếu muốn thoát khỏi mọi khổ nạn,
đạt đến an vui, tự tại của Niết Bàn, thì phải thực
hành Trí huệ Bát nhã, tức là quán chiếu làm sao để thấy
rõ năm uẩn không có tự tánh. Nhưng phải quán chiếu thế
nào? Cách thức tu tập ra sao? Theo tôi thấy thì Kinh này không
chỉ dạy cách thức tu tập. Người đọc Kinh này rồi, không
thể đem ra áp dụng tu tập liền được nếu không hiểu rõ
nghĩa Kinh. Họ cần phải nghiên cứu tìm tòi, suy luận về
những lý duyên sinh, bất nhị, tương tức, từ đó mới có
thể hiểu được tánh Không của ngũ uẩn. Nhưng hiểu rồi
thì đó cũng chỉ là trên phương diện kiến thức hay ý thức
mà thôi, chứ không phải thực chứng hay trực nghiệm. Những
người hiểu được "5 uẩn giai không" có thể có rất nhiều,
nhưng người thực nghiệm được "5 uẩn giai không" thì rất
hiếm.
Lại
có nhiều người lấy câu " Sắc tức là Không" của Kinh Bát
nhã ra làm một triết lý đạo đức. Vì hiểu Kinh Phật dạy
rằng tất cả đều Không, nên họ bảo rằng: "cái xe hơi
này tôi chạy thả ga, nếu hư thì bỏ, hoặc nếu có mất,
thì tôi cũng không buồn, vì (tôi coi) nó là Không". Họ lấy
lý Không này mà bảo mọi người đừng chấp vào tất cả
mọi sự, rồi từ đó nẩy ra hai hạng người: một hạng
bất chấp tất cả, phóng túng, muốn làm gì thì làm; một
hạng khác thì ngược lại, yếm thế, chán đời, không làm
gì cả, vì tất cả là Không, có làm cũng chả được lợi
ích gì. Vì lý do này Kinh Bát nhã cần phải được giảng
dạy cẩn thận và tế nhị.
Trong
Kinh câu "Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc" quan trọng
và cần được giảng nhiều hơn câu "Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc". Trước khi nói tại sao, tôi xin đưa
ra vài thí dụ thông thường để bạn đọc hiểu rõ hai câu
trên.
Lấy
thí dụ cái bàn. Cái bàn không thể tự nhiên mà có, nó có
đó là do sự kết hợp của những yếu tố "không phải là
bàn" như gỗ, cây, cưa, đinh, người thợ mộc, tiều phu, rừng,
đất, nước, mưa, mặt trời, v.v... Nếu thiếu một trong những
yếu tố đó thì cái bàn không thể có được. Sự có mặt
của cái bàn tùy thuộc và liên quan mật thiết với những
cái "không bàn". Do đó ta có thể nói cái bàn chẳng khác gì
cái "không bàn", những cái "không bàn" khi đủ nhân duyên hội
hợp lại thành cái bàn, nên ta nói những cái "không bàn" chẳng
khác gì cái bàn.
Chữ
"bất dị" (không khác) trong câu "Sắc bất dị không" muốn
nói lên sự liên quan mật thiết của tất cả sự vật (tương
quan). Cái này có vì cái kia có, cái kia có vì cái này có;
cái này không thể có nếu không có cái kia, và ngược lại
cũng vậy.
Một
thí dụ khác nói về bất dị: em bé 10 tuổi và ông già 70
tuổi. Em bé 10 tuổi theo thời gian lớn lên rồi già đi thành
ông già 70. Em bé và ông già không phải là hai người mà cũng
không hẳn là một người. Em bé theo thời gian trở thành ông
già, có em bé nên mới có ông già, nên em bé chẳng khác gì
ông già (bất dị). Nhưng em bé 10 tuổi xưa kia tóc xanh đen,
nhỏ người, ngây thơ, còn ông già 70 tuổi hôm nay tóc bạc,
cao gầy, nhiều kinh nghiệm; hai hình dáng, hai tâm tư khác nhau,
ta không thể nói em bé chính là ông già, hay em bé và ông già
là một được (bất nhất). Vì nếu là một tại sao lại
có hai danh từ, em bé và ông già? Tại sao lại có hai hình
dáng khác nhau?
Tất
cả sự vật đều biến chuyển không ngừng từng giây phút,
từng sát na. Từ một vật A chuyển thành vật B, ta không thể
nói B khác A, mà cũng không thể nói B là A được. Ðây chính
là lý Bất dị, Bất nhất trong Bát Bất Trung Ðạo của Bồ
Tát Long Thọ (Nagarjuna). Có nhiều vị nói Bát nhã thuộc pháp
môn "bất nhị", theo tôi nghĩ Bất nhị gồm có Bất dị và
Bất nhất. Vì lý do này, thay vì nói theo trong Kinh "Sắc bất
dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không
tức thị Sắc", tôi sẽ nói là: "Sắc bất dị Không, Không
bất dị Sắc, Sắc tức thị Sắc, Không tức thị Không".
Sắc chẳng khác gì không, nhưng Sắc vẫn là Sắc, Không vẫn
là Không. Nhờ biết được Sắc chẳng khác gì Không, nên
ta thấy được tánh không của cái bàn, nhưng Sắc vẫn là
Sắc, nên ta không từ bỏ cái bàn, mà ngược lại cũng thấy
được diệu dụng của cái bàn. "Thật tế lý địa bất thọ
nhất trần, vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp", tuy biết
rằng không có cái gì có thể gọi là cái bàn được, nhưng
nếu có người chỉ vào cái bàn mà hỏi ta đó là gì? Ta cũng
phải trả lời là cái bàn. Ðó là Trung-Ðạo.
C.
So sánh Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh
Kinh
Tứ Niệm Xứ nói về bốn lãnh vực quán niệm. Bát nhã Tâm
Kinh nói về quán chiếu 5 uẩn là không. Một Kinh quan trọng
của Nam Tông - Một Kinh thông dụng bên Bắc Tông. Một Kinh
nói về cách thức tu tập. Một Kinh nói về triết lý cao siêu.
Hai Kinh này có liên quan gì với nhau không? Mới nhìn qua ta
thấy hình như khác nhau, nhưng thật ra cả hai Kinh đều nói
về ngũ uẩn.
Không
phải chỉ có Bát nhã Tâm Kinh nói về 5 uẩn là không, trong
các Kinh điển Pali, Ðức Phật đã thường nhấn mạnh tánh
cách vô thường, khổ, vô ngã của 5 uẩn:
"Này
chư Tỳ Kheo, ngũ uẩn là vô thường (anicca); bất luận cái
gì vô thường, đó là khổ (dukkha), đó là vô ngã (anatta),
không phải là "của ta", không phải là "Ta", không phải là
"bản ngã của ta". Vậy phải thấy nó bằng trí tuệ tuyệt
hảo, đúng như thật sự nó là như vậy. Người thấy được
thực tướng của nó bằng trí tuệ tuyệt hảo, tâm người
ấy không cố bám vào, xa lìa phiền não, được giải thoát"
(Tương ưng bộ Kinh, Samyutta Nikàya, quyển III).
Trong
Kinh Tứ Niệm Xứ, bốn lãnh vực quán niệm đều liên quan
đến 5 uẩn:
- Niệm
thân thuộc về vật chất liên quan đến Sắc uẩn.
-
Niệm thọ thuộc về cảm giác liên quan đến Thọ uẩn.
-
Niệm tâm thuộc về sự nhận định biết mình liên quan đến
Tưởng và Hành uẩn.
-
Niệm pháp thuộc về tánh cách khác biệt chủ quan liên quan
đến Thức uẩn.
Có
một điều khác biệt giữa hai Kinh là: trong Kinh Tứ Niệm
Xứ chỉ dạy hành giả quán niệm (quán sát và ghi nhận) trực
tiếp và khách quan tánh cách sanh diệt của ngũ uẩn, chứ
không phải suy tưởng chúng qua một lý thuyết nào, trong khi
Bát Nhã Tâm Kinh dạy "chiếu kiến ngũ uẩn giai không", điều
này có thể khiến cho hành giả cố gắng tìm tòi, suy tưởng
mượn những lý thuyết có thể giúp cho hành giả hiểu được
tánh không của ngũ uẩn.
Kinh
Tứ Niệm Xứ dạy phương pháp thực hành mà không nói nhiều
về lý thuyết. Tuy nhiên nếu hành giả tinh tấn thực tập
thì sẽ đích thân trực nghiệm tánh cách vô thường của
ngũ uẩn, và nếu hiểu được vô thường thì tự nhiên sẽ
hiểu được vô ngã. Hai danh từ vô ngã (anatta) và không (sunyatà),
theo tôi nghĩ, không khác nhau là mấy. Vì Vô ngã là đứng
trên phương diện một chúng sanh mà nói, còn Không là trên
phương diện pháp giới mà nói.
Tóm
lại Kinh Tứ Niệm Xứ chỉ dạy cách thức tu tập, dẫn đến
kết quả là thấu đạt được ngũ uẩn là Không (vô ngã).
Còn Bát Nhã Tâm Kinh nói về lý thuyết từ ngũ uẩn là Không
trở đi (tức về tánh Không).
Người
hành giả một khi thành tựu được phép quán Tứ Niệm Xứ
thì tâm sẽ an nhiên tự tại không còn bám víu vào bất cứ
sự vật gì trong thế gian, câu này có khác gì "chiếu kiến
ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách".
Vì
thế, muốn thực chứng Bát Nhã, hãy nên thực hành Tứ Niệm
Xứ.