Phần II
5.
Bố thí ba la mật
Thế
nào gọi là bố thí Ba La Mật?
Về
Bố thí (Dàna) thì chúng ta đã được trình bày trong các phần
trước rồi. Bây giờ chúng ta tìm hiểu chữ Ba La Mật (paramità).
Paramità
dịch âm là Ba La Mật Ða. Nhưng ở đây chúng ta nói tắt là
Ba La Mật (parami). 'Para' có nghĩa là bờ bên kia, 'mi' có nghĩa
là đi đến. Bố thí Ba La Mật có nghĩa là băng qua con sông
Bố thí (dànanadi) và đến được bờ bên kia. Chữ 'đến
được bờ bên kia' quan trọng lắm. Vì sao? Vì có nhiều khi
ta bắt đầu qua sông, nhưng đến nửa đường ta lại quay
trở về, đó không gọi là Ba La Mật.
1.
Ngoài ra 'bờ bên này' còn có nghĩa là bờ tham lam, bỏn xẻn,
con sông là sự Bố thí, 'bờ bên kia' là bờ đại bi (mahakarunà).
2.
'Bờ bên này' là bờ tà kiến chấp trước (mithyàdrsti), 'bờ
bên kia' bờ Trí huệ (prajnà).
3.
'Bờ bên này' là bờ sanh tử luân hồi (Samsàra), 'bờ bên
kia' là bờ Niết Bàn giải thoát (Nirvàna).
4.
Ngoài ra, Bồ Tát khi bố thí thấy rằng sự bố thí không
sanh, không diệt, không có thiệt, tức là không thấy có người
cho, vật được cho, và người nhận, đó gọi là Bố thí
Ba La Mật.
Ở
chỗ này ta nên dừng lại, phân tách một chút, vì đa số
chúng ta đều lầm lẫn cho rằng mình Bố thí Ba La Mật nhưng
thực sự thì không phải vậy. Ta thường được nghe giảng
trong Kinh Kim Cang nói rằng bố thí mà không phải bố thí thì
mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không chấp nhân, ngã,
chúng sinh, thọ giả mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà
không thấy ta là người cho, đây là vật được cho, và kia
là người nhận mới là bố thí,v...v...
Chữ
Bố thí mà 'không thấy' ở đây không có nghĩa là bố thí
mà nhắm mắt lại để khỏi thấy, hoặc bố thí mà tâm không
dám nghĩ gì hết. 'Không thấy' ở đây là kết quả của một
sự quán chiếu nhân duyên thấy được các pháp không có tự
tánh. Vì thấy các pháp không có tự tánh nên thấy sự bố
thí không có tự tánh. Như ta đã xem qua ở các phần trước,
bố thí không thể là một cái gì tự nhiên có được, phải
có đầy đủ ba yếu tố (người cho, vật cho, người nhận)
hợp lại mới có nó. Nếu thiếu một trong ba thì không thể
có sự bố thí. Do đó bố thí không có thiệt, nó chỉ là
giả danh của một hợp thể (yếu tố). Xa hơn nữa, ba yếu
tố vừa kể trên, chúng cũng lại là giả danh của một hợp
thể nào đó. Như người cho và người nhận là giả danh của
hợp thể ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đồ vật
được cho là giả danh của một hợp thể vô số chất liệu.
Và cứ thế ta quán chiếu để thấy không có một yếu tố
nào có thực tướng, nó hiện hữu vì vô số các yếu tố
khác hiện hữu. Thấy được như vậy gọi là thấy 'Không'
(sùnya). Ðem áp dụng cái thấy 'Không' vào sự bố thí ta sẽ
thấy không có cái gì thực sự là bố thí cả, mà chỉ có
một sự biến chuyển, diễn tiến, sinh diệt của vô số nhân
duyên, đây gọi là Bố thí Ba La Mật.
Chúng
ta nên cẩn thận, đừng vội vã hấp tấp thực hành 'Bố
thí Không', nếu ta chưa thực sự hiểu được 'tánh Không'
(Sùnyatà), hay thấy được sự duyên khởi của các pháp. Tốt
hơn là ta nên thực hành sự Bố thí trong sạch như đã nói
ở phần trước. Còn nếu ta cố chấp cứ muốn bố thí theo
kiểu (hiểu lầm) Kim Cang, tức là nhắm mắt để khỏi thấy
ta, thấy vật, thấy người, hoặc bố thí mà tâm không nghĩ
gì cả thì đó chẳng khác gì một người máy 'Rô bô' cầm
hộp bánh bố thí cho một em bé. Ðó gọi là Bố thí Rô bô
máy, chứ không phải là Bố thí Ba La Mật ! Dĩ nhiên là Rô
bô chả được phước báo gì hết !
* Bồ
Tát thực hiện Bố thí Ba La Mật ra sao?
- Bồ
Tát thực hiện tất cả các loại bố thí trong sạch, Tài
thí, Nội thí, Ngoại thí, Pháp thí không bao giờ hối tiếc.
- Bồ
Tát bố thí một cách bình đẳng với tất cả mọi loài,
không bao giờ nghĩ rằng:
- Phải
bố thí cho người lớn chứ không cho trẻ em.
- Phải
bố thí cho người tu hành chứ không cho người thường.
- Phải
bố thí cho người chứ không cho thú vật.
- Phải
bố thí cho Hòa Thượng chứ không cho chú tiểu.
- Bồ
Tát bố thí không cầu được phước báo.
- Bồ
Tát bố thí không kể ngày hay đêm, mùa đông hay mùa hè, trời
tốt hay trời xấu.
- Bồ
Tát bố thí để thực hiện thực tướng (bhùtalaksana) của
sự bố thí.
-oOo-
6.
Bố thí và Sáu Ba La Mật
Trong
sáu Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền
định, Trí huệ) thì Bố thí đứng đầu, vì nó làm nền
tảng cho cả sáu Ba La Mật.
I.
Bố thí làm nền tảng cho bố thí
Bố
thí gồm có ba trình độ: hạ, trung, thượng. Nghĩa là sao?
Khi
mới bắt đầu bước chân vào Bồ Tát đạo, Bồ Tát tập
bố thí trong sạch, nhưng chỉ bố thí những đồ vật tầm
thường như : đồ ăn, thức uống, đèn, dầu,v...v... Ðó gọi
là bố thí hạ (avara).
Từ
chỗ luôn luôn thực hành bố thí hạ, tâm của Bồ Tát bắt
đầu phát triển, Bồ Tát tập bố thí nhiều hơn như : quần
áo, thuốc men, nhà, cửa, vàng, bạc, những món đồ quý giá,
v...v... Ðó gọi là bố thí trung (madhya).
Từ
chỗ thực hành bố thí trung, hảo tâm của Bồ Tát phát triển
tới mức cùng tột, tức là bố thí tất cả những gì mà
mình có (nội thí và ngoại thí) không ngần ngại hay hối
tiếc như: đầu, mắt, tay, chân, v...v... Ðó gọi là bố thí
thượng (agra).
II.
Bố thí làm nền tảng cho trì giới
Bồ
tát biết rằng nếu ta tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt, không bao
giờ biết làm phước bố thí cho ai, thì kiếp sau ta sẽ chịu
cảnh nghèo khổ. Vì nghèo khổ nên ta có những ý tưởng trộm
cắp, lường gạt.Và nếu đi trộm cắp hay cướp giật thì
ta dễ phạm phải tội giết người. Vì nghèo khổ nên ta khó
có thể thỏa mãn dục lạc, dục lạc không được thỏa mãn
thì ta sẽ dễ phạm vào tà hạnh dâm dục.Vì nghèo khổ nên
ta phải chịu làm những việc hạ tiện, hạ cấp. Vì hạ
tiện, hạ cấp nên ta luôn luôn sợ chủ và ta sẽ dễ phạm
phải tội nói dối, nịnh bợ, v...v... Như vậy, vì nghèo khổ,
ta sẽ dễ phạm vào mười điều ác của thân, miệng, ý.
Ngược
lại, Bồ Tát nghĩ, nếu thực hành bố thí, ta sẽ tái sinh
trong cảnh giàu sang, tiền của đầy đủ, nhờ đó sẽ dễ
giữ gìn giới luật.
* Chuyện
tích con rắn, con ếch và con rùa (Jàtaka)
Ðề
Bà Ðạt Ða (Devadatta), trong một tiền kiếp xa xưa, là một
con rắn. Con rắn này ở trong một cái lạch cùng với một
con ếch và một con rùa, và cả ba con đều làm bạn giao du
với nhau. Thế rồi một hôm hạn hán, nước ở trong lạch
cạn dần và sắp hết, trong lạch chả còn gì để ăn. Mỗi
con chia nhau ra đi kiếm ăn. Vì quá đói không tìm được gì
nên con rắn đã nghĩ chuyện tính ăn con ếch. Nó bèn nhờ
con rùa đi tìm con ếch lại nhà nó chơi. Ðến khi rùa gặp
được ếch thì ếch trả lời rằng:
Khi
rơi vào cảnh nghèo đói, túng thiếu
Người
ta thường quên hết nghĩa ban đầu
Không
kể gì đến đạo đức,
Chỉ
biết làm sao
Cho
hết đói mà thôi!
Hãy
nhớ những gì ta vừa nói và về bảo với rắn rằng: 'Con
ếch sẽ không bao giờ trở về gặp rắn nữa đâu!'.
III.
Bố thí làm nền tảng cho nhẩn nhục
1.
Khi Bồ Tát thực hành hạnh bố thí mà đối tượng (người
nhận) từ chối, xua đuổi, hay đòi hỏi hơn, hoặc xin không
đúng lúc, hoặc không cần xin mà cứ xin. Lúc đó Bồ Tát
sẽ nghĩ như vầy: 'Nay ta thực hành bố thí, cốt để cầu
giác ngộ thành Phật; không có ai bắt buộc ta phải cho cả.
Bố thí đây là làm cho chính ta, tại sao phải nổi giận?'
Suy tư như vậy, Bố Tát thực hành nhẫn nhục.
2.
Khi Bồ Tát bố thí mà người nhận không bằng lòng, nổi
giận hay mắng chửi, thì Bồ Tát lại nghĩ như vầy: 'Nay ta
cho tất cả những tài sản quý giá của ta. Ta tập xả bỏ
những gì khó xả bỏ. Có lý đâu ta lại không chịu được
những lời mắng chửi vô nghĩa lý này? Nếu ta không nhẫn
nhục thì sự bố thí của ta sẽ không trong sạch. Bố thí
mà không kiên nhẫn cũng giống như con voi trắng (bạch tượng),
sau khi tắm ở dưới sông, vừa lên trên bờ lại nằm ềnh
ra đất dơ.' Suy tư như vậy, Bồ Tát thực hành nhẫn nhục.
IV.
Bố thí làm nền tảng cho tinh tấn
Trong
lúc thực hành bố thí, Bồ Tát cũng thực hành luôn cả tinh
tấn (Vìrya). Khi mới bắt đầu thực hành bố thí, phước
đức quả báo của Bồ Tát rất ít nên Bồ Tát không thể
thực hiện nhiều sự bố thí. Nhưng vì muốn bố thí nhiều,
cho tất cả mọi loài, nên Bồ Tát phải tinh tấn thực hành
bố thí. Nhờ tinh tấn bố thí nên phước đức (Tài, Pháp)
của Bồ Tát càng tăng trưởng khiến Bồ Tát lại càng say
mê bố thí nhiều hơn, và cho nhiều người. Cứ thế Bố thí
và Tinh tấn vừa làm nhân vừa làm duyên cho nhau.
V.
Bố thí làm nền tảng cho thiền định
Người
tu Thiền định,ban đầu luôn luôn gặp phải năm chướng ngại
(ngũ cái) : tham lam, giận tức, hôn trầm, trạo cử và nghi
hối. Nếu không diệt trừ được năm chướng ngại này thì
không thể tiến xa trong Thiền định.
Thực
hành Bố thí trong sạch tức là đang diệt trừ năm chướng
ngại. Vì sao?
- Bố
thí là diệt trừ tham lam, bỏn xẻn.
- Bố
thí trong sạch tức có nhẫn nhục, có nhẫn nhục thì tiêu
trừ được giận tức.
- Khi
bố thí để cầu quả vị Phật, Bồ Tát cần nhiều Tài và
Pháp để có thể bố thí rộng rãi cho tất cả mọi loài.
Vì cần nhiều Tài, Pháp nên Bồ Tát phá trừ được lười
biếng, giải đãi là nguyên nhân đưa đến hôn trầm.
- Khi
bố thí Bồ Tát khởi tâm trong sạch, tâm kính trọng người
nhận, chú ý đến hành động của mình không dám suy nghĩ
bậy bạ, nên luôn luôn tỉnh thức không chạy theo vọng tưởng,
do đó diệt trừ trạo cử.
- Khi
thực hành bố thí, Bồ Tát biết chắc là sẽ gặt được
phước đức quả báo vô lượng, vì thế nên Bồ Tát luôn
luôn tìm cơ hội để bố thí. Nhờ bố thí nên được nhiều
phước báo và từ đó lại càng tin nơi sự bố thí. Nhờ
lòng tin vững chắc này Bồ Tát phá trừ nghi hối.
VI.
Bố thí làm nền tảng cho trí huệ
1.
Nhờ bố thí đời này qua đời khác, Bồ Tát gặt được
nhiều phước đức, do đó Bồ Tát tin nơi Tam Bảo, nhờ tin
nơi Tam Bảo, Bồ Tát phát tâm học chánh pháp, nhờ học chánh
pháp, Bồ Tát phá trừ tà kiến,và vô minh, nhờ phá trừ vô
minh mà trí huệ tăng trưởng.
2.
Hơn nữa, khi thực hành Bố thí Ba La Mật, Bồ Tát luôn luôn
suy tư về thực tướng của ba yếu tố (người cho,vật được
cho, người nhận). Nhờ luôn luôn suy tư như vậy, Bồ Tát
hiểu được thực tướng của Bố thí. Hiểu được thực
tướng tức là trí huệ bát nhã.
3.
Tất cả mười phương chư Phật đều bắt đầu con đường
giác ngộ bằng một hạnh đầu tiên là bố thí. Cũng vậy,
một ngàn vị Phật quá khứ của hiền kiếp, mỗi vị trong
lúc phát Bồ đề tâm (tức tâm cầu thành Phật) lần đầu
tiên, đều là đang bố thí cúng dường cho một đức Phật
nào đó: có vị thì cúng dường một hoa sen, có vị cúng dường
một cái áo, có vị cúng dường một cái tâm xỉa răng, v...v...
và trong lúc cúng dường như vậy, các ngài đều phát Bồ
đề tâm (bodhicitta). Do đó Bố thí là nền tảng của Phật
đạo.
-oOo-
7.
Những điều lầm lẫn về bố thí
Qua
những phần trước, ta đã có một ý niệm về thế nào là
bố thí trong sạch, hay không trong sạch, đúng đắn hay không
đúng đắn. Nhưng đó là trên phương diện giáo lý tổng quát.
Sợ có nhiều người tâm tính thành thật, chất phác không
hiểu rõ, nên trong phần này ta hạy tạm lấy những thí dụ
cụ thể xảy ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt của
chùa chiền, để mọi người hiểu rõ hơn.
* Về
Pháp thí :
Thường
đi song song với pháp thí là sự khinh người. Nếu ta là một
vị thầy, thì ta không thể thực hành tài thí được, mà
chỉ có thể bố thí Pháp thôi.
Bố
thí pháp là một việc rất tốt, nhưng nếu không khéo thì
song song với việc bố thí ta sẽ nhiễm phải cái tánh khinh
người. Tánh này là một tánh rất xấu, không những đạo
Phật mà tất cả các đạo khác đều khuyên ta phải trừ
bỏ nó. Trong một Hội Ðoàn Phật Giáo, Tăng già khinh Tăng
trẻ, Tăng trẻ khinh Phật tử già, Phật tử già khinh Phật
tử trẻ thì hậu quả của nó sẽ ra sao? Hậu quả sẽ là
Phật tử trẻ bất kính Phật tử già, Phật tử già bất
kính Tăng trẻ, Tăng trẻ bất kính Tăng già. Và trong một
Hội Ðoàn mà từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên có
một sự khinh thường và bất kính như vậy thì chắc là Hội
viên sẽ sớm rút lui. Ðạo phật không dạy ta khinh người,
mà ngược lại dạy ta tánh bình đẳng, có nghĩa là kính trọng
tất cả mọi người như nhau. Xưa kia đức Phật đâu có khinh
ai, ngay cả đối với một em bé cũng vậy (Xem tích chuyện
Asoka). Chúng ta hãy noi theo hạnh của Thường Bất Khinh Bồ
Tát trong Kinh Pháp Hoa, gặp ai ngài cũng lễ lạy và nói : "Tôi
chẳng dám khinh quý vị, vì quý vị đều sẽ làm Phật".
Nếu
ta có cơ duyên học nhiều, hiểu rộng thì khi có người đến
hỏi đạo, ta nên vui lòng chỉ dẫn. Trong trường hợp ta bận
tu trì, tụng niệm hay nghiên cứu thì ta có thể dời lại
khi khác, chứ ta không nên khinh người đến hỏi ta, cho họ
là chúng sinh ngu tối không biết gì. Chính vì không biết nên
họ mới đến hỏi, chứ nếu biết rồi thì họ đâu có đến,
mà nếu họ không đến thì làm sao ta có cơ hội bố thí pháp?
Vì vậy ta cần phải cảm ơn họ. Trước khi, trong khi và sau
khi bố thí Pháp, ta cũng nên phát nguyện và hồi hướng. Nguyện
cho người hỏi đạo trước mặt ta mau có được trí huệ
sáng suốt và hồi hướng công đức pháp thí này cho sự giải
thoát luân hồi, hoặc quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát).
Hoặc
giả ta tu lâu năm, có chùa to mà khinh người mới tu, có chùa
nhỏ, thì ta coi chừng sẽ có một ngày đức Phật hiện ra
trách mắng ta đó! Nhưng chỉ sợ lúc đó ta lại không nhận
ra đức Phật, hoặc nếu có nhận ra đi nữa ta cũng làm bộ
nhắm mắt bịt tai không muốn nghe. Nếu vậy thì đức Phật
cũng phải lắc đầu chịu thua.
Và
nếu ta để ý một chút thì ta sẽ thấy danh từ "Tu" rất
nguy hiểm, vì nó gây ra nhiều hiểu lầm và tai hại.
Ðối
với một người tánh tình chất phác, khi họ nghe nói ta tu
lâu rồi, họ sẽ nể và kính trọng ta lắm, vì họ nghĩ rằng
ta đã chứng được gì rồi, không chứng được A La Hán thì
chắc cũng chứng được Thượng Tọa hay Ðại Ðức. Trong
tâm họ, cho "Tu" là được cái gì, giống như đi lính vậy.
Vì đi lính lâu năm thì được lên chức quan ba, quan năm, có
quyền ra oai với lính binh nhì, binh nhất hay sĩ quan dự bị.
Nhưng sự thực thì không phải vậy, Tu có nghĩa là sửa. Thí
dụ ta có một chiếc xe hơi mới mua mà bị hư, thì ta phải
sửa nó. Nếu ta là một người thợ giỏi thì chỉ trong một
ngày là ta sửa xong. Nhược bằng sửa năm ngày rồi mà chưa
xong, thì ta quả là một người thợ dở. Trong trường hợp
này, ta sẽ không dám chạy cùng làng khắp xóm mà la lên rằng:
'Tôi sửa (xe) lâu rồi, tôi sửa lâu rồi'. Cũng như thế,
khi ta nói với mọi người rằng ta Tu lâu năm rồi, đó có
nghĩa là ta sửa lâu năm rồi. Sửa cái gì? Sửa những tánh
hư, tật xấu, nhất là cái tánh ngã mạn của ta. Sửa xong
chưa?
Ở
đây có hai giả thuyết. Nếu xong rồi thì ai lại đi nó rằng
tôi sửa (tu) lâu! Nếu nói rằng tôi sửa (tu) lâu tức là
chưa xong. Nếu sửa chưa xong thì ta phải biết mắc cở chứ
! Ta tu theo đạo Phật cốt để trừ bỏ cái tánh ngã mạn
và khinh người của ta, nhưng không khéo ta lại để cho chính
chữ "Tu" nó đánh lừa ta, làm cho lòng ngã mạn, khinh người
của ta lại tăng thêm. Nếu ý thức được sự tai hại tạo
nên do chữ "Tu" thì ta đừng ngần ngại thưa và đề nghị
với quý Thầy từ nay trở đi không dùng chữ "Tu" nữa mà
thay thế bằng chữ "Sửa". Hơn nữa chữ "Tu" là một danh từ
Hán việt, còn chữ "Sửa" là tiếng Việt, nó chính xác, rõ
ràng, và dể hiểu hơn, và nó lại có công năng rất lớn,
khiến cho ta ý thức được luôn luôn là mình có những tánh
hư tật xấu cần phải sửa cho xong, và cũng diệt được
cái tánh ngã mạn, khinh người của ta nữa.
Chỉ
có người dại dột mới hay khinh người. Vì sao? Vì khinh người
tức là khinh mình vậy ! Nếu ta khinh người thì người sẽ
khinh lại ta, đó tức là ta khinh ta. Nhân quả là thế ! Nếu
ta hay khinh người mà lại thích người kính trọng ta thì không
thể có được. Trừ ra trường hợp ta làm quan lớn dùng thế
lực hay quyền hành bắt người khác phải kính phục ta thì
có. Ngoài mặt thì họ kính phục ta, nhưng ta đâu có biết
trong tâm họ chửi rủa ta. Và nếu ta không biết điều đó
thì ta vẫn là kẻ ngu mà thôi !
Trên
đây là nói về Pháp thí khinh người, đó thuộc vào loại
Pháp thí không trong sạch (avisuddha dana). Trong trường hợp
ta học nhiều, hiểu rộng mà lại có tài có tài ăn nói nữa,
thì rất là may mắn cho đạo Pháp. Nhưng nếu ta ưa thuyết
pháp với mục đích cho mọi người nể ta, kính trọng ta thì
đó là Pháp thí cầu danh, cũng thuộc vào loại pháp thí không
trong sạch.
Trong
sự Pháp thí không trong sạch này, hiệu quả của nó cũng
có hai loại: lợi và hại. Trước hết là xét về giáo lý
mà ta bố thí, xem đúng hay sai với chánh pháp. Ðúng, là khi
người nhận nghe theo đó hành trì, tu tâm sửa tánh, tạo thiện
nghiệp (kusalakarma), trong trường hợp này thì người nhận
được lợi, còn ta chả được gì cả vì lửa ngã mạn đã
đốt hết rừng công đức Pháp thí của ta. Trong trường hợp
giáo lý sai với chánh pháp thì cả hai bên đều bị hại cả.
* Về
Tài thí :
Là
Phật tử tại gia tức Ưu bà tắc (Upàsaka), Ưu bà di (Upàsika),
ta có bổn phận phải hộ trì Tam Bảo, có nghĩa là giúp đỡ
và gìn giữ cho Phật giáo được dài lâu. Tại sao dài lâu?
Vì ta biết rõ Phật giáo dạy ta con đường giải thoát, có
lợi ích cho tất cả mọi người nên ta muốn nó dài lâu.
Tùy theo khả năng cá nhân, ta có thể giúp đỡ, bố thí tiền
của hay sức lực.
Như
ta đã đọc qua các phần trước, bố thí là một việc rất
tốt đem lại nhiều phước báu cho ta, và bố thí lại là
một hạnh đầu tiên của Bồ Tát. Nhưng bố thí mà không
biết cách bố thí thì không đem lại lợi ích gì cả! Ta hãy
tự nhìn lại mình xem, sau bao năm bố thí, bây giờ ta thế
nào? Ta bỏ chùa, ở nhà tu rị (tức là tu một mình) ta sợ
đến chùa vì đến đó có người ra quyên tiền ta, rồi ta
bất mãn rao lên rằng chùa này làm tiền, chùa kia làm tiền.
Tất cả những cái đó có là do tại ta, vì trước kia ta đã
không học cách bố thí. Gặp Thầy nào bố thí Thầy đó,
nhất là hay ưa bố thí các Thầy tu lâu để được phước
hay để lấy danh. Rồi Thầy muốn cái gì là ta dâng cái ấy.
Dâng riết đến lúc hết dâng được thì ta chạy trốn luôn,
không dám gặp Thầy nữa.
Khi
đến chùa, gặp một việc kêu gọi bố thí hay cúng dường
thì ít nhất ta phải suy tư một chút, xem việc đó nếu có
lợi cho Thầy, cho ta, cho mọi người thì ta hãy vui lòng bố
thí. Nếu việc đó không có lợi cho Thầy, hoặc cho ta mà
có lợi cho tất cả mọi người thì ta cũng sẵn lòng bố
thí (trong trường hợp ta là Bồ Tát).
Ngoài
ra đúng theo như luật xưa đức Phật để lại thì bổn phận
của cận sự nam (upasaka) và cận sự nữ (upasika) là bố thí
cúng dường bốn việc cho chư Tăng : nơi ở, quần áo, thức
ăn và thuốc men. Nơi ở thì có chùa, ta có thể đóng góp
hàng tháng cho Hội, rồi Hội chi phí cho chùa. Quần áo thì
ở xứ Tây phương này quý Thầy, người nào cũng rất là
đầy đủ. Thức ăn thì ta xem chừng, lâu lâu mua gạo, hay
mua rau cải đến tiếp tế, hoặc nếu không có thời giờ
thì ta có thể đưa tiền cho vị Tri khố lo giùm. Còn về thuốc
men thì ta cần lưu ý, vì ở bên Pháp này quý Thầy không đi
làm chính thức nên không có 'bảo hiểm xã hội' (Sécurité
sociale), tức là khi có bệnh tật gì thì quý Thầy ráng chịu.
Vì lý do đó ta không nên bắt quý Thầy tụng đám, cầu an,
cầu siêu nhiều quá, rủi quý Thầy cảm cúm, ho lao ... hay
mệnh hệ nào thì ta không có đủ tiền lo thuốc men, lúc đó
ta sẽ ân hận lắm đấy!
Ða
số quý thầy ngày nay thường hay kêu gọi ta đóng góp để
làm chùa to. Có nhiều người không hiểu, cho rằng thầy tu
gì mà còn ham danh lợi. Sau đó đi rao là chùa làm tiền hoặc
chùa giàu, vv... Là Phật tử chúng ta nên hiểu rằng quý thầy
do lòng từ bi muốn độ nhiều chúng sinh, đền đáp ơn Tam
Bảo, hoằng truyền chánh pháp mà bất đắc dĩ phải làm như
thế. Nếu quý thầy ích kỷ chỉ lo ngồi yên trong một cái
cốc nhỏtự tu tự độ thì đỡ khổ cho quý thầy biết mấy.
Kêu gọi như vậy vừa nhọc mệt lại thêm mang tiếng, đâu
có vui thú gì !
* Khi
Ta bố thí cho chùa, ta phải tập ý thức việc làm của ta,
có nghĩa là ta biết lý do và mục đích của sự bố thí,
còn có nghĩa là ta phải biết phát nguyện và hồi hướng
công đức bố thí của mình. Ðược vậy thì ta sẽ không
ân hận, hay hối tiếc, mà ngược lại sẽ cảm thấy vui vẻ
và an tâm. Ðây gọi là Ý thức bố thí.
* Khi
bố thí (cúng dường) cho quý Thầy. Cũng vậy, ta phải tập
ý thức việc bố thí của mình. Quý Thầy là đối tượng
của sự bố thí, còn gọi là ruộng phước (punyaksetra). Vì
sao? Vì chính nơi quý Thầy là chỗ để ta gieo hạt giống
phước nên gọi là ruộng phước.
- Khi
ta thương hại hay tội nghiệp một vị Thầy nào đó, tu hành
khổ cực mà ta bố thí, thì vị Thầy đó trở thành ruộng
phước nhỏ, vì được gieo bởi những hạt giống thương
hại (karunà), nên sẽ cho ta cây lúa nhỏ.
- Khi
ta kính trọng một vị Thầy nào mà ta bố thí, thì vị Thầy
đó trở thành ruộng phước lớn, vì được gieo bởi những
hạt giống kính trọng (satkàra), nên sẽ cho ta những cây lúa
lớn.
- Nếu
ta vừa kính trọng vừa thương hại mà bố thí thì ta sẽ
gặt được cả hai loại lúa lớn có nhỏ có.
Trước
khi cúng dường cho quý Thầy ta biết được vì thương hại
hay kính trọng, và khi đang cúng dường ta cũng biết được
là ta đang cúng dường, cúng dường xong ta biết hồi hướng
công đức mà ta vừa tạo cho sự giải thoát sinh tử của
mình, hay cho quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát). Ðó gọi là
Bố thí trong sạch và ý thức. Ta đừng lầm lẫn 'ý thức'
với 'chấp trước'. 'Ý thức' ở đây có nghĩa là chánh niệm,
biết ta đang làm gì, phải làm gì, sẽ làm gì. Còn bố thí
chấp trước không nằm trong bố thí trong sạch, vì khi bố
thí cho rằng ta đây là người cho, đây là vật bố thí, còn
kia là người nhận, rồi khởi tâm ngã mạn khinh người, hoặc
trước khi bố thí đã có cái tâm cầu danh hay ngã mạn rồi,
nên khi vừa tác động thì sự bố thí đã là bố thí chấp
trước rồi.
- Khi
gặp một vị Thầy nào, ta lấy tài của ra gọi là cúng dường
hoặc có nhiều khi ta đưa cho vị Thầy ấy mà chả nói chả
rằng gì cả, thì đó là bố thí vô tâm và vô ý thức. Bố
thí vô ý thức ta đã thấy ở trên rồi. Còn vô tâm là sao?
Vô tâm ở đây cũng có nghĩa là vô ý thức nhưng thêm vào
vô ký và vô tư. Ta học trong Kinh Kim Cang thấy nói rằng bố
thí mà không bố thí mới thực là bố thí, hoặc bố thí
mà không thấy có ta là người bố thí, đây là vật bố thí,
và kia là người được bố thí. Học như vậy xong nên khi
bố thí ta không dám nghĩ gì cả, vì sợ suy nghĩ thì rơi vào
chấp trước, hoặc có bố thí thì làm sao cho nhanh để khỏi
kịp ý thức được việc làm của mình, hoặc trong lúc bố
thí thì miệng nói, mắt nhìn chổ khác. Ðó gọi là bố thí
vô tâm. Bố thí vô tâm cũng phát xuất từ một tấm lòng
tốt, nhưng vì không hiểu đạo nên phước báo của nó thuộc
loại hữu lậu.
Ta
không nên lầm lẫn vô tâm bố thí với Tánh Không bố thí.
Vô tâm bố thí là tâm không nghĩ và không ý thức được
sự bố thí trong lúc đang bố thí. Còn tánh không bố thí
thì hiểu và thực hiện được tánh Không của sự bố thí
trong lúc đang bố thí. Tánh Không bố thí chính là Bố thí
Ba La Mật (dànaparamità), nghĩa là thấy cả ba yếu tố tạo
ra sự Bố thí đều không có tự tánh. Trước khi thực hành
Tánh Không bố thí, ta cần phải thực tập quán chiếu nhiều
về lý nhân duyên, tức thấy được sự tương duyên tương
sinh của mọi vật, thấy rằng các pháp phải nương vào nhau
mà hiện hữu, nên không có một tự thể riêng biệt. Khi ta
quán chiếu thuần thục về Tánh Không của các pháp rồi,
ta đem sự quán chiếu đó áp dụng vào việc Bố thí, đó
gọi là Tánh Không bố thí.
Khi
thực hành bố thí, ta hãy nên thành thực với chính ta, xem
lại ta còn chấp trước hay không chấp trước, có lầm tánh
Không với Vô tâm không? Nếu có thì ta sửa lại, vì đó là
việc nội tâm của mình, bên ngoài không ai hay cả, cũng không
có ai chấm điểm hay thưởng phạt ta cả, chỉ có chính hành
động của ta thưởng phạt ta mà thôi.
Cũng
cần nói thêm về Tánh Không (Sùnyata). Tánh Không là con dao
hai lưỡi. Nếu ta hiểu được nó thì nó giúp ta sớm chặt
đứt các giây vô minh trói buộc ta. Còn ngược lại, nếu
ta hiểu lầm thì nó sẽ khiến ta tạo những hành động vô
phước. Vì thế Cổ nhơn có câu: 'Thà chấp có như núi Tu
Di còn hơn chấp không như hạt cải'. Nếu ta chưa hiểu được
tánh Không thì ta cứ thực hành hữu tướng bố thí, tức
là phát nguyện, ý thức, và hồi hướng, trước khi, trong
khi và sau khi bố thí. Ðó gọi là biết cách bố thí.
- Trên
đây là nói qua trường hợp bố thí vì thương hại hay vì
kính trọng một vị Thầy mà ta bố thí. Còn trong trường
hợp đối với một Thầy từ xa mới đến mà ta chưa quen
biết thì sao? Thì đó lại là một việc dễ xử đối với
ta, vì ta không biết quá khứ riêng tư của Thầy đó, nên
ta dễ khởi tâm kính trọng mà bố thí. Và trong lúc bố thí
ta có thể nguyện như vầy: 'Con thành tâm cúng dường Thầy,
cầu cho Thầy mau đắc đạo để cứu khổ chúng sinh'. Ta có
thể niệm thầm hoặc nói thẳng ra ngoài được thì càng tốt.
Ðây là một sự bố thí trong sạch và quả báo của nó sẽ
vô lượng. Vì sao? Vì người cho thành tâm và người nhận
được kính trọng . Người nhận được kính trọng hay không
là tùy ở nơi tâm người cho. Nếu ta khôn khéo biết được
phước bào do sự bố thí của mình sẽ vô lượng hay hữu
lượng tùy ở nơi tâm người cho thì ta sẽ luôn luôn khởi
tâm kính trọng người nhận. Ðó là biết cách bố thí vậy.
- Bây
giờ nếu có trường hợp ta không thương hại, không kính
trọng, mà cũng không ưa một vị Thầy nữa thì ta phải làm
gì? Có phải bố thí không?
Ở
đây lại là một vấn đề khác. Ta cần tự xét lại mình
trước. Tại sao không ưa? Không ưa chỗ nào? Sau khi xét lại
nội tâm xong ta có thể xin đến gặp vị Thầy đó để giải
tỏa những điều thắc mắc đã tạo ra sự bất hòa (khi có
một sự bất hòa thì cả hai bên đều có lỗi cả). Trong
trường hợp thầy và trò đều có chí cầu tiến và phục
thiện thì tốt quá. Nhưng nếu cả thầy lẫn trò đều nhận
thấy mình là đúng và người kia sai thì lúc đó đường ai
nấy đi, ta được quyền rút lui nhưng phải có trật tự,
nghĩa là không được tạo khẩu nghiệp. Sau khi rút lui xong
ta nên đi tìm một vị Thầy khác để nương cậy. Vì sao?
Vì ta là một cận sự nam hay cận sự nữ. Cận sự có nghĩa
là ở gần để giúp đở và học hỏi.
Không
phải vì không ưa một Thầy mà ta ghét tất cả các Thầy
khác. Không phải vì không ưa một chùa mà ta xa lánh tất cả
các chùa khác. Nếu làm như vậy thì gọi là 'Vơ đũa cả
nắm'. Thái độ nầy không tốt vì nó làm cho ta không mở
mang được kiến thức, không thực hiện được các hạnh
tốt, cùng lúc đó thì cái gọi là 'ngã kiến' của ta sẽ
tăng trưởng. Và nếu ta cứ giữ mãi thái độ 'Vơ đũa cả
nắm' thì ta sẽ biến thành 'Con ếch ngồi đáy giếng'.
* Lầm
lẫn bố thí với trả công
Bố
thí là một hành động phát ra từ tấm lòng thành, muốn cho
người nhận được an vui hạnh phúc.
Còn
trả công là một hành động vô tình, tức là không có tình
nghĩa gì cả, nó dựa trên một sự đổi chác.
Khi
ta đi ra ngoài đường gặp một người nghèo xin ăn, ta lấy
năm cắc ra cho họ. Ta cho vì ta thương hại, chứ không phải
vì người đó làm gì cho ta. Ta cho mà không cần được trả
lại, ta chỉ cần người đó nhận cho là ta đã vui rồi. Ðó
gọi là bố thí.
Còn
trả công thì khác, nó là kết quả của một sự đổi chác.
Thí dụ như ta là ông chủ một hãng. Ðến cuối tháng ta phát
tiền cho nhân viên. Hành động phát tiền của ta không được
gọi là bố thí mà phải gọi là trả công. Vì sao? Vì suốt
một tháng vừa qua nhân viên đã làm việc cho ta, nên bây giờ
ta phải trả lương cho họ. Và khi ta đưa tiền cho họ, trong
tâm của họ đâu có mang ơn ta, vì họ biết đó là tiền
của họ phải được. Trong tâm ta cũng vậy, tuy nhân viên
làm việc cực nhọc suốt tháng vừa qua cho sự sản xuất
của hãng ta, nhưng ta cũng đâu có mang ơn họ, vì ta trả tiền
cho họ rồi mà! Giữa hai bên không có tình nghĩa gì hết,
cũng không ai mang ơn ai cả. Ta đưa tiền vì người kia đưa
công, người kia đưa công vì ta đưa tiền.
Sau
khi hiểu rõ thấy được sự khác biệt giữa bố thí và trả
công rồi, ta hãy đưa mắt nhìn về chùa của mình xem sao?
Xem mình có phạm cái lỗi lầm đó không?
Ngày
thường ta chả bao giờ đến chùa, tự nhiên đến bố thí
hay cúng dường các Thầy. Ðến khi trong gia đình có cha mẹ
chết, lúc đó ta mới đến chùa thưa thỉnh lễ phép rước
Thầy về nhà tụng Kinh cầu siêu cho cha mẹ ta. Rồi sau khi
đám sám xong, ta rút vài tờ giấy bạc bỏ vào phong bì cúng
dường cho Thầy. Làm xong việc như vậy, ta ra về thở phào
nhẹ nhõm, trong tâm nghĩ rằng đã làm xong bổn phận đối
với cha mẹ, đã làm xong bổn phận đối với ông Thầy, và
cùng lúc lại làm phước nữa chứ! Thử hỏi hành động của
ta được gọi là gì? Tuy nhiên trong cuộc thì cũng có người
được chút ít. Ðó là người được thí, tức ông Thầy
: ông Thầy có được vài trăm bỏ túi đi xe lửa. Vì lầm
lẫn như thế nên ta cứ tiếp tục bố thí cái kiểu trả
công. Riết rồi ban đầu Thầy đi xe lửa, sau đến xe hơi,
rồi đến tàu bay. Tới lúc đó thì ta la lên rằng chùa giàu!
Chùa giàu hay nghèo đều do ta cả. Ta phải tự hỏi ta chứ!
Chùa giàu để làm gì? Nghèo để làm gì? Nếu ta ý thức rằng
sự phát triển của chùa có lợi cho chúng ta nên phải cần
tài chánh thì ta làm cho chùa giàu. Còn nếu thấy cần nghèo
thì ta làm cho chùa nghèo. Giàu không phải là một cái tội,
nghèo cũng không phải là một cái phước.
Tiền
dùng đúng tiền hiền như Phật,
Bạc
xài lầm bạc ác hơn ma.
Phật,
ma cũng tại người ta
Chớ
tiền bạc nó vốn là vô tri. (Thanh Sĩ)
Ngoài
ra ta phải thông cảm cho quý Thầy chứ! Ban đầu vì lòng từ
bi mà Thầy đi cầu siêu. Cầu siêu xong ta lại bố thí cái
kiểu trả công cho Thầy. Vì sự si mê của ta, ta đã biến
lòng từ bi của Thầy, ban đầu vô giá, dần dần xuống giá
còn khoảng hai ba trăm bạc. Rồi tội nghiệp quý Thầy, cứ
phải è cổ ra nhận tiền của người chết. Ta đã biến quý
Thầy thành giống như các nhà Hòm (pompes de funèbre) tức là
sống nhờ người chết. Thật đáng buồn cho đạo Phật! Sao
ta có thể nhẩn tâm được như vậy?
Nói
như vậy không có nghĩa là từ nay về sau ta không cầu an,
cầu siêu cho cha mẹ ta, hoặc cầu siêu xong ta không trả công
cho quý Thầy nữa. Ta vẫn tiếp tục làm, nhưng phải biết
các, thêm vào nữa là lâu lâu ta lui tới chùa xem trong chùa
có cần gì giúp đỡ không thì ta phát tâm bố thí cúng dường,
không phải chờ đến khi có ai chết hay đau mới tới. Còn
trong trường hợp rước Thầy đi tụng đám xong mà ta muốn
cúng dường thì ta phải tập suy nghĩ như vầy: 'Thầy đã
vì lòng từ bi tụng niệm cho cha mẹ ta, công ơn thật vô cùng,
ta chỉ biết thành tâm phát nguyện tu học Phật để mau thoát
sinh tử luân hồi và hồi hướng công đức (bố thí, phát
nguyện) này cầu cho cha mẹ ta được siêu sanh Cực lạc'.
Từ lúc trước khi, trong khi, và sau khi cúng dường, ta phải
lập đi lập lại như vậy. Ta thành tâm, phát nguyện và hồi
hướng, cùng lúc đó ta xem vị Thầy trước mắt tượng trưng
cho Từ bi (chứ không phải thợ tụng) và ta hết lòng kính
trọng. Nếu làm được như vậy thì ta đã biến sự trả
công thành sự bố thí trong sạch.
* Không
phải chỉ có chùa chiền mới là nơi cho ta thực hiện hạnh
Bố thí
Ta
có thể thực hiện bố thí ở khắp nơi với tất cả mọi
loài : như cho con chó một khúc xương, con chim một mẩu bánh
mì, con kiến một hạt đường, v...v.... Cụ thể nhất là
khi ta đi ngoài đường bố thí cho người xin ăn. Tuy nhiên
khi bố thí ta cũng phải tập bố thí cho đàng hoàng không
được khinh người. Bố thí đàng hoàng hay trong sạch là ta
biết phát nguyện, ý thức, và hồi hướng trước khi, trong
khi và sau khi bố thí. Thí dụ như ta gặp một bà lão ở trong
góc Metro đứng xin tiền. Ta lại gần lấy tiền ra, nhưng không
đưa liền, đứng ngay lại sửa soạn phát nguyện. Có hai trường
hợp:
1)
Ta xem đối tượng tức bà lão là một vị Bồ Tát hóa thân
làm bà già để ta thực hiện bố thí. Như vậy ta sẽ phát
nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh và hồi hướng
công đức bố thí này cho quả vị Phật.
2)
Nếu ta không thể xem bà lão là một hóa thân Bồ Tát được
thì ta nguyện như vầy: 'Nguyện cho bà mau thoát khỏi cảnh
khổ của sinh, già, bệnh, chết, và ta hồi hướng công đức
bố thí này cầu mau giải thoát sinh tử, hoặc mau thành Phật'
(nếu ta là Bồ Tát).
Có
một điều lầm lẫn mà ta hay phạm phải, đó là khi ta không
ưa một vị Thầy nào rồi thì ta ngưng luôn việc bố thí
! Một vị Thầy không phải là đối tượng duy nhất của
sự Bố thí. Ta có thể về nhà bố thí cho con cho cháu, cho
gia đình họ hàng, hay cho bạn bè, xa hơn nữa là bố thí cho
các Hội Từ Thiện (Croix Rouge, Unicef, Médecins du Monde, Médecins
sans frontières, ...) hoặc cho những loài khác như chim, gà, kiến,
... Ðối tượng của sự bố thí rất rộng rãi và bao la,
quan trọng ở chỗ là ta có muốn bố thí hay không? Nếu muốn
thì ta luôn luôn tìm thấy đối tượng, còn không thì ta sẽ
chả thấy ai là người đáng cho ta bố thí cả.
* Ta
nên bố thí trực tiếp
Lâu
lâu nhớ đến Phật, ta mua hoa quả đem vào chùa cúng dường
cho Phật. Nhưng khi vào chùa ta không nên đưa hết cho vị Hương
đăng mà nói rằng: 'Này, cô hay chú cúng hộ tôi cho Phật'.
Làm như vậy mất cả tình nghĩa của ta đối với Phật. Và
hơn nữa là ta sẽ không có cơ hội phát nguyện và hồi hướng
công đức của sự bố thí. Như thế thì dù cho ta có mua mấy
xe hoa đem vào chùa cúng Phật, cũng chả được phước đức
gì cả, nhiều lắm là làm cho chùa thêm vui mắt mà thôi. Ở
ngoài đời người ta còn biết nói 'của ít lòng nhiều', huống
chi ta là con Phật mà lại bố thí 'của nhiều lòng ít' hay
sao?
-oOo-
8.
Kết luận
Ðọc
đến đây ta tự hỏi, chỉ có mỗi một việc bố thí thôi
mà sao tác giả lại viết ra dài dòng quá vậy? Ta nên thông
cảm cho tác giả vì những lý do đã nêu ra ở phần đầu
quyển sách. Tác giả bất đắc dĩ phải nói ra dài dòng vì
lâu nay ta đã coi thường hạnh bố thí, từ chỗ coi thường
ta đi đến chỗ hiểu sai lầm, từ chỗ sai lầm ta đã làm
liên lụy đến uy tín Tam Bảo. Trong khi đó thì Bố thí là
một hạnh rất quý, là hạnh của các vĩ nhân, của Bồ Tát,
của Phật. Tuy nhiên, sau khi đọc xong nếu ta không thể nhớ
hết có bao nhiêu loại bố thí, phải bố thí kiểu nào cho
đúng thì ta có thể tóm tắt lại đơn giản ba điều : phát
nguyện, ý thức, và hồi hướng. Trước khi bố thí ta đứng
ngay lại, nhắm mắt phát nguyện, không phải đi đâu mà vội,
vì việc bố thí cũng quan trọng như việc tụng Kinh vậy.
Phát nguyện xong rồi ta bố thí, trong lúc bố thí ta phải
chăm chú cẩn thận xem đối tượng của ta ( người nhận)
cũng như một vị Bồ Tát hay một ân nhân vậy. Sau khi bố
thí xong ta nhắm mắt lại một phút để hồi hướng công
đức bố thí cho sự giải thoát sinh tử, hoặc vãng sanh Cực
lạc (nếu ta tu Tịnh Ðộ) hoặc cho quả vị Phật (nếu ta
là Bồ Tát).
Việc
phát nguyện và hồi hướng rất là quan trọng. Ta hãy để
ý xem, cứ sau mỗi thời Kinh ở chùa cũng như bất cứ ở
đâu đều có một bài hồi hướng ngắn. Nhưng vì đọc quen
quá, giống như ăn cơm bữa nên ta chả cần để ý làm chi
cho mệt.
Tóm
lại chúng ta cần bố thí nhiều, biết bố thí, tập bố thí
trong sạch, vì Bố thí (bao gồm: cho, tặng, biếu, dâng, cúng
dường) là một hành động đẹp đẽ nhất mà con người
có thể cho con người, và bố thí cũng là nền tảng rất
quan trọng mà người hành Bồ Tát đạo không thể thiếu sót
được.
Sau
cùng, nếu ta gặp những Phật tử mới quy y Tam Bảo chưa biết
Bố thí làm sao, thì ta hãy vui lòng hướng dẫn và khuyên nhủ
họ, còn nếu ta gặp những Phật tử đã đi chùa lâu năm
mà quên, lơ là hay không còn nhớ cách Bố thí đứng đắn
thì ta hãy thực hiện Pháp thí bằng cách đưa cho họ xem tập
sách này, đó là ta đã góp phần xây dựng lại đạo Phật
vậy.
Hắc
Vân Lộ, mùa đông năm Ðinh Mão 1988
Thích
Trí Siêu