Mục
lục
Phần
I
1.
Mở Ðầu
2.
Bồ-tát Ðạo
3.
Bố Thí là gì?
4.
Bố Thí có mấy loại?
Phần
II
5.
Bố Thí Ba-la-mật
6.
Bố Thí và sáu Ba-la-mật
7.
Những điều lầm lẫn về Bố Thí
8.
Kết luận
Phần
I
1.
Mở
Ðầu
Ða
số chúng ta ngày nay hầu như không còn biết bố thí, cúng
dường một cách trong sạch và lợi ích nữa! Bố thí là bố
thí chứ có gì mà trong sạch với không trong sạch? Nói như
vậy không phải là Phật tử! Nếu không phải Phật tử thì
muốn nói sao cũng được, nhưng nếu là con Phật thì cần
phải học đạo, hiểu đến nơi đến chốn. Có nhiều người
trong chúng ta thường hãnh diện nói rằng: 'Tôi tu lâu, ăn
chay trường, tụng kinh mấy chục năm rồi, biết Hòa Thượng
này Hòa Thượng nọ từ lúc các vị ấy mới tu, chùa này
là do tôi giúp từ lúc mới lập,..., và đa số đều là Bồ
Tát tại gia (tức là thọ Bồ Tát giới). Thọ Bồ Tát giới
tức là muốn bước trên Bồ Tát đạo; và Bồ Tát đạo thì
gồm có Lục độ (Ba La Mật). Trong đó thì Bố thí đứng
đầu. Bồ Tát mà không biết bố thí thì đó không phải là
Bồ Tát. Vậy Bố thí là gì? Có mấy loại Bố thí? Phải
Bố thí những gì: Bố thí làm sao, khi nào,...?
Trước
khi đi vào giải đáp xin đọc giả phá bỏ thành kiến sai
lầm xưa nay, cho rằng Bố thí là đem tiền cúng chùa, cúng
Thầy, đó chỉ là một hình thức nhỏ của sự Bố thí. Không
những Phật tử tại gia hiểu lầm mà ngay cả giới xuất
gia cũng lơ là hay cố ý chỉ muốn dạy cho Phật tử sự Bố
thí đó mà thôi, nên luôn luôn kêu gọi Phật tử phát tâm
Bồ Tát (phát tài) cúng chùa, cúng Phật... Riết rồi Phật
tử không dám đến chùa nữa, vì sợ đến thì phải cúng,
nếu không cúng thì sợ tội, nên hay hơn hết là ở nhà cho
xong. Ðó là nói người biết sợ tội phước, còn có những
người học Phật mà bất chấp tội phước, hoặc quá si mê,
là những người hay đi rêu rao chùa này nhiều tiền, chùa
kia ít tiền, Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,... Nói cho sướng
cái miệng mà đâu có hay là mình đang tạo khẩu nghiệp, đó
là chưa kể đã phạm vào các giới trọng, giới khinh của
Bồ Tát.
Chùa
là gì? Tại sao phải đến chùa? Là Phật tử, chúng ta ai cũng
biết rõ lịch sử của đức Phật Thích Ca, biết Tứ Diệu
Ðế, biết đời là khổ, biết quay về nương tựa nơi Tam
Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Chùa là nơi tượng trưng cho Tam Bảo,
nhưng nơi nào chỉ có tượng Phật và kinh sách thôi mà không
có chư Tăng thì không được gọi là Tam Bảo; và đúng lý
ra thì chùa phải là nơi thoát tục của người trần tục.
Khi bước chân vào một ngôi chùa, với không khí thoảng mùi
hương thơm, với tiếng chuông tiếng mõ, ta sẽ cảm thấy
tất cả những ưu phiền, bon chen của cuộc sống bên ngoài
lắng xuống và tâm hồn ta trở nên lâng lâng thoát tục. Trước
khi vào chùa, ta đầy phiền não, vào đến chùa được tắm
mình trong sự thanh tịnh (sự trở về với chính ta), nên phiền
não tiêu tan, và khi ra về ta cũng đem luôn sự thanh tịnh của
chùa về tưới vào gia đình. Ðược như vậy thì ta là người
biết đến chùa.
Nhưng
trên thực tế thì không phải như vậy. Mặc dù thân của
ta vẫn đến chùa đều đều, nhưng ta không còn biết đến
chùa thực sự là gì nữa! Chúng ta đã biến cảnh chùa chiền
thành chợ chiều. Thay vì đến chùa để lấy sự thanh tịnh,
ta lại đi đem những ô uế và phiền não nhét đầy vào chùa.
Thay vì đến chùa để hỏi đạo, ta lại đem chuyện đời
kể cho quý Thầy nghe; thay vì đến chùa làm công quả kiếm
chút phước, ta lại đi tạo khẩu nghiệp nói chuyện người
này, kể chuyện người kia. Rồi cứ thế, ngày qua tháng lại,
một ngày kia ta sực tỉnh, nhận thấy rằng từ bao lâu nay
ta đến chùa mà chả học được gì hữu ích cả. Kinh băng,
sách Phật chất đầy nhà, vậy mà tâm ta vẫn không an, và
hình như tham, sân, si vẫn còn đầy, thế rồi ta hoảng sợ
vội vàng chạy đến chùa để cầu cứu, thì ô hay! Sao chùa
bây giờ giống như cái chợ chiều? Tìm các Thầy để hỏi
đạo thì các Thầy chỉ nói chuyện đời, nếu không thì lại
kêu gọi ta phát tâm cúng dường... Thế rồi ta chán nản bỏ
ra về, ghê tởm và xa lánh chùa! Lòng tin nơi Tam Bảo của
ta càng ngày càng giảm. Ta nào có biết đâu rằng tất cả
những gì xảy đến cho ta đều có nguyên nhân, đâu phải
tự nhiên mà có; mà nguyên nhân thủ phạm lại chính là Ta.
Vì ta không biết điều đó nên ta rao rằng: chùa này làm tiền,
chùa kia làm tiền! Vì sao lại có tình trạng tệ hại như
vậy? Tại vì trước kia đến chùa ta không chịu học đạo
cho đàng hoàng, chỉ học lý thuyết suông cho vui, nên ta đã
bố thí cúng dường không đúng đắn, không trong sạch. Chính
chúng ta đã biến cái chùa thành cái chợ, thì nay cũng chính
chúng ta phải biến cái chợ thành cái chùa như thuở nào,
và nhất là những ai có thọ Bồ Tát giới. Công việc này
không phải một người có thể làm nỗi, mà tất cả hàng
Phật tử tại gia cũng như xuất gia. Tuy nhiên điều đầu
tiên là chúng ta phải ý thức được sự tệ hại và đình
trệ của Phật giáo Việt Nam (hải ngoại). Có ý thức được
thì chúng ta mới mong muốn sửa đổi, còn nếu không thì chẳng
có gì để nói nữa cả. Nhược bằng ý thức được thì
ta hãy lên đường làm lại cuộc đời Phật tử của mình,
cũng tức là cuộc đời của Phật Giáo Việt Nam vậy. Ta hãy
can đảm đừng ngại ngùng học lại những giáo lý căn bản,
rồi đem ra áp dụng vào đời sống hằng ngày. Chúng ta có
thói quen là thân thì ngồi dưới đất, mà tâm trí thì cứ
tưởng ở trên mây. Có nghĩa là sao? Nghĩa là trình độ tu
học thì rất kém (tham, sân, si chưa trừ) mà lại hay nói những
lý lẽ cao siêu, chỉ thích tụng kinh Ðại Ðại Thừa Ðại
Ðại Phương Quảng, v.v... Nhất là có những Kinh nào nguyên
văn bằng chữ Hán thì ta lại mù tịt, không hiểu gì cả.
Ta quên mất rằng đức Phật có nói: 'Nếu tin ta mà không
hiểu ta thì đó là hủy báng ta,' vậy nếu ta tụng kinh Phật
mà không hiểu thì không biết một ngày ta đã hủy báng Phật
bao nhiêu lần rồi? Với mục đích giúp cho đọc giả nào
muốn làm lại cuộc đời Phật tử của mình, tôi xin biên
soạn về 'Bố thí Ba La Mật', là một trong sáu hạnh của
Bồ Tát. Vì sao lại chỉ nói về Bố Thí thôi mà không nói
cả sáu hạnh của Bồ Tát? Ðó là tùy tình cảnh, tùy thời.
Tùy tình cảnh vì Bố Thí là hạnh đầu tiên trong Lục Ðộ
và nó dễ thực hành cho Phật tử tại gia. Còn tùy thời là
vì ngày nay rất nhiều Phật tử than phiền là chùa này nhiều
tiền, hoặc Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,... Bố thí mà biết
cách thì được phước đức vô biên cho cả người cho lẫn
người nhận. Còn Bố thí mà không biết cách thì chỉ có
một bên hoặc chả có bên nào được lợi cả. Do đó, Bố
thí mà không biết cách thì tốt hơn là đừng bố thí!
-oOo-
2.
Bồ Tát Ðạo
I.
Bồ Tát Ðạo
Ðịnh
nghĩa Bồ Tát.
Bồ
Tát là nói tắt của Bồ Ðề Tát Ðỏa tức Bodhisattva (Sanscrit).
Bodhi là giác, Sattva là hữu tình. Bodhisattva có nghĩa là người
giác ngộ. Nói như vậy thì hơi mơ hồ, vì đức Phật cũng
là người giác ngộ, A-La-Hán cũng là người giác ngộ, vậy
Bồ Tát khác Phật, khác A-La-hán chỗ nào? Có nhiều lối giải
thích:
1.
Trên phương diện độ sanh: A La Hán tự độ (độ mình), Bồ
Tát độ tha (độ người), còn Phật là giác hạnh viên mãn
(độ mình và độ người đã xong).
2.
Trên phương diện phát nguyện thì:
- A
La Hán chỉ cầu thoát khỏi sinh tử luân hồi.
- Bồ
Tát là người phát tâm cầu thành Phật để độ tất cả
chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Trên quảng đường
từ lúc mới phát Bồ đề tâm (Bodhicitta) cho đến lúc thành
Phật thì gọi là Bồ Tát.
3.
Trên phương diện chứng đắc thì:
- A
La Hán đã phá được ngã chấp, tức chứng được 'ngã không'
(Sattvàsùnyatà), không còn chấp vào một cái Ta (Atman) hiện
hữu.
- Bồ
Tát cũng chứng được 'ngã không', nhưng chưa hoàn toàn được
'pháp không' (Dharmasùnyatà).
- Phật
thì đã phá hoàn toàn ngã chấp và pháp chấp, tức là thấy
được thực tướng của vạn pháp, thấy được các pháp
không sinh (anutpanna), không diệt (anirudha).
4.
Trên phương diện tu trì:
- A
La Hán tu theo Tứ Ðế, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
- Bồ
Tát hành Lục độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn,
Thiền định, Trí huệ).
- Phật
thì cũng giống như Bồ Tát nhưng đã tới đích. Trên đây
chỉ là khái lược sơ về sự khác biệt giữa Phật, Bồ
Tát và A La Hán.
Chúng
ta là hàng Sơ phát tâm Bồ Tát thì cần chú trọng nhiều về
hai phương diện phát nguyện và tu trì. Phát nguyện là phát
Bồ đề tâm tức tâm nguyện thành Phật để cứu độ chúng
sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi, còn tu trì là luôn luôn
tìm mọi cách để thực hành Lục độ.
II.
Tầm quan trọng của phát nguyện và hồi hướng
Trong
đạo Phật, ta thường nghe nói về Tam Ðộc tức là lòng ham
muốn, giận tức và si mê, chúng trói buộc ta trong vòng sinh
tử luân hồi. Và muốn giải thoát thì ta phải dẹp trừ chúng
bằng cách bớt ham muốn, mở rộng lòng từ bi, trau dồi giáo
lý Phật Pháp. Do hiểu như vậy, 0nên nhiều người trong chúng
ta không dám mong cầu gì cả, đến chùa tụng Kinh cho vui vậy
thôi chứ không thành tâm phát nguyện và hồi hướng (trong
các thời Kinh ở chùa đều có văn phát nguyện và hồi hướng,
nhưng vì không chú tâm hoặc không hiểu nên gọi là không
thành tâm), khi bố thí thì bố thí vậy thôi chứ không nghĩ
gì hết. Rồi ta cho như vậy là đúng, vì trong Thiền Tông
thường nói giữ 'Tâm Không', nên ta không dám nghĩ, không dám
mong cầu gì hết, chỉ giữ Tâm Không thôi. Nếu ta cứ làm
như vậy hoài thì kiếp sau ta sẽ đầu thai thành cục đá
bên lề đường, vì cục đá cũng có Tâm Không, vô tri vô
giác, không nghĩ, không biết gì cả. Cõi Ta Bà mà chúng ta
đang ở đây thuộc về cõi Dục. Chúng sanh ở đây luôn luôn
ham muốn, ham muốn ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng,
ăn ngon, ngủ ấm. Nhưng chúng ta quên mất một điều là tất
cả chư Phật đều thị hiện thành Phật ở cõi này, chứ
không thành Phật ở hai cõi Sắc và Vô Sắc. Ðức Phật dạy
ta lìa bỏ ngũ dục chứ đâu có dạy ta lìa bỏ Niết Bàn
dục (tức lòng ham muốn đạt được Niết Bàn). Ở đời,
khi làm một việc gì thì ta thường có lý do và mục đích.
Lúc nhỏ ta cắp sách đến trường, lý do là cha mẹ ta muốn
cho ta nên người. Mục đích của sự học là để được
bằng tú tài. Có tú tài để được vào Ðại Học. Vào Ðại
Học mấy năm để có được một văn bằng (diplôme). Có văn
bằng để đi ra làm việc. Làm việc để có tiền. Có tiền
để nuôi thân hoặc nuôi gia đình,... Tất cả những cái 'để'
đó đều là mục đích của những hành động và việc làm
của ta. Khi có mục đích là có sự mong cầu. Sự mong cầu
hay ham muốn được xem là tốt hay xấu tùy theo mục đích
của nó tức là đối tượng của sự mong cầu. Nếu ta ham
muốn ngũ dục thì đó là xấu vì kết quả là ta sẽ đau
khổ, ngược lại nếu ta ham muốn học đạo, tu đạo, thì
đó là một sự ham muốn tốt vì kết quả là ta sẽ giải
thoát, hưởng sự an vui của Niết Bàn. Khi ta ham muốn vừa
vừa thì gọi là mong cầu, khi ta hết lòng ham muốn và quyết
chí đạt cho được mục đích thì gọi là nguyện. Tất cả
chư Phật và Bồ Tát đều là những người đã mong cầu,
đã phát nguyện năm xưa. Ta há không nhớ Ðức Phật Thích
Ca đã phát nguyện gì dưới gốc cây Bồ Ðề? Ngài nguyện:
'Dù máu khô, thịt nát, xương tan, nếu không giác ngộ (thành
Phật) ta thề không rời khỏi nơi đây.'
Ngoài
ra đọc trong Túc Sanh Truyện (Jataka) kể về các tiền thân
của đức Phật, ta sẽ thấy là mỗi khi làm một hạnh gì,
ngài đều phát nguyện và hồi hướng. Phát nguyện cầu thành
Phật để cứu độ chúng sanh và hồi hướng tất cả công
đức cho quả vị Phật.
Hồi
hướng là gì?
Là
gom góp tất cả để đặt vào một chổ. Người làm phước
nhiều mà không biết hồi hướng sẽ giống như người đi
làm cho có thật nhiều tiền đem về chất đầy nhà, rồi
không biết làm gì với đống tiền đó.
Hãy
lấy một thí dụ:
1.
Ta đến chùa làm một việc công đức, mà trong tâm ta luôn
luôn nghĩ đến sự giàu sang sung sướng, thì kiếp sau ta sẽ
được giàu sang sung sướng.
2.
Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng được giải
thoát sinh tử luân hồi, thì trong những kiếp sau ta sẽ được
giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
3.
Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng cầu thành
Phật thì chắc chắn một kiếp xa xôi nào đó ta sẽ thành
Phật.
Tại
sao trong thí dụ (1) nói kiếp sau, thí dụ (2) nói những kiếp
sau, và thí dụ (3) nói một kiếp xa xôi, ý nghĩa là sao?
Thí
dụ (1) nói về sự giàu sang sung sướng ví như một cái áo
bành tô (manteau) trị giá 700 quan. Thí dụ (2) nói về sự giải
thoát sinh tử luân hồi ví như một chiếc xe hơi trị giá
70.000 quan. Thí dụ (3) nói về sự cầu thành Phật ví như
một căn nhà villa trị giá 700.000 quan.
Nếu
ta đi làm lương một tháng là 5000 quan, và trong đầu ta không
có một mục đích gì cả, thì khi đi đường, nếu thấy một
cái áo bành tô đẹp, vừa giá ta có thể mua được thì ta
mua ngay không chần chờ.
Cũng
với số lương đó mà ta muốn có một chiếc xe hơi thì ta
phải dành dụm năm này qua năm nọ, không dám lấy tiền lương
xài vào việc khác như mua quần áo, thì khoảng vài năm là
ta có thể có được một chiếc xe hơi.
Cũng
với số lương đó mà ta muốn có một căn nhà villa thì ta
phải dành dụm lâu hơn nữa vì lương của ta quá ít so với
giá tiền của cái nhà. Do đó ta phải gom góp dành dụm tiền
lương không dám xài hoang phí vào việc khác, mà cốt chỉ
để mua nhà. Vậy thì khoảng hai mươi năm hay hơn nữa ta mới
hoàn toàn làm chủ cái nhà (vì ở bên Pháp cho trả Crédit).
Sau
ba thí dụ trên, ta thấy rằng cũng cùng một hành động (karman)
cùng một nhân (hetu) mà có quả báo khác nhau. Ðó là do tâm
hồi hướng mà ra. Nếu ta tạo công đức nhiều mà không biết
hồi hướng thì uổng lắm, vì sao? Dĩ nhiên là khi tạo công
đức thì chắc chắn ta sẽ gặp quả báo tốt, nhưng uổng
vì đó là quả báo hữu lậu của thế gian, sau một thời
gian ta sẽ còn lại hai bàn tay trắng mà thôi.
Nếu
thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện và hồi
hướng thì sau này : trước khi, trong khi, và sau khi làm một
việc gì tốt ta nên phát nguyện và hồi hướng. Và hơn nữa
khi ta gặp một việc công đức nào ta sẽ vui mừng vì đó
là một cơ hội cho ta tiến mau đến mục đích (nếu là trường
hợp ta thích xe hơi hoặc căn nhà, mà không thích áo bành tô).
Vậy
theo ta hiểu thì Bồ Tát là phải nhớ đến Bồ đề tâm,
nhớ phát nguyện và hồi hướng cầu thành Phật, nhưng không
hiểu tại sao khi ta đọc Tâm Kinh thì thấy trong đó có nói
câu 'vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố'. Lúc đó
ta nên khởi tâm nghĩ như vầy : Bồ Tát Quán Tự Tại là bậc
Diệu Giác Bồ Tát, còn ta đây là Bào thai Bồ Tát (Bồ Tát
còn nằm trong bụng mẹ). Hơn nữa Quán Tự Tại Bồ Tát đã
hiểu, đã thấy, đã chứng được tánh Không, tức thực tướng
của vạn pháp, còn ta đây không biết cái gì là phải cái
gì là trái, cái gì tốt cái gì xấu, cái gì là Từ Bi cái
gì là ác độc, nói chi đến tánh Không với tánh Có. Ta đừng
làm giống như người đang đi trên sông, thấy người khác
đến bờ vứt bỏ con thuyền, mà ở đây ta cũng vội vàng
lấy búa ra đập thủng thuyền của mình. Ta phải luôn luôn
ý thức nhìn lại xem mình là ai? Em bé lên 3, thanh niên 20,
hay ông lão 70. Nếu là em bé lên 3 thì ta hãy vui vẻ tập đi,
không nên bắt chước lấy cây gậy của ông già bảy mươi
mà chết sớm. Còn ngược lại nếu thấy mình là ông lão
bảy mươi thì ta cứ việc 'vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở
đắc cố', không ai cấm cản vì đạo Phật là đạo tự giác
không có bắt buộc hay độc tài.
Sau
khi hiểu được sự phát Bồ đề tâm cũng như sự phát nguyện
và hồi hướng của Bồ Tát, ta bước sang phần thực hành
của Bồ Tát tức Lục Ðộ.
À,
hình như chúng ta quên mất một điều, là không biết tại
sao Bồ Tát lại phát Bồ đề tâm? Mục đích của Bồ đề
tâm là thành Phật cứu độ chúng sanh, nhưng lý do và căn
nguyên của sự phát Bồ đề tâm là gì? Bồ Tát phát Bồ
đề tâm, lý do vì Bồ Tát thấy chúng sanh đau khổ nên muốn
cứu khổ chúng sanh, muốn cứu khổ chúng sanh nên mới cầu
thành Phật tức cầu sự giác ngộ hoàn toàn.
Bồ
Tát là những người ý thức được sự đau khổ của cuộc
đời, thấy rõ được sự bất công, sự đàn áp, bóc lột,
lợi dụng, tàn hoại, ác độc của chính con người tạo cho
con người. Nếu Bồ Tát chỉ ngồi một chỗ, cần gì hô lên
một tiếng, có người đem đến dâng cho, thì Bồ Tát khó
ý thức được sự khó khăn, đổ mồ hôi sôi nước mắt
của người dâng cho mình. Nếu không tự thân chứng nghiệm
đau khổ, thì ít nhất Bồ Tát cũng tập ý thức sự có mặt
của đau khổ nơi mọi loài. Vì có đau khổ nên mới có đạo
Phật, nếu không có đau khổ thì không có đạo Phật. Bồ
Tát ý thức được sự đau khổ không phải để sợ hãi,
mà là để nuôi dưỡng lòng từ bi của mình. Bồ đề tâm
của Bồ Tát cũng ví như ngọn lửa được đốt bằng dầu
đau khổ. Nếu không có dầu đau khổ thì ngọn lửa Bồ đề
tâm sẽ tắt. Do đó đối với Tứ Diệu Ðế, Bồ Tát đã
thấu triệt hoàn toàn. Nếu chúng ta muốn đi theo con đường
của Bồ Tát thì chúng ta cũng cần phải học cho thông suốt
Tứ Diệu Ðế, nếu không được thì ít nhất chúng ta cũng
cần phải hiểu được 'Nhị diệu đế' tức là hai Diệu
đế đầu: Khổ Ðế và Tập Ðế. Và sau khi hiểu rõ rồi
thì ta hãy tiến bước trên Bồ Tát đạo, nếu không như thế
thì ta chỉ là 'danh tự Bồ Tát', tức là ta đến chùa thọ
bồ tát giới cho vui mà thôi.
Sau
khi hiểu được nguyên nhân và mục đích của Bồ Tát, ta
bước sang con đường đi của Bồ Tát, tức Bồ Tát đạo
(Bodhisattvamàrga).
Bồ
Tát đạo thường được biểu hiện qua Lục độ, tức sáu
hạnh, còn gọi là Lục Ba La Mật (Pàramità) gồm có: Bố thí
(Dàna), Trì giới (Sila), Nhẫn nhục (Ksànti), Tinh tấn (Vìrya),
Thiền định (Dhyàna), Trí tuệ (Prajna). Pàramità dịch âm là
Ba La Mật Ða, dịch chữ là Ðáo Bỉ Ngạn có nghĩa là đến
bờ bên kia. Lục Ba La Mật là sáu phương tiện có khả năng
đưa (độ) Bồ Tát sang đến bờ bên kia là bờ Ðại Giác,
tức Phật.
Trong
phạm vi nhỏ hẹp, sách này chỉ xin nói về Bố thí Ba la mật
thôi. Vì bố thí đúng với ý nghĩa của nó thì nó bao gồm
cả sáu Ba la mật, nếu không thì nhiều khi nó cũng không được
gọi là Bố thí nữa.
-oOo-
3.
Bố
thí là gì?
I.
Bố thí là gì?
Bố
thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát. Nguyên
âm chữ Phạn là Dàna có nghĩa là sự cho, dịch sang tiếng
Hán Việt là Bố thí. Bố là khắp, thí là cho. Bố thí là
cho khắp tất cả. Nếu nói như vậy thì hơi đơn giản và
mơ hồ. Vì cho khắp tất cả có nghĩa là cho khắp tất cả
những gì mình có, hay cho khắp tất cả chúng sinh?
Khi
ta đi đường gặp một kẻ nghèo khó đứng xin ăn, ta lấy
năm đồng hay một cắc ra cho họ, thì ta gọi đó là bố thí
cho kẻ nghèo. Trong gia đình khi ta cho con cái vật gì thì ta
chỉ gọi đó là cho. Ðối với những người có địa vị
xã hội cao hơn ta, hay đối với hàng ông bà chú bác thì ta
không gọi là cho mà gọi là Tặng hay Biếu. Rồi khi vào chùa
đối với Tam Bảo ta lại có tiếng gọi khác là cúng dường.
Cũng là một hành động cho mà lại có nhiều tên gọi khác
nhau vì đó là tùy ở nơi đối tượng của sự cho, tức là
người nhận. Mùa Xuân Tết đến, ta không thể đem một món
quà đến gặp ông chủ của mình mà nói rằng: 'Tôi xin bố
thí cho ông chủ món quà', hoặc gặp một vị Thầy ta nói:
'Con xin bố thí cho Thầy', hoặc ta cũng không thể nói: 'Ba
cúng dường cho con một hộp bánh', v...v... Tiếng Việt của
ta rắc rối lắm, không phải dễ dàng đâu! Nếu không chú
ý cẩn thận một chút là ta có thể gây phiền phức cho chính
mình và cả người khác nữa.
Như
ta đã thấy Bố thí gồm có nhiều nghĩa: cho, tặng, biếu,
cúng dường, bố thí. Nhưng để giản tiện bớt cho những
trang sau, ta tạm gọi tất cả những cái đó là Bố thí.
II.
Vì sao phải bố thí?
Vì
Bố thí đem lại nhiều lợi ích sau đây : Bố thí là một
kho tàng phước đức luôn luôn đi theo người chủ (tức người
cho) đời này sang đời khác; bố thí xây dựng hạnh phúc
và tiêu trừ đau khổ; người biết bố thí thì ai cũng thương
mến; bố thí làm cho tâm (người cho) được an vui, khi gần
chết tâm không sợ hãi; bố thí tiêu trừ lòng tham lam bỏn
xẻn; người biết bố thí thì chư Thiên ủng hộ; bố thí
là con đường trong sạch mà tất cả Thánh nhân đều đã
đi qua; bố thí là một thiện nghiệp sẽ cho ra quả báo tốt;
bố thí là hành động của những người hùng; bố thí sẽ
tiêu trừ sự nghèo và đóng cửa dẫn đến ba đường ác
(địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh); bố thí giữ gìn công đức;
bố thí là điều kiện đầu tiên của con đường dẫn đến
Niết Bàn; bố thí là gốc rễ của tất cả thiện pháp; bố
thí là nhà ở của những người cao quý, là thú vui của những
bậc Thánh (Arya) và Vĩ nhân; bố thí là một cái gương sáng
đáng để cho những người thiếu phước đức và trí huệ
noi theo.
* Người
trí và người ngu trong cuộc hỏa hoạn.
Khi
có một cuộc hỏa hoạn, người có trí khôn biết nhận xét
xem lửa có thể lan đến nhà mình hay không? Nếu có thì vội
vàng thâu góp tài sản dời đi chổ khác yên ổn trước khi
lửa cháy tới. Ðến khi lửa lan tới và mặc dù căn nhà của
mình bị cháy tiêu rụi, nhưng người ấy vẫn còn nguyên những
gì quý giá, và nhờ đó có thể xây cất lại căn nhà khác.
Cũng như thế, người trí biết được cái thân xác của mình
rất mong manh dễ tàn, và của cải vật chất cũng vậy nay
còn mai mất, thừa dịp tốt lúc thân xác và của cải chưa
mất, người ấy trau giồi tích tụ công đức bằng cách thực
hành bố thí, cũng giống như người khôn biết thâu nhặt
đồ vật quý giá trước khi nhà cháy; và trong những kiếp
sau người ấy (người bố thí) sẽ được hưởng lại sự
bố thí do phước báo đã tạo, giống như người khôn xây
lại căn nhà mới vậy.
Ngược
lại, cũng trong một cuộc hỏa hoạn, người ngu không biết
làm gì, chỉ vì tham lam không muốn rời bỏ căn nhà; đến
khi lửa cháy tới nơi, hoảng hốt lo chạy thoát thân một
mình, không đem theo được đồ vật nào cả; người này không
có trí khôn nhận xét được sự lan tràn nhanh chóng của lửa
(nhất là khi có gió to), để rồi dưới sức gió mãnh liệt
và ngọn lửa vô tình, căn nhà của mình chỉ trong vài phút
là cháy rụi ra tro. Tệ hơn nữa là chờ đến giờ phút chót
mới lo chạy thoát thân nên không đem theo được tài sản
nào hết. Do đó sau cuộc hỏa hoạn, người này phải chịu
đói khát, chịu nóng lạnh và sống cực khổ cho đến hết
cuộc đời. Trường hợp của một người tham lam, bỏn xẻn,
keo kiệt cũng giống như người ngu vừa kể trên, tức là
không biết rằng thân xác, của cải và mạng sống rất mong
manh, dễ tàn nay còn mai mất, không thể nào giữ mãi mãi được,
chỉ trong một tíc tắc đồng hồ thôi là có thể tiêu tan
mất hết. Vì không biết được như vậy nên trong suốt cuộc
đời, người ngu chỉ chúi đầu vào việc tích tụ của cải,
vơ vét tiền bạc, rồi bảo vệ, giữ gìn chúng một cách
tham lam ích kỷ. Nhưng rồi bất thình lình một ngày nào đó
'Thần chết' đến gõ cửa nắm đầu lôi đi (không thể từ
chối được). Xác thân tứ đại này tan rã trở về với
đất rừng, những của cải, tài sản khổ công tích tụ đều
phải bỏ lại không đem theo được, và kiếp sau tái sinh trong
cảnh nghèo khổ, đói rét giống như người ngu hoảng hốt
trong cơn hỏa hoạn vậy.
Người
trí, rộng lượng biết được rằng: khi bố thí cho người
khác tức là làm lợi ích cho chính mình. Ngược lại người
ngu, bần tiện, không biết được rằng: nếu không bố thí
hay giúp đỡ người khác tức là chả làm được lợi ích
gì cho chính mình cả.
-oOo-
4.
Bố thí có mấy loại?
Nếu
ta là người học Phật lâu năm ta sẽ nhanh nhẹn trả lời
rằng có 3 loại:
1)
Tài thí: tức bố thí tiền.
2)
Pháp thí: tức bố thí pháp.
3)
Vô úy thí: tức bố thí sự không sợ hãi.
Trả
lời như vậy xong, ta yên chí cho là mình đã hiểu xong Bố
thí Ba La Mật, rồi ta bỏ qua, đi lấy Kinh Hoa Nghiêm ra đọc,
hoặc lấy sách Tổ Sư Thiền ra coi. Nhưng than ôi! Ta đã lầm
to, Bố thí Ba La Mật đâu phải chỉ có bấy nhiêu thôi!
Khi
nói đến sự bố thí, thì ta nhận ra có ba yếu tố tạo ra
nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và
người nhận (sở thí).
Ba
món Bố thí mà ta vừa kể trên (Tài, Pháp, Vô úy) thuộc về
vật thí. Còn người cho và người nhận, ta đã sơ xuất bỏ
quên. Ba yếu tố cho ra sự Bố thí quan trọng lắm, nếu thiếu
một trong ba cái đó thì sẽ không có sự Bố thí.
Có
người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai
nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người
cho và người nhận thì cũng không có sự bố thí. Có người
sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự
bố thí.
Nếu
muốn phân loại thì ta phải căn cứ trên ba yếu tố của
sự Bố thí mà phân loại:
- Trên
phương diện người cho (dayaka) thì có hai loại: Bố thí trong
sạch (visuddhadàna) và không trong sạch (avisudha).
- Trên
phương diện vật thí (deya) thì có ba loại: Tài thí (Dravyadàna),
Pháp thí (Dharmadàna) và Vô úy thí (Abhayadàna).
- Trên
phương diện người nhận (tức đối tượng của sự bố
thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì
có hai loại: ruộng phước nhỏ (karunàpunyaksetra) và ruộng
phước lớn (satkàrapunyaksetra).
Trên
đây chỉ là tạm phân loại tổng quát thôi, vì mỗi loại
lại được phân ra làm các phần nhỏ nữa mà ta sẽ đi sâu
vào chi tiết sau.
I.
Trên phương diện người thí
Có
hai loại bố thí: Trong sạch và không trong sạch.
1)
Thế nào là bố thí không trong sạch?
Ðó
là bố thí vì: tư lợi, bất kính, chán ghét, yếu hèn, muốn
dụ dỗ, sợ chết, muốn chọc tức, ghen tức, ganh đua, kiêu
ngạo, cầu danh, tránh né sự nguy hiểm, muốn mê hoặc lòng
người,... Tóm lại bố thí vì một cái tâm xấu xa, không
nghĩ đến sự an vui hay lợi ích cho người nhận.
2)
Thế nào là bố thí trong sạch?
Nói
một cách giản dị, đó là sự bố thí có tánh cách ngược
lại những gì đã tả ở phần trên. Còn có nghĩa là Bố
thí mà muốn đem lại lợi ích cho người nhận.
Vừa
kể trên là sự bố thí trong sạch cho tất cả mọi người.
Riêng cho Phật tử thì Bố thí trong sạch còn có nghĩa là
bồi đắp công đức cho sự giải thoát, tức Niết Bàn (Nirvàna).
Phải
bồi đắp cách nào? Bằng cách bố thí với tâm trong sạch,
không cầu phước báo của Trời (Deva), người (Manusya), không
cầu sự sung sướng trong đời này và đời sau, chỉ cầu
giải thoát của Niết Bàn, bố thí với tấm lòng cung kính
(satkàra) hoặc từ bi (maitrìkarùna). Trong lúc chưa chứng được
hoàn toàn quả Niết Bàn, ta vẫn tái sinh ở cảnh an vui của
Trời, người (mặc dù không cố ý cầu), đó là do nghiệp
báo tốt của sự bố thí trong sạch. Ðức Phật có nói rằng:
'Trên đời này có hai hạng người rất là hiếm có: 1) Một
vị Tỳ Khưu đã hoàn toàn giải thoát trong số các tu sĩ lang
thang (pravajita); 2) Một người biết bố thí trong sạch trong
số các cư sĩ tại gia' (Anguttara I).
II.
Trên phương diện vật thí
Có
ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.
Trong
mỗi loại trên lại chia ra: chân chính và không chân chính.
1)
Tài thí
Tài
thí lại chia ra hai loại: Ngoại thí và Nội thí.
a)
Ngoại thí (bàhyadàna): Ngoại thí là bố thí những đồ vật
bên ngoài như: vàng, bạc, của cải, quần áo, đồ ăn thức
uống...
b)
Nội thí (àdhyàtmika): Nội thí là bố thí những gì trong thân
thể con người chúng ta; như xưa kia đức Phật còn làm Bồ
Tát đã bố thí đầu, mắt, chân, tay... Ngày nay ta không làm
nổi như vậy thì ta có thể ra công giúp sức như làm công
quả cho chùa, kéo xe cho người già, v...v... Hoặc tiếp máu
cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy cho những bộ
phận trong thân thể mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử.
c)
Tài thí chân chính: là những đồ vật được bố thí không
phải do từ trộm cắp hay cướp giật. Nếu ngược lại là
tài thí không chân chính.
Ngoài
ra nếu ta bố thí trong những trường hợp sau đây thì phước
báo sẽ tăng lên gấp bội:
1.
Bố thí đúng lúc. Có nghĩa là bố thí cho: những người đi
xa, người từ xa mới đến, người bịnh, người trông coi
kẻ bịnh, trong những mùa giá lạnh.
2.
Bố thí luôn luôn mà không thấy mệt mỏi hay chán nản.
3.
Bố thí tùy theo sở thích của người xin.
4.
Bố thí những vật quí giá.
5.
Bố thí cho những người làm việc cho Chùa, làm vườn, đào
mương ...
6.
Bố thí cho chư Tăng.
7.
Bố thí mà kính trọng người nhận.
8.
Bố thí cho những người có đức hạnh.
9.
Bố thí tất cả những gì mà mình có.
* Sự
bố thí toàn vẹn của Họa sĩ Karna (Sùtralamkara).
Thuở
đó ở làng Puskaravàvati có một người họa sĩ tên là Karna.
Vì làm ăn không khá nên anh ta đã từ giả gia đình vợ con,
lên đường một mình sang nước lân cận là Taksasila. Nơi
đây anh ta tận tụy làm việc, kết quả là sau mười hai năm,
anh ta đã dành dụm được ba chục đồng tiền vàng. Hớn
hở, anh ta trở về quê cũ, trên đường về làng nghe thấy
một hồi chuông trống báo hiệu sắp có một cuộc hội họp
quan trọng của Chư Tăng, thế là anh ta lần mò đến. Với
một đức tin trong sạch anh đi gặp vị Tăng Tri sự (tức
vị Tăng phân phối chỉ huy buổi họp) mà hỏi rằng: 'Thưa
ngài, buổi họp như vậy nếu kéo dài một ngày thì phải
cần chi phí bao nhiêu để có thể cúng dường (vật thực)
đầy đủ cho chư Tăng?' Vị Tăng Tri sự trả lời: 'Khoảng
ba mươi đồng vàng thì đủ cho một ngày'. Nghe vậy xong, anh
liền móc túi lấy ra ba mươi đồng vàng đưa hết cho vị
Tri sự mà thưa rằng: 'Con xin thành tâm, dâng cúng vật thực
một ngày cho chư Tăng'. Sau đó anh ta trở về nhà với hai
bàn tay trắng.
Về
đến nhà, vợ anh mừng rỡ chạy ra đón và hỏi: 'Trong suốt
mười hai năm anh đã làm được bao nhiêu tiền?' Anh ta trả
lời: 'Ðược ba mươi đồng vàng'. Vợ anh hỏi tiếp: 'Thế
ba mươi đồng vàng đâu anh hãy cho xem?' Anh ta nói: 'Tôi đã
gieo tất cả vào một ruộng phước (punyaksetra) rồi'. Vợ
anh hỏi ruộng phước nào thì anh trả lời: 'Tôi đã cúng
dường hết cho Giáo đoàn Tăng Già (Sangha)'. Vừa nghe như vậy
xong, người vợ liền nổi giận la hét mắng chửi và đánh
đập anh, rồi lôi kéo anh ra tòa nhờ quan trên xét xử và
trừng phạt anh. Ra đến tòa, quan hỏi có chuyện gì thì vợ
anh thưa rằng: 'Chồng tôi là một tên khùng nặng ! Trong suốt
mười hai năm trời đi làm ở nước ngoài, dành dụm được
ba mươi đồng vàng. Nhưng về đến đây không biết nghĩ và
thương hại đến vợ con, nên chồng tôi đã phung phí, cho
người ta hết không còn đồng nào. Chiếu theo pháp luật,
tôi lôi anh ta đến đây xin quan trên xét xử'. Quan tòa hỏi
người chồng: 'Tại sao anh lại đưa cho người ta hết thay
vì đem về đưa cho vợ con?' Anh trả lời: 'Trong những kiếp
sống trước của tôi, tôi đã không biết làm các hạnh lành,
vì thế nên trong kiếp này tôi phải chịu cảnh nghèo và cực
khổ. Nhưng cũng trong kiếp này, tôi có duyên may gặp được
một ruộng phước, và nếu tôi không nắm lấy cơ hội gieo
vào đó những hạt giống lành, thì chắc chắn trong những
kiếp vị lai tôi sẽ phải chịu mãi mãi cảnh nghèo khổ không
biết đến bao giờ mới hết. Vì muốn thoát khỏi cảnh nghèo
khổ nên ngày hôm nay tôi đã cúng dường hết số vàng của
tôi cho đoàn Tăng Già'.
Vị
quan tòa này lại là một Ưu bà tắc (Upàsaka), có đức tin
trong sạch nơi Tam Bảo, nên sau khi nghe anh họa sĩ trả lời
như thế, liền hết lòng tán thán: 'Việc làm của anh quả
thật là cao thượng, anh đã biết bố thí toàn vẹn cho Giáo
đoàn số tiền dành dụm được sau bao năm làm lụng cực
khổ. Thật là cao quý, tôi đây thiệt không bằng'. Thế rồi
vị quan tòa liền tháo cái vòng ngọc đang đeo ở cổ đưa
tặng anh ta, cùng lúc cho anh ta con ngựa của mình đang cưỡi
và một làng nhỏ. Rồi cuối cùng quan tòa lại nói thêm: 'Anh
vừa mới hiến tặng cho Giáo đoàn, thì tôi đây cũng xin hiến
tặng lại anh, nhưng đó chỉ gọi là một chút quả báo hiện
tại, chắc chắn trong những kiếp tới phước đức quả báo
của anh sẽ vô lượng'.
* Sự
cúng dường của Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa)
Ca
Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, vì thân hình của ngài lúc nào
cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡ và trang nghiêm. Do nhân duyên
nào mà được như thế? Trong một tiền kiếp quá khứ xa xưa
vào thời Ðức Phật Tỳ Bà Thi (Vipasyin), lúc đó tôn giả
Ca Diếp tiền thân là một thợ bạc chuyên đúc tượng. Một
ngày nọ, có một thiếu nữ nghèo vào tiệm trên tay mang theo
một thoi vàng, nhờ ông đúc một pho tượng Phật. Người
thợ bạc thấy thế liền hỏi : " Vàng ở đâu mà cô có?
" Thiếu nữ trả lời :" Trên đường đi lễ Phật về đã
nhặt được."
Người
thợ bạc lấy làm ngạc nhiên hỏi : " Tôi thấy cô nghèo khổ
quá, không đủ cơm ăn, áo mặc, sao cô không đem vàng này
bán đi để chi dụng cho cuộc sống mà lại đem đúc tượng
Phật? "
Thiếu
nữ nói : "Vì tôi có phát lời nguyện tại chùa là nếu có
đủ thuận duyên thì tôi sẽ đúc một pho tượng Phật bằng
vàng đẻ cho chúng sinh chiêm ngưỡng lễ bái. Và hôm nay làm
được như vậy là tôi mãn nguyện lắm rồi, không còn mong
cầu chi khác hơn."
Cảm
động trước sự phát tâm bố thí cúng dường quá rộng lớn
của thiếu nữ, người thợ bạc cũng phát tâm : " Ðược,
tôi sẽ đúc cho cô pho tượng Phật này và tôi cũng xin nguyện
cúng dường không lấy tiền công."
Do
nơi công đức bố thí và cúng dường này mà chín mươi mốt
kiếp sau, hai người sinh ra lúc nào thân hình lúc nào cũng
trong sáng trang nghiêm và gặp được nhiều thiện hữu tri
thức, cho đến kiếp sau cùng sinh vào nước Ấn Ðộ gặp
Phật Thích Ca xuât gia học đạo đồng chứng quả A La Hán.
2)
Pháp thí
Thế
nào là pháp thí?
Ðược
xem là pháp thí gồm có:
1.
Tất cả những lời nói chân thật, hữu ích có thể đem lại
an lạc cho người nghe.
2.
Giảng dạy chánh pháp của đức Phật (Buddhadharma).
3.
Giảng dạy ba Tạng pháp: Kinh (Sùtra), Luật (Vinaya) và Luận
(Abhidharma).
4.
Giảng dạy cho người biết hai pháp: Thanh văn (Sravaka) và Bồ
Tát (Bodhisattva).
Nghi
vấn: Tại sao Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) cũng giảng dạy ba
Tạng pháp, pháp Thanh văn và Bồ Tát mà lại bị đọa xuống
Ðịa ngục? Lý do tại sao?
Ai
cũng biết Ðề Bà Ðạt Ða là người chuyên môn ganh đua tìm
cách hại đức Phật, lại còn hay chia rẽ phá rối sự hòa
hợp của Tăng đoàn. Ngoài hai trọng tội này ra, Ðề Bà Ðạt
Ða lại còn tạo rất nhiều tội về tà kiến. Sự giảng
dạy thuyết pháp của Ðề Bà Ðạt Ða không phải là một
sự bố thí Pháp trong sạch, nhằm cầu sự giải thoát, mà
là cầu danh, cầu lợi, cầu sự kính trọng, ... Chính vì sự
Pháp thí không trong sạch này nên Ðề Bà Ðạt Ða chẳng gặt
hái được công đức nào, và vẫn bị xuống địa ngục như
thường.
* Pháp
thí không chân chính là giảng dạy những giáo pháp của ngoại
đạo, không đưa con người đến sự giải thoát sinh tử luân
hồi (như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, v...v...)
* Pháp
thí chân chính là giảng dạy những giáo pháp đưa con người
đến giải thoát rốt ráo của Niết Bàn (Nirvàna).
3)
Vô úy thí
Vô
úy thí có nghĩa là bố thí sự không sợ hãi, tức là làm
cho người khác được an tâm yên chí, không sợ gì cả.
Theo
nguồn gốc Kinh tạng nguyên thủy (Anguttara, Itivuttaka) thì chỉ
có hai loại Bố thí, đó là Tài thí và Pháp thí. Nhưng theo
giáo lý Ðại thừa (Mahayàna), có thêm vào một loại bố thí
thứ ba là Vô úy thí.
Theo
ý kiến cá nhân, thì tôi thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí
hoặc Pháp thí. Vì sao? Vì khi bố thí, tức là cho, thì có
hai cách: một là cho bằng hành động, hai là cho bằng lời
nói. Nếu bằng hành động thì đó thuộc Tài thí, còn nếu
bằng lời nói thì đó thuộc Pháp thí.
Thí
dụ:
* Nếu
có một người đi đường ban đêm sợ cướp giật, thấy
thế ta liền đi theo bảo vệ cho người đó hết sợ. Ta gọi
đó là Vô úy thí. Nhưng hành động đi theo của ta chính là
thân thí (có nghĩa là vác cái thân của ta đi theo người đó),
vậy tức là thuộc tài thí rồi.
* Nếu
có người sợ chết, sợ xuống địa ngục, ta liền đem giáo
lý an ủi họ, chỉ cho họ làm lành hoặc biết niệm Phật
thì sau khi chết sẽ về Cực Lạc. Nhờ đó họ không còn
sợ chết nữa. Ta gọi đó là vô úy thí. Nhưng những lời
lẽ mà ta an ủi họ, đó chính là Pháp thí rồi.
Ta
không thể nào tự nhiên làm cho người khác hết sợ hãi được.
Ta phải làm một cái gì đó (một lời nói, một sự hiện
diện, một sự an ủi, một sự giúp sức,...) cho người ấy
thì người ấy mới hết sợ (vô úy) được. Sự hết sợ
chính là kết quả của Tài thí hoặc Pháp thí. Vì vậy Vô
úy thí không thể được xem là một loại bố thí riêng biệt
không tùy thuộc gì nơi hai sự bố thí kia cả (Tài và Pháp
thí).
* Thế
nào là vô úy thí chân chính?
Vô
úy thí chân chính hay không chân chính đó là tùy thuộc ở
Tài thí và Pháp thí có chân chính hay không? Thí dụ:
- Có
một người sợ chết. Ta bảo họ đừng sợ, cứ lo niệm
Phật, ăn chay, làm phước, đến khi chết sẽ về Cực Lạc.
Thế rồi họ nghe theo và hết sợ chết. Ðó là vô úy thí
chân chính.
- Cũng
cùng một người, nếu ta bảo họ đừng sợ chết, vì chết
là hết, không có gì phải lo cả, không có địa ngục, không
có thiên đàng. Nếu họ tin ta mà không sợ chết nữa, thì
đó là Vô úy thí không chân chính (vì ta dạy họ chấp đoạn).
4.
So sánh ba loại Bố thí
Vì
thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí nên ở đây
tôi chỉ so sánh Tài thí với Pháp thí thôi.
Ða
số chúng ta ai cũng biết trước là Pháp thí quý hơn Tài thí.
Chính đức Phật đã nói: 'Trong hai loại Bố thí này, thì
Pháp thí là trên' (Anguttara I). Vì sao? Vì nhiều lý do:
- Phước
báo của Tài thí vẫn thuộc cõi Dục giới (Kàmadhatu) còn
phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi (Traidhàtuka)
hoặc ngoài ba cõi.
- Sự
Bố thí tài (tiền của, đồ vật) có giới hạn, còn sự
Bố thí Pháp không có giới hạn (apramàna), vì tiền cho lâu
rồi cũng hết, còn giáo pháp cho hoài không bao giờ hết.
- Quả
báo của Tài thí còn thuộc về hữu lậu, trong khi quả báo
của Pháp thí thuộc vô lậu.
- Bố
thí tài cần phải đòi hỏi nhiều sức lực, ra công trong
khi bố thí pháp chỉ cần sự thông minh và trí tuệ.
- Chỉ
có bố thí Pháp mới có thể gặt hái được những phước
báo giống như các hàng Thanh Văn (Sravaka), Bích chi Phật (Pratyekabuddha)
hay Bồ Tát (Bodhisattva).
- Chỉ
có bố thí Pháp mới có thể dẫn người khác đến con đường
giác ngộ (Bodhimàrga).
- Ta
có thể thực hành Tài thí trong bất cứ thời đại (Kalpa)
nào, dù có Phật hay không có Phật ở đời. Ngược lại,
chỉ trong thời đại có một đức Phật ra đời ta mới có
thể thực hiện Pháp thí được. Vì thế Pháp thí hiếm hơn
Tài thí.
Ta
có thể nêu ra nhiều lý do nữa, nhưng tóm lại bố thí Pháp
sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn bố thí tài.
III.
Trên phương diện người nhận hay ruộng phước
Tại
sao lại gọi người nhận (pratigràhaka) ruộng phước (punyaksetra)?
Tại vì chính ở nơi họ mà ta gieo hạt giống phước đức
nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà ta mới thực hiện
được sự Bố thí.
Có
hai loại ruộng phước:
1)
Ruộng phước nhỏ (Karunàpunyaksetra) : Vì lòng thương hại
(karunà) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống
thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng
phước nhỏ.
2)
Ruộng phước lớn (satkàrapunyaksetra) : Vì có tâm kính trọng
(satkàra) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt
giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là
ruộng phước lớn.
* Sự
Bố thí của vua A Dục (Asoka)
Một
hôm đức Phật đi tản bộ cùng với ngài A nan trên thành
Vương Xá (Ràjagrha). Ðến một quãng đường có hai trẻ nhỏ
Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn thành những
cái nhà nhỏ. Khi thấy đức Phật đến gần, chúng rất vui
mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn thành một cái bánh,
thành kính cúi đầu cúng dâng cho đức Phật, còn Vijaya lức
đó cũng chắp hai tay lại cúi lạy theo bạn. Jaya, trong lúc
cúng dường cái bánh đất, phát nguyện rằng sau này sẽ làm
vua an trị cả một thế giới, rồi em tụng lên một bài kệ
cúng dường đức Phật. Ðức Phật hoan hỷ đưa tay đón nhận
cái bánh đất của em và mỉm cười. Thấy đức Phật mỉm
cười, ngài A nan lấy làm lạ nên hỏi lý do, và đức Phật
trả lời rằng: 'Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn, đứa
bé này sẽ là một vị Chuyển luân thánh vương (Cakravartin)
trông coi một trong bốn châu thiên hạ, và trong thành phố
Kusumapura (Pàtaliputra), nó sẽ làm một vị minh vương tên là
A Dục (Ásoka). Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó
sẽ xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài'.
Sự
tích trên cho ta thấy ý nghĩa phước báo của một sự bố
thí với lòng kính trọng người nhận, tức ruộng phước
lớn.
* Sau
khi phân tách tỉ mỉ, đi sâu vào chi tiết từng loại bố
thí, ta có thể tóm tắt lại như sau:
Một
sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước đức
quả báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây:
1)
Người bố thí phải có tâm trong sạch.
2)
Vật được thí phải chân chính.
3)
Người nhận phải được kính trọng tối đa.
WP:
Diệu Hỷ
Next:
Trang 02