Chương
II
Theo
Tây Tạng
Khoảng
tháng hai năm 94, tại chùa Ðức Viên, San Jose, trong một buổi
giảng nói về đề tài "Cứu độ Mẹ Ðất", có một Phật
tử đứng lên hỏi: "Nghe nói Thầy tu nhập thất với bên
Tây Tạng, vậy có gì hay xin Thầy kể lại cho Phật tử nghe".
Lúc đó vì không có ý định truyền bá Mật Tông Tây Tạng
nên tôi đã thông qua và không trả lời trực tiếp. Sau này
thấy có nhiều sách vở Tây Tạng được dịch sang tiếng
Việt và một số Phật tử Việt Nam bắt đầu hâm mộ Tây
Tạng nên tôi thấy đến lúc có thể nói lên cảm nghĩ của
mình.
Hồi
còn học lớp 11, tôi có dịp đọc "Le troisième oeil" (con mắt
thứ ba) của Lobsang Rampa, nói về sự huyền bí của Tây Tạng
cùng với những buổi lễ Ðiểm Ðạo và khai mở thần nhãn
của ông. Sau đó tôi đã đi mua hết một loạt sách khác của
ông ta để đọc, nhưng rồi cũng thả trôi vào lãng quên vì
phải bận học thi cuối năm.
Sau
này có dịp nói chuyện với các Lạt Ma Tây Tạng thì phần
đông không biết Lobsang Rampa là ai, một số khác nói Lobsang
Rampa là người khoe khoang bịp đời. Dù thế nào đi nữa Lobsang
Rampa cũng đã có công thu hút quần chúng phương tây tìm đến
Phật Giáo Tây Tạng qua những sách của ông. Ngay cả trong
giới Việt Nam, một số người đọc "Tây Tạng huyền bí"
do Nguyễn Hữu Kiệt dịch, cũng dần dà để ý đến Phật
Giáo Tây Tạng.
Ngoài
Lobsang Rampa, còn có hai người Âu tiên phong trong việc thám
hiểm và giới thiệu Phật Giáo Tây Tạng đó là bà Alexandra
David-Neel người Pháp và ông Anagarika Govinda người Ðức. Hai
người này đã viết nhiều sách kể lại cuộc hành trình
và tu học của họ tại xứ Tây Tạng. Những sách này rất
có giá trị và chính xác, bạn đọc có thể tìm thấy những
sách này trong phần Thư Mục. Nếu đọc để có một khái
niệm hay kiến thức về Phật Giáo Tây Tạng thì không có
gì đáng nói, nhưng từ đó mà muốn đi tu theo Tây Tạng thì
bạn đọc cần nhớ một điều: hai người trên đã kể lại
những dữ kiện và sự tu hành của họ tại xứ Tây Tạng
cách đây trên sáu bẩy chục năm. Hoàn cảnh, không gian, thời
gian đã thay đổi. Ngày nay chúng ta không thể làm giống như
họ, nghĩa là sang tận xứ Tây Tạng len lỏi vào các Tu Viện
nơi rừng sâu, núi thẳm để tầm Sư học Ðạo vì nhiều
lý do : 1/ Tây Tạng không phải dễ đi, lại nằm dưới sự
đô hộ của Trung Cộng - 2/ Hiện nay ở Âu Mỹ cũng có khá
nhiều Trung Tâm Phật Giáo Tây Tạng cùng với các vị Lama
và Rinpoché, ta có thể đến học Ðạo trực tiếp với các
ngài. Tuy nhiên sự học Ðạo với Tây Tạng tại Pháp hay Mỹ
sẽ không giống hoàn toàn như những điều mà bạn đã được
đọc trong các sách của Alexandra David-Neel hay của Anagarika
Govinda. Nói như vậy vì chính tôi đã lần mò học Ðạo với
Tây Tạng từ năm 1987 tới nay.
Năm
1985 tôi bắt đầu vào Chùa Linh Sơn tập sự tu học, sau sáu
tháng Hòa Thượng Huyền- Vi cho phép tôi làm lễ thế phát
xuất gia nhập chúng. Chương trình tu học ở đây tương đối
khá đầy đủ :
5g30
: Thức chúng.
6g
: Lăng Nghiêm, kinh hành.
7g30
: Ðiểm tâm.
8g
: Chấp tác.
10g
: Xem kinh, tự học.
11g45:
Ngọ trai.
13g
: Chỉ tịnh.
14g
: Vào lớp học.
16g
: Chấp tác.
18g
: Tịnh Ðộ, Cầu Siêu...
20g
: Vào lớp học.
22g
: Tọa Thiền.
23g30:
An tức.
Như
vậy mỗi ngày chúng tôi được học giáo lý hai lần vào buổi
chiều và buổi tối. Ngoài những bộ luật căn bản như Tỳ
Ni, Sa Di, Oai Nghi, Cảnh Sách, chúng tôi còn được học những
kinh luận khác cùng Sử Học, Hán văn và Pali. Ngoài giờ học,
Tăng Ni còn được vào Thư Viện tham khảo thêm các sách ngoại
quốc. Có thể nói đây là một điều may mắn cho những ai
ham học, vì theo tôi biết ở vài chùa khác, các chú tiểu
mới xuất gia chỉ được học bốn bộ luật Sa Di và hai thời
công phu mà thôi, không được đụng vào sách vở gì khác.
Hoặc có chùa thâu nhận đệ tử xuất gia mà không dạy dỗ
đến nơi đến chốn, chỉ để họ làm lụng suốt ngày hoặc
tụng kinh làm đám.
Ngày
tôi được thọ giới Sa Di, trong hàng giới Sư có hai vị ngoại
quốc đó là Guéshé Lobsang Tengyé mà chúng tôi quen gọi là
Thượng Tọa Tây Tạng và Thượng Tọa Pasadika người Ðức.
Guéshé
là một giáo phẩm tương đương với tiến sĩ Phật Học.
Guéshé Tengyé thuộc phái Guélugpa, tức phái Hoàng Mạo. Guéshé
Tengyé trước kia tá túc tại chùa Linh Sơn gần hai năm trước
khi được Lama Yéshé và Lama Zopa Rinpoché mời xuống Toulouse
làm trụ trì Tu Viện Institut Vajrayogini. Guéshé không biết
tiếng Pháp, nhưng nói được chút ít tiếng Anh. Thượng Tọa
Pasadika trước kia đã từng du học tại Thái Lan, Ấn Ðộ
và Nhật Bản. Trong thời gian ở Ấn Ðộ,Thượng Tọa học
ở Ðại Học Nalanda nên đã quen thân với quý Hòa Thượng
Minh Châu, Huyền Vi và Thiện Châu. Thượng Tọa là người
kiến văn quảng bác, thông thạo nhiều thứ tiếng (Anh, Pháp,
Thái, Ấn,Tây Tạng, Pali, Sanskrit), chính luận án tiến sĩ
của Thượng Tọa được viết bằng Sanskrit. Từ Ấn Ðộ
trở về Âu Châu, Thượng Tọa cũng tá túc tại Tự Viện
Linh Sơn hai năm trước khi về Ðức.
Vì
có nhân duyên với Linh Sơn nên cả hai vị, hàng năm đều
trở về chùa vào dịp Tết Nguyên Ðán và lễ Phật Ðản.
Mỗi lần như vậy tôi lại tìm cách gần gũi để thưa hỏi
đạo lý. Với Thượng Tọa Pasadika, tôi ưa hỏi về giáo lý
Trung Quán và Duy Thức, với Guéshé Tengyé thì tôi xin ngài
truyền dạy vài ba câu chú (mantra) của Tara, Văn Thù, Dược
Sư...
Trong
số huynh đệ đồng tu với tôi có hai người cũng thích Phật
Giáo Tây Tạng, đó là huynh Trí Pháp và Ni Cô Trí An. Hai người
này đọc sách và biết về Tây Tạng nhiều hơn tôi. Mỗi
lần Guéshé Tengyé về chùa, chính huynh Trí Pháp thúc giục
và bày cho tôi hỏi về những câu chú. Nhiều lần đọc trong
sách thấy nói về bài chú 100 chủng tự mà không tìm thấy
bài chú ở đâu nên huynh Trí Pháp nhờ tôi lên hỏi Guéshé.
Guéshé liền đọc bài chú cho tôi nhưng bài chú quá dài, vả
lại lúc đó tôi không biết tiếng Tây Tạng nên không lập
lại được. Túng thế, tôi bèn xuống nhà đem máy thu thanh
lên, xin Guéshé đọc chậm từng chữ, sau đó tôi nghe lại
và phiên âm ra nửa tiếng Việt nửa tiếng Pháp cho dễ đọc.
Ðược bài chú, huynh Trí Pháp mừng rỡ cảm ơn tôi ríu rít.
Lúc đó tuy chưa biết bài chú này là thế nào, công năng của
nó ra sao nhưng cứ nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của Guéshé Tengyé
khi tôi xin bài chú và sự mừng rỡ của huynh Trí Pháp, tôi
đoán có lẽ bài chú này linh thiêng nên cũng ráng học thuộc
lòng và tụng hàng ngày.
Mãi
sau này khi giao du với các chùa Tây Tạng, nghe họ tụng trong
khóa lễ tôi mới biết đó là bài chú 100 chủng tự của
Kim Cang Tát Ðỏa (Vajrasattva), có công năng tiêu trừ nghiệp
chướng.
Trong
ba người chúng tôi, có lẽ Ni Cô Trí An là người say mê Phật
Giáo Tây Tạng nhiều hơn hết. Cô rất thích trì chú, chú
Lăng Nghiêm và chú Lục Tự Ðại Minh (Om Mani Padme Hum). Trong
lúc tôi phải làm thơ ký thường trực cho chùa và hội, lo
việc thơ từ lăng xăng thì cô Trí An được giao phó làm Tri
Tạng trông coi thư viện, sắp xếp kinh sách, nhờ đó cô có
dịp tham khảo nhiều sách Tây Tạng. Chính cô đã kể sơ cho
tôi về các Sư Tây Tạng, Dalai Lama, Trungpa Rinpoché, Tarthang
Tulku ...
Tôi
mới thọ giới hôm 23/5 thì năm ngày sau tức 28/5 có đức
Dalai Lama đến viếng thăm Tự Viện Linh Sơn. Lúc đó tôi chưa
biết gì nhiều về ngài, chỉ biết sơ ngài là một nhân vật
quan trọng, vị lãnh đạo tối cao của chính phủ lưu vong
và Phật Giáo Tây Tạng.
Ðể
chuẩn bị đón tiếp ngài, Tăng Ni trong chùa trước đó đã
được phân chia công tác, phần tôi sẽ làm xướng ngôn viên
để giới thiệu tiểu sử của ngài cho Phật tử. Bởi thế
tôi đã phải vào thư viện lục các sách báo nói về ngài
đọc trước và nhờ vậy tôi mới biết nhiều hơn về ngài.
Hôm ngài đến, mặc dù là một ngày trong tuần nhưng Phật
tử đến chật ních. Họ đến đông như vậy để chiêm bái
đức "Phật sống" Tây Tạng. Danh từ "Phật sống" này tôi
không đồng ý lắm vì Phật sống tức không phải Phật chết,
mà Phật là người đã thoát ra ngoài vòng sống chết, đâu
thể nói Phật sống hay Phật chết. Hơn nữa đã có nhiều
người hỏi ngài có phải là Phật sống không, thì ngài trả
lời: "Tôi chỉ là một tu sĩ Phật Giáo mà thôi". Tôi còn
nhớ, trước khi ra về, ngài dạy cho Phật tử câu chú của
Phật Thích Ca, câu chú đó là: Om Muni Muni Maha Muniyé Soha. Sau
đó ngài ra xe để đến thuyết pháp tại Pavillon Baltar ở
tỉnh gần bên là Nogent-sur-Marne. Tôi may mắn đã được dự
buổi thuyết pháp này vì tôi làm tài xế chở hai vị Guéshé:
Lobsang Tengyé và Seunam Gyaltsen. Hai vị này đều thuộc phái
Guélugpa. Guéshé Tengyé xuất thân ở Phật Học Viện Séra,
Guéshé Seunam xuất thân ở Phật Học Viện Ganden. Trước kia
phái Guélugpa có ba Phật Học Viện lớn nhất quanh thủ đô
Lhassa. Phật Học Viện thứ nhất là Drépung với khoảng 8000
học Tăng, thứ hai là Séra với 5000 học Tăng, và sau là Ganden
với khoảng 3000 học Tăng. Sau khi Trung Cộng chiếm Tây Tạng
vào năm 1959, dân tỵ nạn Tây Tạng di cư sang Ấn Ðộ và
có tái lập lại ba trường Phật Học trên ở vùng Nam Ấn
nhưng số học Tăng chỉ còn trên dưới 500.
Ở
chương sau, tôi sẽ nói rõ hơn về bốn tông phái chính của
Tây Tạng và cách xưng hô giáo phẩm như Rinpoché, Guéshé,
Khenpo, v.v...
Sau
buổi viếng thăm của đức Dalai Lama tại Tự Viện, ai nấy
đều phải trở về sinh hoạt hàng ngày, Tăng Ni phải lo tu
học. Vì thế mà tôi cũng quên dần không để ý đến Phật
Giáo Tây Tạng nữa. Cho đến một hôm tôi nghe nói Ni Cô Trí
An sửa soạn xin đi Ấn Ðộ, Dharamsala, để tu học. Hỏi ra
tôi biết cô đã liên lạc với Doboom Tulku ở Tibet House. Vị
Lama này có ghé đến Linh Sơn một lần và tôi cũng tham hỏi
ngài về câu chú Chuẩn Ðề nhưng ngài bảo không biết gì
về chú này cả làm tôi thất vọng nên sau đó tôi không hỏi
thêm gì nữa. Ni Cô Trí An có rủ tôi cùng đi Ấn Ðộ tu học
với các Lama Tây Tạng nhưng lúc đó có lẽ nhân duyên chưa
đến và tôi nghĩ ở bên Pháp này cũng có nhiều Lama và chùa
Tây Tạng, đâu cần phải sang Ấn Ðộ, nên tôi đã từ chối.
Ngày
16/1/1987 Ni Cô Trí An lên đường đi Ấn Ðộ, sáng hôm đó
tôi định xuống lấy xe chở cô ấy ra phi trường Orly, nhưng
xuống tìm xe không thấy vì tối hôm trước có Thầy Giác
Hoàn đến mượn xe chùa mà tôi không hay. Tôi không nhớ lúc
đó tại sao không ai nghĩ ra chuyện gọi taxi mà lại để cho
cô ấy đi métro. Thấy tội nghiệp thân gái dặm trường,
một thân một mình, ra đi học Ðạo nơi xứ người nên Thầy
Quảng Duệ, Cô Trí Lạc và tôi xin đi tháp tùng và tiễn cô
ấy ra phi trường. Hôm đó trời mưa tuyết và métro cũng bị
trục trặc nhưng may sao chúng tôi đến kịp giờ và vẫy chào
cô ấy lần cuối.
Sang
Ấn Ðộ, Dharamsala, cô Trí An có biên thơ về chùa vài lần
kể lại chững buổi thuyết pháp của Ðức Dalai Lama, và có
gởi cho tôi quyển "Clear light of Bliss" của Guéshé Kelsang Gyatso.
Tôi có đọc qua nhưng không hiểu gì cả.
Từ
đó tôi mới có ý định đi tìm gặp các vị Sư Tây Tạng
ở Pháp để tham vấn. Dò hỏi tôi biết được Dagpo Rinpoché
dạy tiếng Tây Tạng ở Ðại học Dauphine Paris, và dạy Phật
Pháp mỗi tháng hai lần ở Montparnasse. Tôi liền đến phòng
giảng ở Montparnasse gặp Dagpo Rinpoché, xin ngài giảng dạy
cho tôi về Mật Tông (Tantra). Ai dè ngài bảo không biết gì
về Tantra cả, tôi bèn xin ngài giới thiệu cho tôi một vị
Lama nào khác biết về Tantra được không ? Ngài nói tôi có
thể đến tìm Guéshé Seunam Gyaltsen. Vị Guéshé này trước
đây tôi có dịp gặp ở chùa Linh Sơn. Tôi gọi điện thoại
xin đến tham hỏi đạo lý và được Guéshé chấp thuận.
Ðến nơi tôi thấy Guéshé ở chung nhà với một cô đầm
tên Marie-Stella. Cô nầy là giáo sư dạy tiếng Nhật, và cùng
lúc cũng là thông dịch viên cho các buổi thuyết pháp của
Dagpo Rinpoché. Dagpo Rinpoché tuy nói được tiếng Pháp nhưng
khi thuyết pháp thì lại nói bằng tiếng Tây Tạng.
Tôi
hơi băn khoăn tự hỏi sao Guéshé là một nhà Sư mà lại ở
chung với người nữ, vì như vậy không hợp với giới luật.
Tuy nhiên tôi bỏ qua vì mục đích của tôi là đến để hỏi
Ðạo chớ không phải đến để xoi mói, chỉ trích hay bắt
lỗi. Trong đời có rất nhiều hoàn cảnh éo le, khúc mắc
mà nếu thoáng nhìn ta dễ có những thành kiến, phán đoán
hấp tấp, sai lầm. Ðể tránh điều đáng tiếc này, ta cần
phải tìm hiểu để cảm thông trước khi phán xét trong chiều
hướng xây dựng chứ không nên buộc tội.
Guéshé
Seunam tuổi trạc 60, không biết tiếng Pháp, chỉ nói tiếng
Tây Tạng thôi. Trong các buổi tham vấn đều phải có Marie-Stella
làm thông dịch. Gặp Guéshé tôi vào đề ngay, xin ngài chỉ
dạy tôi về Mật Tông Tây Tạng. Nhưng Guéshé trả lời rằng
ngài không biết gì nhiều về Tantra cả. Lần nầy tôi đâm
ra nghi ngờ: "Chẳng lẽ mấy Sư Tây Tạng này không biết gì
về Mật Tông sao? Nhưng liền đó tôi nhớ lại chuyện của
Milarépa đã bị trải qua nhiều thử thách cay đắng trước
khi được Thầy là Marpa truyền trao giáo pháp. Bởi vậy tôi
nghĩ rằng có thể Guéshé Seunam từ chối để thử tôi chăng
? Nghĩ thế nên tôi trả lời : "Nếu ngài không dạy Mật Tông
thì thôi, nhưng xin ngài cho phép tôi đến tham vấn ngài về
Phật Pháp vậy". Ngài chấp thuận, và từ đó mỗi tháng hai
lần tôi đến tham hỏi đạo lý với ngài.
Cuộc
học Ðạo với Tây Tạng bắt đầu kể từ đây.
Mấy
tháng trôi qua, tôi vẫn không được nghe nói gì về Tantra
cả, và tuy mang tiếng là tham hỏi đạo lý chứ thật ra là
bị ngài chất vấn về Phật Pháp nhiều hơn.
Một
hôm vô tình tôi hỏi Guéshé, vì sao ngài không ở chùa Tây
Tạng thuyết giảng Phật Pháp cho Phật tử mà lại ở nhà
cư sĩ. Guéshé Seunam mới kể hoàn cảnh của ngài. Trước
kia ngài ở Dharamsala, nhân duyên đưa đẩy cô Marie-Stella sang
Dharamsala bảy tháng để học tiếng Tây Tạng. Cô gặp ngài
và thấy ngài đang bị bệnh nặng. Sau đó cô trở về Pháp
và làm giấy bảo lãnh cho ngài sang Pháp chữa bệnh. Sang đây
ngài phải ở nhà cô này cho hợp pháp và đúng với thủ tục
hành chánh.
Vào
đầu tháng 6/87, tôi đến gặp ngài như thường lệ để hỏi
Ðạo, bỗng nhiên ngài bảo tôi nếu muốn học Mật Tông thì
tháng 7 này hãy xuống Tu Viện Vajrayogini ở gần Toulouse gặp
Ganden Tripa Rinpoché. Vị nầy là Trưởng giáo thứ 98 của phái
Guélugpa, từ Ấn Ðộ, Dharamsala sang và sẽ truyền những lễ
Quán Ðảnh lớn như Yamantaka, Guhyasamaja v .v... Ngài bảo tôi
sau khi thọ lễ Quán Ðảnh xong, trở về đây có gì thắc
mắc về cách tu tập Tantra thì ngài sẽ chỉ cho.
Trước
đây tôi vẫn không hiểu vì sao Dagpo Rinpoché và Guéshé Seunam
cứ từ chối không chịu nói gì về Mật Tông với tôi cả.
Mãi sau này, sau khi thọ lễ Quán Ðảnh với Ganden Tripa Rinpoché
rồi ở tu hai tuần tại Tu Viện Nalanda tôi mới hiểu lý do
là trong 24 giới của Mật Tông (Samaya) có một giới cấm không
được tiết lộ Mật Tông cho những người chưa được thọ
lễ Quán Ðảnh (Abhisheka, Wang).
Ðầu
tháng 7/87 tôi xuống Institut Vajrayogini. Viện Trưởng là Guéshé
Lobsang Tengyé mà tôi đã thường gặp ở Linh Sơn trước đây.
Cách Institut chừng năm cây số là Monastère Nalanda. Ở Institut
dành cho Phật tử cư sĩ và các buổi lễ thuyết pháp công
cộng. Còn Nalanda dành cho chư Tăng ở tu niệm. Vì tôi là Tăng
sĩ nên Guéshé Tengyé bảo tôi về Nalanda ở, mỗi khi có lễ
Quán Ðảnh hoặc thuyết pháp thì hãy sang Vajrayogini.
Ở
bên Pháp các trung tâm Phật Giáo Tây Tạng thường mang tên
là Institut, ở đó chỉ có một hay hai vị Sư Tây Tạng thường
trú, còn ngoài ra đều là Phật tử cư sĩ. Các Sư Tây Tạng
này thường ở trong phòng riêng, tụng kinh trì chú hay làm
gì không ai biết. Các ngài chỉ xuất hiện khi thuyết pháp
hoặc chủ tọa các buổi lễ lớn. Ða số không nói được
tiếng Pháp vì các vị đều lớn tuổi, trạc khoảng 50, 60.
Riêng
Nalanda là một Tu Viện đúng theo nghĩa đen. Viện Trưởng là
Guéshé Jampa Thegchog, Tăng chúng chừng 15 người, đa số là
Mỹ, rồi đến Pháp, Ý, Tây Ban Nha. Chương trình ở đây chư
sau :
Sáng
:
6g30-7g30
Khoá lễ Lama Tcheupa (Guru offering)
8g
Ăn sáng
8g30-11g30
Tự tu tự học hay chấp tác
12g
Ăn trưa
Chiều
:
14g-16g
Học giáo lý với Guéshé Thegchog
16g-17g
Tranh luận (débate)
17g-18g
Khoá lễ Mahakala
Sau
khi lễ cho dến 10g tối, tự tu tự học. Buổi tối không có
người làm cơm, ai đói thì tìm đồ ăn dư buổi trưa mà ăn.
Ðời sống ở đây tương đối thoải mái, chỉ có ăn rồi
tu học, việc chấp tác không có bao nhiêu, chung qui chỉ sơn
quét, làm vườn cắt cỏ, giữ gìn cho Tu Viện đừng quá mục
nát. Phong cảnh chung quanh rất yên tĩnh, vì thuộc vùng quê.
Phía trước là cánh đồng, phía sau là rạch nhỏ. Tu Viện
không có Phật tử ra vào, nhờ vậy chư Tăng không phải bận
việc tiếp khách. Nhưng cũng vì thế mà không có lợi tức,
chư Tăng phải đóng góp tiền ăn ở mỗi tháng 700 quan. Người
nào có thí chủ hay thân nhân giúp đỡ hàng tháng thì khỏi
lo, còn không thì phải rời Tu Viện ra ngoài tìm việc làm
chừng ba hay bốn tháng, khi đủ tiền thì trở về tu tiếp.
Trở
lại việc tu học, Ganden Tripa Rinpoché là Trưởng giáo thứ
98 của phái Guélugpa nên các buổi lễ Quán Ðảnh và thuyết
pháp của ngài tất cả Tăng chúng Nalanda đều đi dự.
Trong
hai tuần, Ganden Rinpoché truyền trao ba lễ Quán Ðảnh:
1.
Yamantaka, Tạng ngữ là Dorjé Djikjé, Anh dịch là The Vajra Terrifier.
Dorjé có nghĩa là Kim Cang, Djikjé là làm cho người khác sợ.
Yamantaka là một Yidam (hoá thân) hung dữ của Văn Thù Sư Lợi.
Mật Tông Tây Tạng thường có hai loại Yidam: hung dữ (wrathful)
và hiền hòa (peaceful). Lý do là trong tâm thức chúng sinh đều
có hai loại chủng tử thiện và ác, bởi thế chư Bồ Tát
cũng thị hiện lúc hiền lúc dữ để hoá độ chúng sinh.
Yamantaka
thuộc loại Ðại lễ Quán Ðảnh (Wang chen, Great Initiation).
Buổi lễ kéo dài hai hoặc ba ngày. Sau khi thọ lễ này, người
đệ tử xem như đã được Ðiểm Ðạo (initié), vì đã được
vị Lama hướng dẫn vào Mandala và trình bày cách thức quán
tưởng liên quan đến Yidam. Và từ đó, người đệ tử có
thể tham vấn các Lama khác về Mật Tông mà không sợ bị
giấu diếm hay từ chối. Kalacakra, Guhyasamaja, Hévajra, Cakrasamvara,
Vajrayogini đều thuộc loại này.
2.
Cittamani Tara. Tạng ngữ là Dreulma. Ðây là một Yidam hiền
hoà hình tướng người nữ. Dân Tây Tạng thường cầu đến
vị nầy mổi khi gặp tai nạn.
3.
Avalokitesvara, Tạng ngữ là Chenrézi, Việt ngữ là Quán Thế
Âm Bồ Tát. Hình tướng của vị nầy không giống như của
Việt Nam. Quán Âm Bồ Tát của Tây Tạng là một người nam
với bốn tay: một tay cầm chuỗi hạt, một tay cầm hoa sen,
hai tay giữa cầm ngọc mani. Tụng chú và quán tưởng Yidam
này có công năng làm tăng trưởng tâm từ bi.
Nhờ
sống chung và trao đổi với các Sư Âu Mỹ ở Nalanda mà tôi
hiểu biết hơn về Tantra, so với trước đây chỉ nghiên cứu
đọc sách một mình.
Trước
khi tiếp tục về cuộc hành trình tu học của tôi, thiết
nghĩ cần phải giới thiệu sơ đến bạn đọc các tông phái
chính của Phật Giáo Tây Tạng.
Tông
phái Tây Tạng
Các
tông phái Phật Giáo Tây Tạng có rất nhiều, nhưng tựu chung
không ngoài bốn phái chính: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa, và Guélugpa.
1.
Nyingmapa.
"Nyingma
" có nghĩa là cổ, cũ; "pa" nghĩa là người theo phái. Nyingmapa
được dịch là phái Cổ Mật. Khoảng thế kỷ thứ 8, vua
Tây Tạng Trisong Détsen để ý đến Ðạo Phật nên đã mời
hai vị Sư Ấn là Shantaraksita và Padmasambhava sang truyền giáo.
Ðặc biệt trong hai vị thì Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) nổi
tiếng là bậc đại học giả của phái "Kim Cang Thừa" (Vajrayana)
Ấn Ðộ. Theo lời truyền tụng, chính vị Sư này đã dùng
thần thông và bùa phép để hàng phục ma quái và bọn phù
thủy bản xứ (thuộc Ðạo Bön), từ đó vua và toàn dân đều
quy phục theo Phật Giáo. Dân Tây Tạng gọi ngài là Guru Rinpoché
(vị Ðạo Sư quý báu), và thờ ngài là Sơ Tổ của phái Nyingmapa.
Kể
từ thế kỷ thứ 11, danh từ Nyingmapa (Cổ Mật) mới được
áp dụng để phân biệt các trường phái mới xuất hiện
sau thời kỳ pháp nạn dưới triều vua Langdarma. Nhà vua này
nghe lời dèm pha của Ðạo Bön, ra lệnh tiêu diệt Phật Giáo,
phá chùa, giết Tăng. Hơn hai năm sau, có một vị Sư tên Palgyi
Dorjé lẻn vào cung ám sát vua rồi trốn đi mất. Nhờ đó
Phật Giáo không bị tiêu diệt hoàn toàn.
Những
người tu theo phái này không bắt buộc phải xuất gia cạo
tóc, phần đông là cư sĩ, có gia đình vợ con. Cha làm trụ
trì, khi chết truyền lại cho con, nếu không có con thì truyền
lại cho đệ tử. Việc truyền thừa không được hệ thống
hoá một cách rõ ràng. Do đó, những vị nào tu hành đạo
cao đức trọng thì được xem hoặc tôn lên làm trưởng giáo
phái.
Cách
đây mấy năm vị trưởng giáo phái là Dujom Rinpoché rồi đến
Dilgo Khyentsé Rinpoché. Hiện nay ở Âu Mỹ có hai vị Lama nổi
tiếng thuộc phái này đang hoằng pháp đó là Tarthang Tulku
Rinpoché và Sogyal Rinpoché.
Về
pháp tu, tinh túy của phái này là Dzogchen (Maha Ati) dịch là
Ðại Thành Tựu. Giáo lý của Dzogchen, theo tôi thấy, có rất
nhiều nét giống Thiền Tông Trung Hoa.
2.
Kagyupa.
Ka
có nghĩa là khẩu, cái miệng; Gyu là giòng truyền. Kagyupa được
dịch là phái Truyền Khẩu. Sơ Tổ của phái nầy là Tilopa,
đạo sư Du Già (Yogi) người Ấn, nhị Tổ là Naropa. Khoảng
thế kỷ 11, Marpa người Tây Tạng sang Ấn thọ giáo với Naropa
rồi trở về xứ, truyền lại cho Milarépa. Bốn vị Tổ đầu
đều là cư sĩ, trong đó có hai vị rất nổi tiếng : Naropa
và Milarépa.
Naropa
xuất thân là Viện Trưởng Tu Viện Nalanda, rất tinh thông
Phật Pháp. Nhưng một hôm có một bà lão đến hỏi ngài :
- Bạch
Thầy, Thầy hay đọc những kinh sách kia, vậy Thầy có hiểu
nghĩa không ?
Naropa
đáp : - Hiểu.
- Vậy
Thầy đã chứng nghiệm được những điều đó chưa?
Tới
đây Naropa lúng túng, thú thật rằng chưa.
Bà
lão nói :- Thầy hãy nên đi tìm Tilopa, em tôi, hắn có thể
giúp Thầy chứng nghiệm những điều đó.
Thế
là Naropa liền từ bỏ chức Viện Trưởng, ra đi tìm Tilopa
để thọ giáo. Sau 12 lần bị Tilopa thử thách cam go, Naropa
đã đạt Ðạo và trở thành một trong 84 vị Ðạo sư nổi
tiếng đắc đạo của Ấn Ðộ.
Sau
này các pháp Yoga Tây Tạng đều bắt nguồn từ sáu pháp Du
Già (Yoga) của Naropa.
Milarépa
là một nhân vật nổi tiếng nhất của xứ Tây Tạng, trong
dân gian sau này, già trẻ lớn bé, không ai mà không biết chuyện
của Milarépa. Cuộc đời Milarépa là một chuỗi dài cay đắng,
nhưng cuối cùng lại kết thúc một cách rất vẻ vang.
Thuở
nhỏ, sau khi cha mất, gia đình Milarépa còn lại mẹ và em gái.
Thấy cháu còn nhỏ và bà chị yếu đuối, cặp vợ chồng
dì dượng đã ra tay cướp đoạt gia tài, nhà cửa, ruộng
đất và hành hạ mẹ con Milarépa. Oán hận ngập đầu, mẹ
của Milarépa bắt con phải trốn đi học đạo bùa phép để
sau này trở về trả thù.
Milarépa
vâng lời mẹ ra đi, sau khi học xử dụng bùa phép thành công,
trở về trả thù, ra tay giết chết một lúc hơn 30 mạng người.
Sau vụ này Milarépa hối hận, lương tâm cắn rứt, bỏ ra
đi một lần nữa, nhưng lần này ra đi tầm Ðạo giải thoát,
trước là tẩy rửa tội lỗi, sau là cầu thoát khỏi sinh
tử luân hồi. Milarépa đến tìm Marpa để cầu Ðạo. Sau sáu
năm bị thử thách, mắng chưởi, hất hủi, Milarépa đã được
Marpa truyền dạy toàn bộ giáo pháp và trở nên người kế
thừa của Marpa. Sau khi lãnh thọ giáo pháp, Milarépa từ giã
Thầy, một mình lang thang lên dãy Tuyết Sơn, ẩn tu trong các
hang động, sống cuộc đời du sĩ khổ hạnh. Sau 12 năm, Milarépa
hoàn toàn chứng ngộ, và theo truyền thuyết Tây Tạng, Milarépa
đã thi triển rất nhiều thần thông để hàng phục Ðạo
Bön và hóa độ đệ tử.
Milarépa
có rất nhiều đệ tử nhưng người được kế thừa là Gampopa,
một Tăng sĩ xuất thân từ phái Kadampa. Kể từ Gampopa, giới
luật được thiết lập rõ ràng, và các vị kế thừa sau
đều là Tăng sĩ. Nối tiếp Gampopa là Dusum Khyenpa tức Karmapa
I, vị này trước khi chết đã dặn dò chi tiết cho đệ tử
đi tìm hậu thân tái sinh của mình, và cứ thế từ đời
này sang đời khác, vị Karmapa hiện nay là hậu thân thứ 17.
Ở
Âu Mỹ, phái Kagyupa có nhiều Trung tâm hơn cả. Những vị
Lama có công hoằng pháp thuộc phái này gồm : Chögyam Trungpa
Rinpoché, Kalou Rinpoché, Shamar Rinpoché, Chimé Rinpoché...
Về
pháp tu, tinh túy của phái này là Mahamudra (Ðại Thủ Ấn)
và sáu Yoga của Naropa (Naro-cheudrug). Giáo lý Mahamudra tương
tựa lối tu Chỉ Quán, thường được giảng dạy trước công
chúng; riêng sáu Yoga của Naropa được giữ gìn cẩn mật,
chỉ được truyền dạy trong những khóa tu nhập thất ba năm.
Ở
những chương sau tôi sẽ có dịp nói thêm về sáu Yoga của
Naropa.
3-
Sakyapa
Phái
nầy bắt nguồn từ Tu Viện Sakya, tiếng Tây Tạng có nghĩa
là đất xám, được xây vào năm 1073, ở miền nam Tây Tạng.
Những vị trụ trì đều thuộc một gia đình họ Khön. Giáo
lý của phái này nằm trọn trong bộ Lamdré (Con đường và
Ðạo quả). Năm vị Tổ đầu tiên của phái nầy là Sachen
Kunga Nyingpo, hai người con trai là Sonam Tsemo, Dragpa Gyatsen, cháu
là Sakya Pandita, chắt là Chögyal Phagpa. Cả năm vị này đều
được xem là hoá thân của Văn Thù Sư Lợi. Trong năm vị
nầy, nổi tiếng hơn hết là Sakya Pandita. Ông ta thông thạo
tất cả các bộ môn đời cũng như Ðạo. Các trước tác
và dịch thuật từ tiếng Sanskrit của ông vang tận Ấn Ðộ
và Mông Cổ. Vua Mông Cổ lúc bấy giờ là Kubilai (cháu của
Thành Cát Tư Hãn) mến phục và mời ông sang làm Quốc sư.
Nhờ đặc ân của Vương triều Mông Cổ nên phái Sakyapa đã
có một ảnh hưởng rất lớn về tôn giáo lẫn chính trị
trên toàn quốc trong hai thế kỷ 13 và 14. Sau này chính Tsongkhapa
Sáng Tổ của phái Guélugpa cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều
của phái này.
Phái
này hiện nay ở Âu Mỹ không được bành trướng lắm.
4.
Guélugpa
Guélugpa
tiếng Tây Tạng có nghĩa là đạo đức. Phái này còn có tên
khác là Hoàng Mạo (mũ vàng). Sáng Tổ là Tsongkhapa (1357-1419)
lúc đầu học Hiển Giáo theo trường Kadampa, sau tu theo Mật
Giáo. Vì thấy Mật Giáo Tây Tạng lúc bấy giờ đi vào trụy
lạc nên ngài đưa hết năng lực vào sự nghiệp vận động
cải cách Phật Giáo, lập lại một hệ thống tổ chức mới.
Tuy cũng là Mật Giáo nhưng lấy giới luật làm trọng nên
gọi là Hoàng Mạo Phái khác với những phái cũ gọi là Hồng
Mạo Phái. Giáo lý căn bản của phái này nằm trong bộ Lam
Rim (con đường thứ lớp) và Nga Rim (Mật Giáo thứ lớp).
Tsongkhapa
có hai đệ tử lớn, Dharma Rinchen và Gendun Drup. Dharma Rinchen
kế thừa pháp đăng của Hoàng Mạo Phái. Còn Gedun Drup năm
1439 được lên làm vua, nắm quyền cai trị quốc dân và là
Sơ Tổ của Ðạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama). Sau mỗi đời, Dalai
Lama tái sinh trở về ngôi vị quốc vương và pháp vương.
Ðức Dalai Lama hiện nay là đời thứ 14 tên là Tenzin Gyatso,
người được lãnh giải Nobel hoà bình năm 1989.
5.
Danh Xưng
a/
Lama
Chữ
Lama bắt nguồn từ tiếng Phạn Guru có nghĩa là đạo sư.
Nói đơn giản Lama (Lạt Ma) có nghĩa là Thầy. Không phải
người xuất gia nào thọ Tỳ Kheo cũng được gọi là Lama.
Người xuất gia dù là Sa Di (Guétsul) hay Tỳ Kheo (Guélong) đều
được gọi chung là Trapa (nhà Sư). Tiếng Lama được dành
riêng cho những vị Sư có học thức, có khả năng hướng
dẫn đệ tử tu hành, những vị trụ trì, Guéshé hoặc Khenpo.
Một
vị Lama tu hành chứng đắc thì được giáo hội hoặc các
trưởng lão phong cho chức Rinpoché, có nghĩa là đại quý báu.
Ngày
nay danh từ Lama hơi bị lạm dụng, có lẽ vì lịch sự hay
kính trọng các Sư Tây Tạng nên người ta gọi chung tất cả
là Lama, bất kể trình độ tâm linh hay chứng đắc của vị
đó.
Nếu
chỉ xuất gia thọ giới thôi thì không được xem là Lama mà
là Trapa. Muốn trở thành Lama thì phải trải qua nhiều năm
tốt nghiệp về Phật Học. Riêng phái Kagyupa, người tu phải
nhập thất ba năm, sau đó mới được gọi là Lama.
b/
Guéshé
Chữ
Guéshé bắt nguồn từ chữ Phạn Kalyanamitra, có nghĩa là thiện
tri thức. Riêng phái Guélugpa, danh xưng Guéshé rất có giá
trị vì đó là bằng Phật Học cao nhất tương đương với
tiến sĩ. Người muốn đậu bằng này phải học ở một trong
ba trường lớn: Ganden, Drépung, Séra. Thời gian học từ 10
đến 20 năm tùy căn cơ. Ðậu bằng Guéshé rất khó vì phải
thi tuyển, hàng năm mỗi trường chỉ cho đậu vài người
giỏi nhất mà thôi. Ðức Dalai Lama thứ 14 cũng là một vị
Guéshé.
c/
Khenpo
Chữ
này bắt nguồn từ chữ Phạn Acarya, tiếng Hán dịch âm là
A-xà-Lê, có nghĩa là giáo thọ, Thầy dạy học, dạy giáo
lý. Danh xưng này được dùng nhiều trong phái Kagyupa. Những
vị Lama sau này di cư sang Ấn Ðộ tốt nghiệp bằng Acarya
ở Ðại học Ấn, trở về Tu Viện được làm trụ trì, thường
được gọi là Khenpo.
d/
Tulku
Bắt
nguồn từ chữ Phạn Sambhogakaya, có nghĩa là hoá thân. Những
vị Lama tu hành chứng đắc, sau khi chết tái sinh lại và đệ
tử tìm ra đưa về Tu Viện thì được gọi là Tulku. Những
vị Lama lớn như Karmapa, Dalai Lama, Panchen Lama v.v... đều là
Tulku.
Thường
những vị Tulku, sau khi được đệ tử tìm ra đều phải học
lại theo một chương trình rất nghiêm khắc ở các Phật Học
Viện để sau này trở về lãnh lại chức vị trụ trì hoặc
Tu Viện Trưởng.
Nếu
một vị Tulku mà không học lại hoặc không có bằng cấp
nào thì chức Tulku cũng không có giá trị gì mấy.
Tất
cả những danh xưng Lama, Guéshé, Khenpo, Rinpoché, Tulku, một
khi được gọi là kể như thuộc sở hữu trọn đời. Dù
là xuất gia hay cư sĩ, dù còn tu hay hết tu, danh xưng giáo
phẩm vẫn giữ nguyên. Trong những danh xưng trên, Rinpoché có
giá trị nhất về phương diện tâm linh tu chứng. Về học
thức thì Guéshé là cao nhất.
Một
vị Lama có thể vừa là Tulku, Guéshé và Rinpoché như Dalai
Lama chẳng hạn. Nhưng một khi được gọi là Rinpoché rồi
thì những danh xưng kia không đáng kể nữa. Dân Tây Tạng
không gọi Dalai Lama mà gọi ngài là Gyalwa Rinpoché.
Nhập
thất
Sau
kỳ thọ giáo với Ganden Tripa Rinpoché, mùa hè 87, tôi trở
về Paris tiếp tục tham vấn với Guéshé Seunam. Tuy tôi đã
thọ lễ Quán Ðảnh rồi nhưng Guéshé Seunam vẫn không chịu
dạy tôi về Tantra. Sau này tôi mới biết là Guéshé chỉ thích
dạy về Lam Rim (Con đường thứ lớp) thuộc Hiển Giáo. Do
đó tôi ngừng học với Guéshé và tìm nơi tịnh tu. Tôi đã
ghé đến Thiền Ðường Sakyamuni vùng Fontainebleau, ở bốn
tháng tu Thiền Minh Sát trước khi đi Ấn Ðộ chiêm bái Phật
tích. Sau ba tuần ở Ấn Ðộ, trở về Pháp tôi đến Niệm
Phật Ðường Linh Sơn ở Poitiers xin tá túc ẩn tu. Nơi đây
rất ít Phật tử, quang cảnh yên tĩnh, phía sau Niệm Phật
Ðường có khu rừng nhỏ với lạch suối chảy ngang. Mỗi
ngày tôi đi tản bộ ngắm trời, ngắm cỏ cây mây nước.
Tịnh tu ở đây được bốn tháng, tôi ghé qua Tu Viện Nalanda
thăm Guéshé Thegchog và các Sư Âu Mỹ một thời gian trước
khi trở về nhập hạ và dự lễ khánh thành Ðại Tùng Lâm
Linh Sơn. Trong ba tháng hạ, tôi được chỉ định làm Thống
Sự. Nhờ làm Thống Sự nên tôi mới biết là việc cai quản
Tăng chúng không phải là "nghề" của tôi. Ðại chúng khoảng
30 vị, đa số đều lớn tuổi, trung niên xuất gia, nên không
phải dễ nói. Tôi nói ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi.
Ðạo Phật là Ðạo tự giác, đâu thể dùng quyền chức mà
ép buộc kẻ khác phải nghe mình. "Nghề" của tôi có lẽ là
nghề "đi đảo". Ðây là danh từ quý Thầy thường dùng để
chỉ các Thầy tu không chịu ở yên một chỗ tu hành mà cứ
đi đây đi đó.
Sau
ba tháng hạ, tôi xin từ chức Thống Sự để trở về nghề
cũ là nghề đi lang thang tìm Ðạo. Cuối năm 88, tôi ghé đến
Dagpo Kagyu Ling để học một tuần về Dzogchen với Guendun Rinpoché.
Từ trước đến nay tôi vẫn theo phái Guélugpa, đây là lần
đầu tiên tôi đến với phái Kagyupa. Guendun Rinpoché tuổi
trạc 70, xuất thân từ phái Kagyupa nhưng có học Ðạo với
phái Nyingmapa. Ngài nổi tiếng đã nhập thất gần 30 năm và
được Karmapa thứ 16 đặc phái sang truyền Ðạo ở Pháp.
Trong tuần học Ðạo nơi đây, tôi nghe nói Guendun Rinpoché
đang tuyển chọn đệ tử cho kỳ nhập thất ba năm sắp tới.
Từ lâu vẫn muốn nhập thất tịnh tu nên tôi đã ghi danh
và được Guendun Rinpoché chấp thuận. Sau khi được chấp
thuận, chúng tôi phải lo đủ hai điều kiện:
1.
Gom đủ tài chánh để đóng trong ba năm.
2.
Học tiếng Tây Tạng cho rành, nếu không nói thạo thì cũng
phải đọc được nhanh như người Tây Tạng. Vì trong ba năm
tất cả nghi lễ đều viết bằng chữ Tây Tạng.
Về
tài chánh, tôi may mắn có một số Phật tử chung nhau đóng
góp cho tôi hàng tháng trong ba năm. Ở những Tu Viện nhập
thất không có Phật tử ra vào nên không có tài chánh. Người
tu phải đóng tiền ăn ở và tu học. Trong khi đó tu ở chùa
Việt Nam thì được nuôi ăn ở và còn được Phật tử cúng
dường.
Về
tiếng Tây Tạng, tôi phải về Paris ghi danh ở Ðại Học INALCO
Paris Dauphine để học với Dagpo Rinpoché trong hai năm.
Hè
năm 89 tôi về ở Institut Karmapa, Nice, gần hai tháng để tập
sự với Lama Khenpo Thubten. Ở đây tôi và hai vị nữa thay
phiên nhau làm cơm cho Viện Trưởng Khenpo Thubten. Là một Tăng
sĩ Việt Nam ăn chay mà phải làm cơm mặn kể cũng ngược
đời. Có một lần, tôi thấy ngày nào Khenpo cũng ăn thịt,
nên hôm đó tôi không làm thịt mà làm món trứng tráng cho
ngài. Vào bữa ăn, không thấy thịt, Khenpo lẳng lặng đứng
dậy mở tủ lạnh lấy thịt làm lấy một mình. Từ đó chúng
tôi hiểu là ngày nào cũng phải có thịt cho ngài.
Lâu
lâu tôi phải trở lại Dagpo Kagyu Ling để nhận lãnh những
giáo lý sửa soạn cho sự nhập thất như: Tcheu, Dorjé Pamo,
Mahakala...
Hè
năm 90 chúng tôi phải có mặt ở Kundreul Ling để xây thất.
Ðó là những dãy nhà gồm 8 đến 10 phòng. Công việc xây
cất bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào đầu tháng 2 năm
91. Chúng tôi chính thức nhập thất vào cuối tháng 2.
Ở
chùa Việt Nam mang tiếng là Ðại Ðức nên Phật tử đâu
có cho tôi vào bếp làm cơm và cũng đâu có ai bắt tôi làm
công quả. Vào chùa Tây Tạng thì tôi không còn là một Ðại
Ðức nữa mà giống như bao đệ tử Âu Mỹ khác. Trong mùa
hè tôi được cởi trần mặc quần xà loỏng, khiêng gạch,
vác đá, đẩy xi măng, xây tường, leo mái nhà, đóng cột,
lắp ngói, v.v...
Sau
đây là chương trình tu học ba năm của chúng tôi:
1.
Năm thứ nhất:
- Ngeundro
(pháp dự bị tu tập) gồm lễ lạy, tụng chú Kim Cang Tát
Ðỏa 100 chủng tự, Cúng dường Mạn Ðà La, Bổn Sư Du Già.
Mỗi thứ 100.000 lần. Muốn biết chi tiết xin tìm đọc quyển
"Ðại Thủ Ấn".
-
Lodjong, Karmapkshi, Shiné, Milarépa, Gampopa, Lhaktong.
2.
Năm thứ hai:
- Mikyeu
Dorjé, Dorjé Pamo (Vajravarahi)
3.
Năm thứ ba:
- Sáu
pháp Du Già của Naropa gồm: Tumo, Gyulus, Eussel, Milam, Powa, Bardo
Thödol.
-
Tsoklé, Dreulkar.
Những
danh từ Tây Tạng ở đây được viết theo kiểu phiên âm,
không đúng với chính tả.
Tất
cả đều là những pháp môn Tây Tạng, không có pháp tương
đương mà người Việt thường biết nên tôi không nói chi
tiết. Riêng có Shiné và Lhaktong thì tương đương với chỉ
quán của Thiền. Shiné (Samatha): chỉ; Lhaktong (Vipassana): quán.
Riêng
sáu pháp Yoga của Naropa tôi rất thích vì nó hấp dẫn và
đặc biệt. Tumo tiếng Anh dịch là Inner Fire, tạm dịch là
Nội Hỏa. Gyulus (Illusory body) huyễn thân, Eussel (Clear Light)
Thanh Quang, Milam (Dream Yoga) Thùy Miên Du Già, Powa (Consciousness
transference) Chuyển thần thức, Bardo Thödol (Intermediate state
liberation) Giải thoát Trung ấm thân.
Ở
đây xin nói sơ qua đặc tính của sáu pháp tu này.
1.
Tumo: Nội Hỏa.
Có
người dịch là lửa tam muội. Chữ tam muội (samadhi) nghe hơi
kêu một chút. Xưa kia các vị A La Hán trước khi nhập Niết
Bàn thường thị hiện 16 phép thần thông rồi sau cùng dùng
lửa tam muội tự đốt cháy thân mình. Tumo không giống như
vậy.
Ở
Tây Tạng, những hành giả Du Già (Yogi) thường ẩn tu nơi
rừng sâu núi thẳm để tránh những cặp mắt tò mò và sự
quấy rầy của thường dân. Tây Tạng núi tuyết quanh năm,
khí hậu băng giá, do đó những Yogi cần phải có sức khỏe
hơn người và nhất là sức chịu lạnh mới có thể ngồi
yên tu hành trong hang núi tuyết. Nếu không được vậy thì
phải an phận tu hành trong các Tu Viện, có đầy đủ tiện
nghi ấm cúng hơn. Tumo là pháp tu phối hợp với hít thở của
Yoga, Tây Tạng gọi là Boum Chen (hít thở bình) nhằm làm khơi
dậy luồng hỏa hầu nằm ở luân xa thứ 2, dưới rốn độ
bốn ngón tay. Ðạo Sư nổi tiếng về Tumo là Milarépa, Nhị
Tổ của phái Kagyupa. Ông ta phải tốn 12 năm tu luyện trên
dãy Tuyết Sơn mới thành tựu pháp môn này. Người chứng
đắc môn này được gọi là Répa (người áo vải), có thể
cởi trần ngồi suốt đêm trên tuyết mà không thấy lạnh.
Muốn biết về Milarépa xin tìm đọc quyển "Milarépa, con người
siêu việt" do Ðỗ Ðình Ðồng dịch.
2.
Gyulus: Huyễn thân.
Trong
pháp môn này hành giả quán chiếu thân mình như huyễn, không
có thật, như bóng trong gương. Sau đó quán chiếu thân thể
kẻ khác cũng vậy, rồi đến cảnh vật xung quanh. Người
chứng đắc môn này có thể tàng hình hoặc hóa hiện ra nhiều
thân cùng một lúc. Nếu chưa chứng đắc thì cũng giúp hành
giả dễ giải thoát trong cảnh giới Trung Ấm.
3.
Eussel: Thanh Quang.
Pháp
môn này liên quan đến sự chết. Theo Tây Tạng thì có lục
đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Khi chết, địa
đại tan rã trước rồi đến thủy đại và các đại khác
tuần tự tan rã sau. Khi thức đại tan rã thì trước mắt
người chết hiện ra một cảnh giới ánh sáng, gọi là Thanh
Quang. Người tu Mật Tông cần phải nhận ngay ra ánh sáng này
và hoà nhập vào nó thì tức khắc giải thoát sinh tử luân
hồi. Người thường không biết tiến trình tan rã của lục
đại và cũng không nhận ra ánh sáng nên rơi vào cảnh Trung
ấm, bị lôi cuốn theo nghiệp mà tái sinh. Pháp tu Eussel liên
quan mật thiết với Tumo vì cần phải quán tưởng nhiều về
Tsa, Lung, Tiglé. Tsa tiếng Phạn là Nadi, là các đường kinh
mạch của thân vi tế. Theo Mật Tông con người có hai thân:
thân thô kệch là thân tứ đại mắt thường thấy được,
thân vi tế là thân cấu tạo bởi các đường kinh (Nadi) và
luân xa (chakras) mắt thường không thấy được, chỉ những
người có thần nhãn (clairvoyance) mới nhìn thấy. Lung tiếng
Phạn là Prana, luồng nguyên khí hay sinh khí chạy trong Nadi
để nuôi thân vi tế. Tiglé, tiếng Phạn là Bindu, có nghĩa
giọt nước, nước ở đây không phải là nước lã hay nước
uống mà là nước tâm. Theo Mật Tông, tâm không phải hoàn
toàn vô hình tướng mà nó có thể cô đọng lại thành một
giọt nước di động trong các đường kinh Nadi.
Giáo
lý về Tsa, Lung, Tiglé là trọng tâm của Mật Tông và nhất
là của sáu pháp Du Già Naropa.
4.
Milam: Thùy miên Du Già.
Pháp
tu này, hành giả tập đi vào giấc ngủ một cách ý thức
và ngay trong giấc mơ vẫn làm chủ được mình. Thành tựu
pháp môn này, trong giấc ngủ, hành giả có thể đi khắp cảnh
giới, viếng các cõi Tịnh Ðộ, học Ðạo với chư Phật
Bồ Tát. Nếu chưa thành tựu thì khi chết cũng giúp cho hành
giả tự chủ trong cảnh Trung ấm.
5.
Powa: Chuyển thần thức.
Ở
đây hành giả tập tống thần thức của mình lên trên đỉnh
đầu để khi chết thần thức về thẳng cõi Tịnh Ðộ của
Phật Di Ðà hoặc của chư Phật khác, khỏi phải trải qua
cảnh Trung ấm (Bardo). Pháp này cũng dùng đến cách hít thở
Boum-chen và quán tưởng Tsa, Lung, Tiglé. Tuy vậy tương đối
dễ thành tựu hơn bốn pháp trước.
6.
Bardo Thödol: Giải thoát Trung ấm thân.
Bardo
có nghĩa là khoảng giữa (của sự chết và tái sinh). Thö
là nghe, dol là giải thoát. Bardo Thödol là sự giải thoát trong
cảnh Trung ấm qua sự nghe. Nói đơn giản, đó là sự tiếp
độ người chết, đặc biệt của Tây Tạng. Pháp này không
cần tu tập gì cả, chỉ cần học và nghe qua nhiều lần.
Ðến khi chết, chỉ cần người quen hoặc chư Tăng đến đọc
bộ Bardo Thödol khiến thần thức kẻ chết nhớ lại và làm
theo lời chỉ dẫn thì có thể giải thoát về cõi Tịnh Ðộ.
Về
Bardo Thödol, tiếng Việt dịch là Tử Thư Tây Tạng, bạn có
thể tìm đọc quyển "Bên kia cửa tử" do Trần Ngọc Anh dịch
hoặc quyển "Trở về từ cõi sáng" của Nguyên Phong.
Mặc
dù được tu học với Phật Giáo Tây Tạng, nhưng bây giờ
tôi không còn tiếp tục những pháp môn này nữa. Nếu thích,
bạn có thể tìm đến các Trung Tâm Tây Tạng hỏi Ðạo các
vị Lạt Ma. Tùy theo căn cơ và nghiệp duyên, bạn sẽ tìm
được một người xứng đáng là Thầy của bạn, đó gọi
là trò nào Thầy nấy.
Âm
dương, Nam nữ
Theo
thường lệ, người tu phải tránh xa sắc dục, xem nữ sắc
như rắn độc. Riêng người Á Ðông thấm nhuần truyền thống
Nho Giáo, "Nam Nữ thọ thọ bất thân", nói đến chuyện nam
nữ là điều tối kỵ. Người thường đã vậy, nói chi đến
người tu. Nhưng oái ăm thay! Ở đời cái gì càng cấm người
ta lại càng thích. Không thích được trước mặt thì thích
sau lưng, điều này tiếng Pháp gọi là "fausse pudeur" tức là
tiết hạnh giả, trước mặt thì bẽn lẽn ngượng ngùng nhưng
sau lưng thì liếc mắt đưa tình, thầm thương trộm nhớ.
Tôi
biết có vài Thầy rất ghét phái nữ, ghét ra mặt, nhưng chính
mấy Thầy này lại là những người hoàn tục lấy vợ sớm
hơn ai khác. Ở đời có câu: "ghét của nào, trời trao của
đó". Nghe qua thấy ông Trời bất công, nhưng thật ra ưa ghét
chỉ là sự xung đột mâu thuẫn của nội tâm. Những người
hoàn tục đâu phải họ không muốn tu, họ là những người
muốn tu và giữ giới nghiêm chỉnh hơn ai hết, nhưng họ chỉ
giữ giới tướng mà không hiểu giới tánh. Họ không hiểu
chính họ. Con người là một loại chúng sinh, tiếng Phạn
là Sattva có nghĩa là loài hữu tình, có tình cảm. Và như
vậy con người không phải là rô bô, bấm nút ưa là ưa, bấm
nút ghét là ghét. Người tu ưa sống với lý trí hơn tình
cảm vì cho tình cảm là ràng buộc, từ đó có quan niệm tu
là phải cắt đứt tình cảm. Theo tôi nghĩ, con người cần
phải dung hòa cả hai, lý trí và tình cảm. Nếu chỉ có lý
trí mà không tình cảm thì trở thành lưu manh, xảo quyệt,
ích kỷ, vô lương tâm. Chữ tâm, tiếng Tàu có nghĩa là tim
(quả tim), trung tâm của tình cảm, người có tâm là người
có tim, có lòng, biết thương yêu kẻ khác. Do đó chữ tâm
đi đôi với tình cảm. Không nên lầm lẫn tâm (heart) với
tâm ý hay ý thức (consciousness). Ý thức đi đôi với lý trí.
Nếu chỉ có tình cảm mà thiếu lý trí thì dễ đa tình, dễ
cười, dễ khóc. Ða tình ở đây nên hiểu là giàu tình cảm.
Tới bây giờ chữ đa tình thường mang nghĩa xấu, do đó chúng
ta không được đa tình!
Ban
đầu đi tu, tôi cũng không hiểu rõ lý trí và tình cảm, chỉ
biết tu là phải dẹp hết tình cảm, vùi đầu vào kinh sách
để tìm chân lý. Càng cứng rắn, nhạt nhẽo chừng nào thì
huynh đệ và Phật tử lại có vẻ nể khen là tu giỏi, tu
khá! Mải mê chạy theo lý trí, thỏa mãn trí thức, thường
xuyên quán chiếu để dập tắt tình cảm, lục dục nên sau
một thời gian tôi không ngờ là quả tim mình đã trở thành
khô héo. Trong Ðạo Phật có danh từ gọi là càn huệ, một
loại trí huệ khô cằn. Nhiều người tu hay mắc bệnh này,
Tam Tạng Kinh Ðiển rất thông nhưng cư xử lại thiếu tình
người, chỉ biết sai khiến Phật tử, củng cố địa vị,
danh vọng của mình.
Không
phải tự nhiên mà tôi nhận ra được quả tim mình khô héo
đâu. Phải có nguyên do và triệu chứng chứ! Số là trong
lúc nhập thất ba năm, vào những buổi lễ, tôi thường làm
lopeun hoặc oumzé, tức là chủ lễ, vì tôi tụng tiếng Tây
Tạng nhanh hơn các bạn đồng tu. Ðây cũng là một vinh dự
cho tôi, nhưng theo luật bù trừ thì trong cái lợi có sẵn
mầm của cái hại, hoặc nói cách khác càng leo cao thì dễ
té đau. Ðúng ra trong nhóm tu mười lăm người, mỗi người
phải thay phiên nhau làm chủ lễ và xử dụng các nhạc khí
như: radong, kyangling, gyaling, reulmo, v.v... nhưng đến các buổi
lễ lớn với Sadhana dài như Mahakala, Dorjé Pamo, Dorjé Sempa
thì tôi phải lãnh việc chủ lễ. Mỗi buổi lễ như thế
kéo dài từ sáu đến tám tiếng đồng hồ. Sang năm thứ hai,
tôi bắt đầu chán và mệt vì yếu hơi không thể dẫn chúng
được nữa. Cùng lúc tôi hay bị tức thở và nhói nơi ngực.
Sau cùng tôi đành phải bỏ luôn chức chủ lễ, tuy thế tôi
vẫn bị khó thở giống như có một cục đá đè nơi ngực
vậy. Tôi bị khổ sở trong mấy tháng trời, áp dụng đủ
mọi cách hít thở Yoga phối hợp với Thiền tọa nhưng chỉ
bớt chút ít thôi, vì hễ tụng lớn một chút lại bị tức
thở hụt hơi ngay. Mãi sau này, khi ra thất tôi có dịp nghiên
cứu thêm về tâm lý học, Ðông-Y và tu tập Yoga ở Trung Tâm
Sivananda, tôi mới hiểu rõ phần nào căn bệnh của mình. Lúc
đầu tôi đổ tại nghiệp, nghĩ chắc là mình tạo ác nên
nay phải trả nghiệp tức ngực, khó thở, vì các Sư Tây Tạng
tụng kinh suốt bảy, tám tiếng đồng hồ mà đâu có ai tức
ngực khó thở.
Trong
Y học dân tộc có câu : "Thông, tắc bất thống, thống, tắc
bất thông."
Khí
huyết lưu thông thì không có nơi nào bị bế tắc mà sinh
ra bệnh. Nếu có bệnh tức là khí huyết không thông.
Theo
Tây-Y, nguyên nhân gây ra bệnh là vi trùng. Cách chữa bệnh
của họ là cho thuốc giết vi trùng. Nếu thử máu, chiếu
điện không thấy triệu chứng bất thường thì đối với
họ, bạn không có bệnh.
Theo
Ðông-Y, nguyên nhân gây ra bệnh là sự mất thăng bằng âm
dương trong cơ thể, khiến khí huyết không lưu thông, tĩnh
mạch bế tắc, tạng phủ suy nhược. Từ đó vệ khí (khí
bao bọc chung quanh người) yếu dần, vi trùng, vi khuẩn dễ
xâm nhập. Vi trùng ở đâu chả có, nó đầy khắp trong không
khí, khi cơ thể yếu, kháng trùng ít thì nó xâm nhập. Nếu
so sánh thì quan niệm nguyên nhân gây ra bệnh của Ðông-Y vi
tế hơn Tây-Y một bậc. Nhưng con người đâu phải chỉ có
thể xác không thôi, còn có tinh thần nữa. Thất tình, lục
dục quá nhiều cũng có thể gây ra bệnh, điều này Ðông-Y
có nói tới.
Khi
nói đến bệnh, người ta thường chia ra làm hai loại: thân
bệnh và tâm bệnh, tới bây giờ các tôn giáo chỉ chú trọng
chữa tâm bệnh thôi, còn thân bệnh để dành cho các bác sĩ
và lương y. Trên lý thuyết phân chia như vậy có vẻ dễ giải
quyết, nhưng thực tế đâu phải như thế. Thân và tâm đâu
phải là hai thực thể cách biệt, thân tâm thẩm thấu vào
nhau. Thân bệnh thì làm sao tâm vui cho được trừ khi bạn
là người tu cao đã đạt đến trạng thái Bất động Ðịa.
Và nếu tâm buồn thì thân cũng khó mà an. Do đó có những
bệnh gọi là bệnh tâm thể (psychosomatique), do những cảm
xúc (émotion) phát xuất từ tâm rồi truyền dần phát ra thành
bệnh nơi thể xác. Ða số người tu, do dồn nén tình cảm,
từ chối thể chất, nên dễ mắc bệnh này. Chính tôi là
một bệnh nhân, bệnh tức ngực, khó thở của tôi cũng thuộc
loại này. Quý Thầy bị bệnh tiểu đường, ung thư, các Sư
Cô bị bệnh tử cung, phần lớn cũng do tâm thể dồn nén
cảm xúc, từ chối không muốn biết đến thân thể của mình
vì cho nó "bất tịnh". Tôi đã tụng Tâm Kinh Bát Nhã hàng
ngày mà hình như hai chữ bất cấu, bất tịnh vẫn chưa in
vào đầu tôi được chút nào, có lẽ vì cái ngã Ðại Ðức
của tôi chỉ muốn mình là Thầy tu chân tịnh mà thôi.
Vì
lầm cho Tu chỉ là Tu tâm, nên tôi đã làm ngơ đối với thể
xác của mình,và như vậy tôi đâu có tu thân. Khi tâm tham
khởi lên, tôi biết có tâm tham và tôi thiền quán để chữa
cho tâm hết tham, đó là tôi chữa (tu) tâm khỏi bệnh tham.
Nhưng khi đau bụng, nhức đầu, khó thở tôi đâu có biết
đó là những dấu hiệu cầu cứu (S.O.S.) của thân, nó báo
cho tôi hay là có những sự bất ổn bên trong, và tôi cứ
làm ngơ tụng kinh, ngồi thiền, dùng ý chí khống chế thể
xác. Ðương nhiên tôi có thể khống chế như vậy được
vài lần, vài tháng, vài năm và tôi sẽ cảm tưởng rằng
tôi làm chủ được thân thể mình, nhưng thực tế thì tôi
là một kẻ ngu si đè nén cảm xúc, tạo ra nội kết. Ðến
một ngày nào những nội kết này bộc phát ra thành bệnh.
Như vậy bệnh là một tiếng chuông tỉnh thức, một thiền
trượng gõ vào đầu thiền sinh mê ngủ hoặc đang chìm trong
dòng ảo tưởng. Bệnh khổ đương nhiên là một nghiệp quả,
nhưng đó là kết quả của sự vô minh. Tôi vô minh không biết
tu thân,nên đã tạo nghiệp khiến cho thân phải bị bệnh.
Trong
quyển "Con đường chuyển hóa", Thầy Nhất Hạnh đã dùng
đến danh từ "nội kết" rất hay. Tới bây giờ Phạn ngữ
Samyojana được dịch là kiết sử, kiết là kết tụ lại
thành một khối, sử là ràng buộc và sai sử. Khi nói đến
kiết sử, ta thường liên tưởng đến mười phiền não gốc
: tham, sân, si, mạn nghi, thân kiến, biên kiến v.v .... nhưng
ta không ý thức được tính cách đúc tụ thành một khối
của chúng. Chữ nội kết rất hợp với tâm lý học hiện
đại, nó bao gồm tất cả những loại tình cảm đa dạng.
Con người là loài hữu tình, nếu bảo tu là dứt hết tình
cảm trở thành vô tình như cây như đá thì có khác gì bảo
con người đừng làm người nữa. Từ tình cảm (sentiment)
sinh ra cảm xúc (émotion), trong Ðạo Phật thường gán cảm
xúc vào phiền não (émotion perturbatrice) và đa số thường
có khuynh hướng đàn áp tiêu diệt cảm xúc. Ðây là điều
không hợp khoa học. Cảm xúc là những năng lượng (énergie)
rất mạnh không thể bị đè nén. Thí dụ một người bình
thường có vẻ yếu ớt, nhưng khi cơn giận nổi lên, anh sẽ
cảm thấy sức mình như tăng vọt lên gấp mấy lần. Với
sức mạnh này anh có thể giúp ích hay làm hại kẻ khác tùy
theo sự hiểu biết hoặc vô minh của anh.
"Con
đường chuyển hoá" cũng bàn đến cách thức chuyển hoá nội
kết rất có giá trị. Mật Giáo Tantra không chủ trương tiêu
diệt phiền não mà ngược lại đón tiếp ân cần để chuyển
hoá chúng.
Ngoài
cách thức quản lý những cảm xúc, Tantra đặc biệt nhấn
mạnh đến việc chuyển hoá năng lượng tính dục (énergie
sexuelle). Ðây là một quan niệm khác hẳn với quan niệm tu
là phải diệt dục của Hiển Giáo truyền thống. Hiển Giáo
hình như chỉ chú trọng đến việc tu tâm tích đức, tiêu
diệt phiền não để cõi lòng được thanh tịnh. Trong khi đó,
Mật Giáo Tantra chú trọng đến tất cả khía cạch của năng
lượng (énergie). Mùa đông ở Âu Mỹ trời lạnh, người ta
thường dùng thức ăn có nhiệt tố cao (calorie), những thức
ăn này chuyển thành nhiệt lượng giúp cơ thể chịu lạnh.
Như vậy thức ăn tiềm chứa trong đó những năng lượng của
sức nóng. Nhưng nếu gặp trời lạnh, ta cứ cầm trong tay
mấy củ khoai hay cà rốt, mong cho nó sưởi ấm mình thì bạn
nghĩ sao? Hay là ta phải ăn vào thì những năng lượng kia mới
chuyển hóa thành nhiệt lượng giúp cơ thể ta ấm hơn lên.
Tất cả sự vật mà ta quen gọi là lục trần (sắc, thanh,
hương, vị xúc, pháp) đều có những năng lượng tiềm tàng
của chúng. Nếu ta thông minh và biết cách xử dụng chuyển
hóa chúng thì sự tu hành sẽ dễ đạt kết quả. Do đó Mật
Giáo Tây Tạng chủ trương rằng Tantrayana (Mật Thừa) dẫn
đến Phật quả nhanh hơn Sutrayana (Kinh Thừa).
Về
màu sắc, các Sư Tây Tạng mặc màu đỏ chát (bordeaux) vì
màu đỏ có khả năng kích thích năng lượng sinh tồn (énergie
vitale) và nhiệt lượng giúp họ có sức chịu lạnh. Hơn nữa
màu đỏ thuộc cực dương, xứ Tây Tạng rất lạnh thuộc
cực âm, mặc màu đỏ ở xứ lạnh cũng là một cách quân
bình âm dương. Trong bảy màu của ánh sáng mà mắt thường
có thể thấy được, có ba màu thuộc dương : đỏ, cam, vàng,
và bốn màu thuộc âm : xanh lá cây, xanh da trời, xanh nước
biển, tím. Mỗi màu sắc đều có những năng lượng riêng
của nó. Trong các Mạn Ðà La (Mandala) của Tây Tạng, nếu
để ý bạn sẽ thấy nhiều màu sắc đủ loại được sắp
xếp theo luật rung động của năng lượng (loi d'énergie vibratoire).
Các
kinh chú Tây Tạng thường được tụng với giọng rất trầm
khác với giọng bổng của người Việt. Vì giọng trầm có
khả năng kích thích các luân xa (chakras) phía dưới cơ thể,
nơi tiềm tàng năng lượng sinh tồn (énergie vitale) và năng
lượng tính dục (énergie sexuelle).
Các
hình Phật Tây Tạng thường được vẽ dưới trạng thái
Yab-Yum. Yab có nghĩa là Cha, Yum là Mẹ. Yab-Yum có nghĩa là giao
hợp, tương đương với nghĩa Yoga (union) là hợp nhất. Tới
đây tôi nhớ lại một lần, các Lạt Ma Tây Tạng tặng cho
thư viện Chùa Linh Sơn mấy tấm tranh Phật (thangka), trên đó
có hình Phật Yab-Yum. Sư Cô tri tạng trông coi thư viện lúc
bấy giờ không dám treo lên, vì Sư Cô nói với tôi rằng :"Hình
Phật gì mà kỳ quá! Sao họ lại vẽ hình Phật ôm người
nữ"? Nhưng hình Phật Yab-Yum chỉ là biểu tượng, Phật nam
tượng trưng cho phương tiện thiện xảo (upaya), Phật nữ
tượng trưng cho trí huệ (prajna). Sự hợp nhất giữa nam tính
và nữ tính, hoặc âm dương, là chìa khóa căn bản của Tantra
tối thượng (Anuttara Yoga Tantra).
Tantra
Tây Tạng được chia làm bốn loại :
1 -
Kriya Tantra.
2
- Carya Tantra.
3
- Yoga Tantra.
4
- Anuttara Yoga Tantra.
Tantra
nào cũng dẫn đến giải thoát, nhưng khác nhau ở phương tiện
tu hành. Trong ba năm nhập thất, tôi được học nhiều về
Anuttara Yoga Tantra. Anuttara, Hán Việt phiên âm là A Nậu Ða
La có nghĩa là không gì cao hơn. Loại Tantra này xử dụng nhiều
đến năng lượng cảm xúc (énergie émotionnelle) và năng lượng
tính dục (énergie sexuelle). Khi nói đến tính dục thì phải
nói đến âm tính và dương tính, hoặc nói cách khác là nữ
tính và nam tính. Chữ tính ở đây không phải là tính tình
mà là nguyên lý (principe). Vạn vật trong vũ trụ đều có
thể xếp vào hai loại: âm và dương. Ở đây ta tìm thấy
giáo lý của Ðạo Lão, bậc thánh nhân là người biết sống
thuận với Trời Ðất, Trời thuộc dương, Ðất thuộc âm.
Ta cũng thấy sự trùng hợp với y lý cổ truyền, người mạnh
khỏe là người biết điều hoà quân bình âm dương trong cơ
thể. Con người có hai loại: nam và nữ. Một ngày hai mươi
bốn tiếng cũng có hai phần: ngày và đêm. Một cục nam châm
cũng có hai đầu: cực dương và cực âm. Ðiện cũng có hai
loại: điện âm và điện dương. Một hạt nguyên tử cũng
có dương tử (proton) và âm tử tức điện tử (electron).
Nói
chung tất cả đều có thể xếp loại âm dương. Âm tính thì
bị thu hút bởi dương tính và ngược lại dương tính cũng
bị thu hút bởi âm tính. Khi trưởng thành, người nam thường
đi tìm một người nữ để kết hôn. Người thường không
để ý tại sao lại như vậy? Họ cho rằng đó là lẽ tự
nhiên, Ông Trời sinh ra như thế thì cứ sống như thế, hơi
đâu mà tìm hiểu làm chi cho mệt. Sự kết hôn nam nữ là
việc đi tìm hạnh phúc trăm năm, vì người đàn ông là một
nửa vòng tròn (bán cầu) đi tìm một nửa vòng tròn khác để
kết hợp lại thành một vòng tròn. Khi vòng tròn được thành
hình thì gọi là viên mãn, viên là tròn, mãn là đầy đủ.
Viên mãn tức là hạnh phúc. Nhưng thực tế đâu phải đơn
giản như vậy. Vấn đề thường xẩy ra là hai nửa vòng tròn
kia không cùng kích thước. Một nửa quá lớn hoặc một nửa
quá nhỏ. Và như vậy thì không có sự viên mãn, tức không
có hạnh phúc. Trên phương diện tình cảm một người nam
khi gặp một người nữ hợp nhãn, hợp ý, thì tưởng rằng
hai người có thể sống chung hạnh phúc. Nhưng sau một thời
gian, anh nhận ra mình đã tưởng lầm. Ðến đây thường có
hai trường hợp: hoặc anh ta chịu sống trong đau khổ cố
giữ hai bán cầu không cùng kích thước dính vào nhau, hoặc
anh ly dị để tìm một nửa vòng tròn khác với hy vọng rằng
nó sẽ cùng kích thước với nửa vòng tròn của anh. Nhiều
khi gặp hên, hoặc do phước duyên đời trước, anh tìm được
một nửa vòng tròn đúng kích thước, một người yêu lý
tưởng, thuận vợ, thuận chồng, sống hạnh phúc cho đến
đầu bạc răng long.
Người
thường là như vậy, còn người tu thì sao? Người tu đâu
có thể lấy vợ, lấy chồng được! Mà nếu thế thì âm
dương mất quân bình, và người tu sẽ mãi mãi là một nửa
vòng tròn cho đến hết đời. Nửa vòng tròn thì đâu gọi
là viên mãn. Không viên mãn thì làm sao có hạnh phúc, có an
lạc được! Nếu tu là để thiếu thốn, khao khát hạnh phúc
thì tu làm chi cho khổ! Có người sẽ trả lời : tu là khổ
bây giờ để có hạnh phúc mai sau. Nếu được như vậy thì
tốt lắm, nhưng chỉ sợ không được như vậy thôi! Nếu
tu mà có được hạnh phúc ngay bây giờ và luôn cả mai sau
thì có tốt hơn không?
Thật
ra người tu vẫn đi tìm một nửa vòng tròn khác để kết
hợp lại thành một vòng tròn. Sự kết hợp này gọi là hợp
nhất (nhập lại thành một) tiếng Phạn gọi là Yoga (union).
Hành giả Ấn Giáo Yogi, tu tập Du Già (Yoga) để tìm sự hợp
nhất với Brahma (Phạm thiên). Các tu sĩ Ðạo Thiên Chúa cũng
đi tìm sự trở về với Thượng Ðế. Thiền Sư đi tìm sự
trở về với bổn tánh hay Phật tánh. Người tu khôn khéo
là người biết đi tìm nửa vòng tròn kia ngay nơi mình, không
tìm kiếm bên ngoài. Ðó là lý do tại sao Thiền Sư không đi
tìm Phật bên ngoài. Nhưng đâu phải người tu nào cũng biết
như vậy. Vấn đề mà tôi muốn nói ở đây là sự giải
quyết những năng lượng tính dục nơi người tu, nhất là
cho những thanh thiếu niên xuất gia. Họ là những người ở
lứa tuổi mà năng lượng tính dục đang phát triển mạnh
nhất, khác với những người lớn tuổi đã có gia đình,
vợ con rồi mới xuất gia. Năng lượng tính dục hay bất cứ
năng lượng nào khác cũng cần được hiểu để xử dụng
và chuyển hóa trong việc tu hành.
Tôi
rất vui khi về Làng Hồng thấy Tăng Ni ở đó được quyền
chơi đá banh, bóng chuyền. Ðó là những hình thức lành mạnh
giúp cho những năng lượng trong cơ thể có cơ hội thoát tiết
ra ngoài để quân bình hóa âm dương. Ở Việt Nam, quý Hoà
Thượng hay Thượng Tọa cũng chơi thể thao, bóng bàn hoặc
luyện võ như các Sư Chùa Thiếu Lâm trong phim Tàu, v.v...Ðó
là những phương tiện thiện xảo (upaya) để quân bình hóa
những năng lượng trong tâm hồn và thể xác. Nếu không có
những cơ hội như vậy thì người tu sẽ phải đè nén tình
cảm, đàn áp cảm xúc và từ từ đi đến chỗ sinh bệnh.
Tệ hơn nữa là các vị quản chúng, chúng trưởng thường
không có khái niệm về khoa học, sinh lý, tâm lý và y lý nên
thay vì tìm phương cứu chữa, lại gieo vào đầu bệnh nhân
mặc cảm tội lỗi: "Chắc con nghiệp nặng nên mới ra nông
nỗi này" hoặc "Ðây là bệnh nghiệp, thôi con ráng trả",
hoặc "ráng trì kinh Dược Sư đi sẽ khỏi", v.v...
Trở
về giáo lý Tantra mà tôi được học, con người có hai thân:
thân tứ đại thô kệch và thân vi tế. Trong thân vi tế có
đến 84.000 kinh mạch nhưng quan trọng nhất là ba kinh chính:
Tạng ngữ là Uma, Roma, Kyangma, Phạn ngữ là Sushumna, Pingala,
Ida. Sushumna là kinh chính giữa chạy dọc theo xương sống từ
trên đỉnh đầu xuống tới hậu môn. Ida và Pingala là hai
kinh phụ bắt đầu từ hai lỗ mũi chạy lên đỉnh đầu rồi
trở xuống quyện quanh Sushumna và giao nhau ở các luân xa (chakras).
Ida là kinh bên trái màu trắng tượng trưng cho năng lực của
mặt trăng thuộc âm. Pingala là kinh bên phải màu đỏ tượng
trưng cho năng lực của mặt trời thuộc dương. Mục đích
của hành giả Tantra là làm sao hít thở điều khiển đưa
hai luồng khí âm dương nhật nguyệt từ Ida và Pingala xuống
dưới hậu môn chạy trở vào kinh chính Sushumna, đánh thức
luồng hỏa hầu Kundalini nằm ở luân xa thứ nhất (Muladhara).
Kundalini là một năng lực vô cùng siêu phàm, nó sẽ chạy
dọc theo kinh chính đi qua từng luân xa một để cuối cùng
lên đến luân xa thứ bảy (Sahasrara) và từ đó nhập một
với Thượng Ðế, Phạm Thiên, Phật hay Chúa... Khi đưa được
hai luồng khí prana vào Sushumna, hành giả sẽ có cảm giác
khoái lạc tương đương với sự giao hoan của nam nữ. Do đó
hành giả Tantra không cần phải đi tìm một người nam hay
nữ bên ngoài để giao hoan mà tìm cách giao hợp ngay trong thân
mình hai tính âm dương nam nữ.
Người
tu là người biết được nửa vòng tròn khiếm khuyết kia
nằm sẵn tiềm tàng nơi mình và tìm cách làm nó phát hiện
để cuối cùng chính mình trở thành một vòng tròn viên mãn.
Một
người đàn ông mà nghĩ rằng mình phải là nam nhi chi chí,
không được có nữ tính thì người đàn ông này dễ trở
thành vũ phu, không biết thông cảm niềm đau nỗi khổ của
vợ con.
Một
người đàn bà hoàn toàn nữ tính, yếu đuối ủy mị, đa
sầu đa cảm, không có được một chút cứng rắn của nam
tính thì người đàn bà này sẽ dễ đau khổ vì tình, thường
có khuynh hướng đi tìm một đấng "anh hùng" để nương tựa,
và vô tình hay cố ý cam chịu cuộc đời "chồng chúa vợ
tôi".
Tóm
lại người tu hay nói chung là người muốn sống an vui hạnh
phúc cần phải biết những nguyên lý âm dương nam nữ hầu
giải tỏa và chuyển hoá những nội kết cảm xúc của mình.
Nếu
tu chỉ là tu tâm mà thôi thì sự tu đó còn thiếu phân nửa.
Ðối với tôi, tu là tu cả hai: tu thân lẫn tu tâm. Tinh thần
và thể xác luôn đi đôi. Không thể có một tinh thần bạc
nhược trong một thể xác tráng kiện hay tinh thần minh mẫn
trong một thể xác bệnh hoạn.
Luân
xa
Luân
xa tiếng Phạn là chakra, nghĩa là bánh xe hay vòng tròn xoay
quanh trục của nó. Luân xa là những nhà máy thâu và phát
năng lượng (centrale d'énergie). Trong Yoga của Ấn Ðộ Giáo
nói chung có bốn loại:
1.
Karma Yoga.
2.
Bhakti Yoga.
3.
Jnana Yoga.
4.
Raja Yoga.
Yoga
có nghĩa là trở về hợp nhất với một đối tượng. Trong
Ấn Giáo, hành giả Yogi tìm sự hợp nhất với Brahma (Phạm
thiên) hay Thượng Ðế.
Trong
Karma Yoga, hành giả làm tất cả hành động bất vụ lợi,
đây là con đường của phục vụ và xả thí nhằm trừ bỏ
tiểu ngã hay phàm ngã để trở về với Ðại ngã hay Chân
ngã.
Trong
Bhakti Yoga, hành giả hướng hết tâm trí về Thượng Ðế
qua sự sùng kính lễ bái, tụng niệm kinh chú. Qua sự tín
tâm như vậy họ mong nhập một với Thượng Ðế.
Trong
Jnana Yoga, hành giả tìm sự giải thoát qua trí huệ, qua sự
nghiên cứ kinh điển Veda, suy tư quán chiếu về tự tánh.
Trong
Raja Yoga, hành giả tập làm chủ cả thân và tâm qua sự tu
tập tám bộ môn hay tám nhánh: yama, niyama, asana, pranayama, pratyahara,
dharana, dhyana và samadhi.
Ngày
nay ở Âu Châu, người ta hay tập Hatha Yoga, môn này là một
phần nhỏ của Raja Yoga, nó bao gồm hai nhánh: asana là những
tư thế luyện thân và pranayama là phép luyện hơi thở để
thanh lọc các đường Kinh (nadi), trong đó có ba kinh quan trọng
(đã nói ở trước).
Trong
Phật Giáo cũng chia hành giả làm ba loại:
1.
Trí huệ Bồ Tát (pannadhika, pali). Vị này chú trọng phát triển
trí huệ và thực hành thiền định nhiều hơn là nhiệt thành
với những hình thức lễ bái cúng dường bề ngoài.
2.
Tín đức Bồ Tát (saddhadhika). Vị này đặt trọn niềm tin
nơi hiệu lực của tâm thành. Tất cả những hình thức lễ
bái thờ phượng là sở trường của ngài.
3.
Tinh tấn Bồ Tát (Viriyadhika). Vị này luôn luôn tìm cơ hội
để phục vụ kẻ khác. Không có gì làm cho Tinh tấn Bồ Tát
hoan hỷ bằng tích cực phục vụ. Ðối với ngài, làm việc
là hạnh phúc, hạnh phúc là làm việc.
Qua
hai sự xếp loại trên, ta thấy có sự tương đồng giữa:
* Trí
huệ Bồ Tát và hành giả Jnana (Jnana Yogi)
*
Tín đức Bồ Tát và hành giả Bhakti (Bhakti Yogi)
*
Tinh tấn Bồ Tát và hành giả Karma (Karma Yogi).
Có
nhiều Phật tử quan niệm rằng Yoga là ngoại đạo, không
nên pha lẫn với Phật Giáo. Theo tôi Yoga là một môn khoa học
như toán, lý hóa, điện tử, v.v... nó không phải là một
tôn giáo, không phải là sở hữu của Ấn Giáo, ai cũng có
thể tập được hết. Võ Thiếu Lâm đức Phật đâu có dạy,
sao các Sư chùa Thiếu Lâm lại tập? Máy vi tính đâu phải
là phát minh của Phật Giáo, sao ngày nay chùa viện nào ở
Âu Mỹ cũng dùng?
Trong
Anuttara-Yoga-Tantra của Mật Giáo Tây Tạng cũng nói nhiều về
ba kinh (Sushumna, Ida, Pingala) và luân xa (chakras), nhưng chỉ đề
cập tới bốn thay vì bảy luân xa.
Xin
kể sơ lược về bảy luân xa, sau này nếu có dịp tôi sẽ
viết nhiều hơn về chi tiết.
Có
bảy luân xa chính nằm dọc theo đường kinh trung ương Sushumna
từ dưới xương cùng lên tới đỉnh đầu.
1.
Luân xa thứ nhất: Muladhara chakra (sanskrit).
Vị
trí nằm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục, tương đương
với huyệt Hội Âm của châm cứu học. Nó được biểu hiện
bằng một bông sen bốn cánh màu đỏ, chủng tự tiếng sanskrit
của nó là LAM. Luồng hỏa hầu Kundalini nằm phục ở đây.
Hành giả Yogi khi thành tựu phép quán tưởng luân xa này, sẽ
làm chủ được địa đại, tiêu trừ nghiệp quá khứ, biết
được ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, thọ hưởng niềm
hoan lạc tự nhiên.
2.
Luân xa thứ hai: Svadhisthana chakra.
Vị
trí nằm dưới rốn chừng bốn ngón tay, tương đương với
huyệt Quan nguyên, biểu hiện bằng bông sen sáu cánh màu cam,
chủng tự là VAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này sẽ
làm chủ được thủy đại và các giác quan, biết được
cảnh Trung giới (monde astral). Tham ái, giận hờn, ngã mạn,
ganh tỵ và các phiền não khác đều được tiêu trừ. Vượt
thoát tử thần.
3.
Luân xa thứ ba: Manipura chakra.
Vị
trí ở giữa rốn và xương ức (sternum), tương đương với
huyệt Trung quản. Biểu hiện bằng bông sen mười cánh màu
vàng, chủng tự là RAM. Người Yogi thành tựu phép quán luân
xa này sẽ làm chủ hỏa đại, không còn sợ lửa thiêu đốt,
hoàn toàn thoát khỏi bệnh tật.
4.
Luân xa thứ tư: Anahata chakra.
Vị
trí ở giữa ngực, tương đương với huyệt Ðản trung. Biểu
hiện bằng bông sen mười hai cánh màu xanh lá cây, chủng tự
là YAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này, làm chủ phong
đại, tùy ý bay lượn trong không gian hoặc chui nhập vào thân
người khác, đầy đủ đức tính của chư thiên và tình thương
vũ trụ.
5.
Luân xa thứ năm: Visuddha chakra.
Vị
trí ở ngay dưới cổ, tương đương với huyệt Thiên đột.
Biểu hiện bằng bông sen mười sáu cánh màu xanh da trời.
Chủng tự là HAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này sẽ
làm chủ không đại, thân thể không bao giờ tàn hoại, ngay
cả khi thế gian bị tiêu diệt, đạt được trí huệ thông
suốt bốn kinh Veda và ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.
6.
Luân xa thứ sáu: Ajna chakra.
Vị
trí ở giữa hai chân mày nơi mà huyền môn thường gọi là
con mắt thứ ba, tương đương với huyệt Ấn đường. Biểu
hiện là bông sen hai cánh màu xanh nước biển, chủng tự là
A. Thành tựu phép quán luân xa này, người Yogi tận trừ nghiệp
quá khứ, trở thành người hoàn toàn giải thoát ngay trong
hiện đời, đạt được tám phép thần thông (siddhi) và ba
mươi hai phép phụ.
7.
Luân xa thứ bảy: Sahasrara chakra.
Vị
trí ngay trên đỉnh đầu, tương đương với huyệt Bách hội.
Biểu hiện bằng bông sen ngàn cánh màu tím, trắng, vàng. Chủng
tự là OM. Khi luồng hoả hầu Kundalini chạy lên tới đây,
hành giả Yogi nhập một với Thượng Ðế, trở thành một
bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Ðây là mục đích tối
hậu của mọi hành giả yogi.
Sự
trình bày bảy luân xa ở trên thuộc truyền thống kinh điển
Tantra. Ngoài ra theo tâm lý học và tâm thể học thì mỗi luân
xa liên quan đến một loại cảm xúc (émotion) và sự vận
hành của các tuyến nội tiết (glande endocrine) trong cơ thể.
Như
đã nói ở trước, luân xa là nhà máy thâu phát năng lượng.
Thâu hút năng lượng trong vũ trụ thiên nhiên rồi phát ra
nuôi dưỡng các thân (thô và tế). Nơi người khỏe mạnh
bình thường, bảy luân xa này đều hoạt động đúng mức,
không nhanh không chậm, không nghẽn tắc. Nhưng khi bị xúc
động mạnh về tình cảm hoặc uất ức đè nén cảm xúc,
hoặc bị tai nạn xúc chạm mạnh nơi thân thì các luân xa
có thể bị tổn thương, hoạt động bất thường, chiều
quay lệch lạc. Từ đó cơ thể mất dần năng lượng, Ðông-Y
gọi giai đoạn này là khí huyết không thông. Ta có thể đi
châm cứu, uống thuốc bổ, nhưng đó chỉ là gỡ gạc một
phần nào thôi, không thể tái lập quân bình hoàn toàn được,
vì vết thương nằm sâu nơi luân xa. Lý thuyết âm dương,
ngũ hành, kinh mạch của Ðông-Y đã được du nhập Phật Giáo,
trong giới Tăng sĩ đã có những danh y như Tuệ Tĩnh thiền
sư (thế kỷ 14) và gần đây là Thượng Tọa Thích Tâm Ấn.
Tăng Ni cũng có những người đi học châm cứu để cứu nhân
độ thế, thực hiện lý tưởng từ bi của Bồ Tát. Nay nếu
biết được lý thuyết luân xa, ta có thêm khí cụ và phương
tiện cứu nhân độ thế hữu hiệu hơn nữa.
* Luân
xa thứ nhất: Muladhara, chủ trì năng lượng sinh tồn (énergie
vitale), nói tắt là sinh lực, ý chí vui sống. Người tu mà
có tâm niệm chán đời thì vô tình làm luân xa này quay chậm
lại hoặc tệ hơn nữa là quay ngược chiều khiến sinh lực
ngày một thất thoát, cơ thể suy nhược, dễ sinh bệnh hoạn,
và từ đó tâm hồn lại càng chán đời thêm. Tu hành như
vậy có khác gì tự sát.
* Luân
xa thứ hai: Svadhisthana, chủ trì năng lượng tính dục (énergie
sexuelle) có tính cách sáng tạo. Ða số thường quan niệm tu
là phải diệt dục, vì dục là ham muốn. Người tu không được
ham muốn gì hết! Vậy quý Thầy tu có muốn chùa to tượng
lớn không? Có thích đông Phật tử lui tới cúng dường không?
Khỏi nói chi xa, người tu có muốn giải thoát không? Có muốn
thành Phật không? Muốn Niết Bàn không? Vậy những cái "muốn"
đó có phải là dục không? Khi đói muốn ăn, khát muốn uống
thì đó có phải là dục không? Nếu đó là dục cần phải
diệt thì chắc Thầy tu phải nhịn ăn, nhịn uống, nhịn luôn
cả thở để chết đi cho rồi!