Chương
Mục
Lời
tựa
Tiểu
sử Tôn Giả Santideva
01
Xưng Tán Bồ Ðề Tâm
02
Sám Hối
03
Phát Bồ Ðề Tâm
04
Thực Hành Bồ Ðề Tâm
05
Giữ gìn tâm ý
06
Nhẫn nhục
07
Tinh tấn
08
Thiền định
09
Trí Huệ
10
Hồi hướng công đức
Thư
mục
Kính
dâng sách này lên
Hòa
Thượng Bổn Sư thượng Huyền hạ Vi
và
Lama Guendune Rinpoché
Lời Tựa
Mục
đích chung của người tu Phật là cầu giác ngộ giải thoát,
nhưng đối với người theo Phật giáo Ðại Thừa thì mục
đích chính là phải cầu thành Phật.
A La
Hán cũng giác ngộ giải thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ
giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ giải thoát, nhưng
các Ngài vẫn chưa phải là Phật. Nhưng tại sao lại phải
cầu thành Phật chứ? Ðược giác ngộ giải thoát chưa đủ
sao?
- Chưa
đủ! Ðủ làm sao được đối với người đã hiểu, đã
thấy tất cả chúng sinh chính là mình, mình chẳng khác với
chúng sinh; cái khổ của chúng sinh chính là cái khổ của mình
và sự giải thoát của chúng sinh cũng là sự giải thoát của
mình. Nếu chưa hiểu được vậy thì ít nhất cũng phải suy
nghĩ, từ vô thỉ đến nay, trôi lăn trong sinh tử luân hồi
tất cả chúng sinh đều đã ít nhất một lần làm cha mẹ
ta, đã nuôi nấng, thương yêu, chăm sóc ta chẳng quản khó
nhọc, nhiều khi còn phải hy sinh tánh mạng vì ta. Như thế,
ta nỡ lòng nào cầu giác ngộ giải thoát một mình? Nhưng
chúng sinh đông quá làm sao độ cho hết? Ðại A La Hán kia
như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên còn chỉ độ được vài
trăm đệ tử, nói chi ta đây là kẻ phàm phu? Ðành rằng các
vị A La Hán là những người giác ngộ giải thoát, nhờ chuyên
tu thiền định, diệt trừ phiền não, song từ những kiếp
xa xưa, các ngài không lập những thệ nguyện rộng lớn vì
chúng sinh, không dám xả thí thân mạng, tài sản, vợ con,
không biết gần gũi, thân cận, cúng dường chư Phật, Bồ
Tát, Thiện tri thức. Do đó các ngài chưa có đủ công đức,
trí huệ, hùng lực như chư Phật. Chỉ có Phật mới đầy
đủ khả năng giáo hóa, cứu độ chúng sanh vô lượng. Ngoài
ra trong kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, đức Phật đã khai thị
rõ về Phật tánh, khuyên nhắc chúng sinh cầu Phật quả. Chúng
ta là con Phật (Phật tử) thì phải cố gắng được như cha
của mình chứ! Bước đầu tiên là chúng ta phải phát nguyện
cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh. Sự phát nguyện
(hay tâm niệm) đó gọi là Bồ Ðề Tâm (Bodhicitta). Khi vừa
phát tâm như vậy thì chúng ta liền trở thành một Bồ Tát
(Sơ phát tâm). Chư Phật ba đời cũng đều phát xuất từ
chư Bồ Tát, do đó trong kinh Bảo Tích Ðức Phật đã không
ngớt khen ngợi và đề cao hàng Sơ phát tâm Bồ Tát: "Hàng
Sơ phát tâm Bồ Tát, tuy căn tánh Bồ Tát chưa đầy đủ,
đức tướng Bồ Tát chưa trọn vẹn hiển bày cho mọi người
thấy được, nhưng các Thiện Thần Vương hết lòng tôn trọng
đến hộ vệ... Bồ Tát Sơ phát tâm chưa có công đức gì,
nhưng đem so với A La Hán vẫn còn cao hơn ... Này Ca Diếp!
Thí như hạt châu lưu ly nhỏ mà giá trị hơn là khối thủy
tinh lớn như núi Tu Di. Bồ Tát cũng như vậy, ngay từ khi phát
tâm cũng đã hơn hàng Thanh Văn, Bích Chi (tr 142, kinh Bảo Tích
do T.T. Ðức Niệm dịch). Do đó, khi vừa phát tâm Bồ Ðề
thì liền trở thành Bồ Tát, không cứ phải đến các Ðại
Giới Ðàn thọ Bồ Tát giới mới được xem là Bồ Tát. Nói
như vậy không có nghĩa là bác bỏ việc thọ giới, ngược
lại hành giả Ðại Thừa rất nên cầu thọ giới pháp, vì
thọ (hay truyền) giới trong sự trang nghiêm, đúng phép rất
có lợi ích, nó có khả năng tác động mạnh vào tâm khảm
của giới tử, và nếu giới tử thanh tịnh thành khẩn thì
được xem là đắc giới. Nhưng thọ Bồ Tát giới và chỉ
lo giữ giới Bồ Tát không chưa đủ để được xem là Bồ
Tát. Bồ Tát giới chỉ là hàng rào ngăn chặn giúp hành giả
Bồ Tát không bị sa đọa, đó là phần tiêu cực.
Hành
giả Bồ Tát phải tích cực hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi
hành động, mỗi lời nói, mỗi ý niệm đều hướng về chúng
sinh, vì lợi ích chúng sinh. Khi tụng một thời kinh thì trên
cúng dường chư Phật, dưới cầu cho pháp âm tỏa khắp pháp
giới làm lợi ích chúng sinh. Ngồi thiền dù chỉ năm phút
cũng cầu giác ngộ bổn tánh. Ðể làm gì? Ðể cứu độ
chúng sinh. Niệm Phật dù chỉ mười câu cũng không quên hồi
hướng công đức cho chúng sinh. Ðược như thế mới xứng
đáng là Bồ Tát, là trưởng tử của Như Lai. Ðâu cứ phải
làm chùa to, tượng lớn mới gọi là Bồ Tát. Nói như vậy
không có nghĩa là đả kích việc làm chùa to, tượng lớn,
vì chùa to, tượng lớn cũng chỉ là vật vô tri, tự nó đâu
có lỗi lầm gì, chẳng qua tùy thuộc nơi người làm, nếu
làm với tinh thần vô ngã, bất vụ lợi, vì lợi ích chúng
sinh thì rất được xưng tán, cúng dường.
Sau
khi phát tâm Bồ Ðề (còn gọi là Bồ Ðề Tâm nguyện), hành
giả Bồ Tát cần phải noi theo gương của chư Bồ Tát quá
khứ, hiện tại, vị lai, hành Bồ Tát Hạnh (còn gọi là Bồ
Ðề Tâm Hạnh). Bồ Tát Hạnh được nói nhiều trong kinh Hoa
Nghiêm và Ðại Bát Nhã, nhưng lời kinh quá thâm diệu và chư
Bồ Tát nhất là trong kinh Hoa Nghiêm đều là những bậc Ðại
Sĩ Bồ Tát đã phát tâm Bồ Ðề và thực hành Bồ Tát Hạnh
từ quá khứ vô lượng vô biên kiếp hải. Do đó chúng ta,
hàng Sơ phát tâm Bồ Tát chỉ biết đảnh lễ hoặc lắc đầu
thè lưỡi, không dám hoặc không biết làm sao noi theo. Hạnh
của Bồ Tát tuy nhiều vô lượng vô biên nhưng tóm lại không
nằm ngoài Thập Ba La Mật hay Lục Ba La Mật, và như thế chúng
ta có thể bắt đầu học hỏi và tu tập Lục Ba La Mật, còn
gọi là Lục Ðộ.
Người
học Ðạo nên có tinh thần như của Thiện Tài Ðồng Tử,
tức là không bao giờ cho sự hiểu biết đạo lý hay chứng
đắc của mình là đủ, luôn luôn tìm thầy hoặc thiện tri
thức tham vấn học hỏi. Nếu không có duyên gặp được thầy
lành bạn tốt thì ít nhất cũng phải nương theo Kinh, Luật,
Luận vạch cho mình một hướng đi áp dụng vào đời sống
hằng ngày.
Vào
cuối hạ năm 89, tôi có dịp gặp Guéshé Tengyé, Viện Trưởng
Tu Viện Vajrayogini ở Lavaur, thấy ngài đọc một quyển sách.
Hỏi ra, tôi được biết đó là Bodhicaryàvatàra (Bồ Tát Hạnh)
và cũng là kinh nhật tụng của ngài. Rồi ngài hỏi lại tôi:
"Có là Bồ Tát không, nếu là Bồ Tát thì phải đọc Bồ
Tát Hạnh". Thế là từ đó trở về, tôi tìm đọc và nghiên
cứu Bồ Tát Hạnh. Mãi đến năm nay, gặp nhân duyên và được
khuyến khích nên tôi mạo muội dịch tập sách này vì thấy
những hạnh Bồ Tát nằm trong đó có vẻ gần gũi với chúng
ta (hàng Sơ phát tâm Bồ Tát) hơn là trong các kinh như Hoa Nghiêm,
Bát Nhã... Tuy có học được một chút Tạng ngữ, nhưng tự
thấy chưa đủ để có thể dịch hoàn toàn từ Tạng văn
ra Việt văn nên cuối cùng tôi nương vào 3 tài liệu sau:
1.
Byang.chub.sems.dpai'.spyod.pa.la.'jug.pa: bản Tạng văn.
2.
La marche à la lumière: bản Pháp văn dịch từ Phạn văn của
Louis Finot.
3.
A guide to the Bodhisattva's way of life: bản Anh văn dịch từ Tạng
văn của Stephen Batchelor.
Bồ
Tát Hạnh nguyên bản Phạn văn là một loại thi ca, viết theo
văn vần, gồm 913 bài kệ, chia làm 10 chương. Bản Tạng văn
cũng được dịch theo văn vần. Nhưng ở đây, trước hết
vì không phải là thi sĩ, sau nữa tôi noi theo các bản dịch
đã có trước bằng Anh và Pháp văn, viết theo văn xuôi dễ
hiểu cho người đọc.
Tác
giả tập Bồ Tát Hạnh là Tôn Giả Santideva (Bình Thiên) người
Ấn Ðộ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 7 (xin xem tiểu sử
ở chương sau). Trong tập sách này tôn giả đi từ Xưng tán
Bồ Ðề Tâm, Sám hối, Lục Ðộ và sau cùng đến Hồi Hướng
công đức. Bạn đọc có thể ngạc nhiên không thấy nói về
Bố Thí, nhưng phát Bồ Ðề Tâm và hành Bồ Tát Hạnh đã
là một sự bố thí cao thượng lắm rồi, ngoài ra Bố Thí
được bàng bạc nói đến trong các chương sau. Riêng trong
phẩm Thiền Ðịnh, tôn giả nhấn mạnh tới lối sống ẩn
dật nơi rừng núi, hoặc những nơi thanh vắng để tu tập
quán chiếu về Vô Ngã. Trong phẩm Trí Huệ, tôn giả Santideva
(thuộc trường phái Trung quán) lập cuộc đối thoại tranh
luận giữa ngài và các trường phái khác, cốt để xiển
dương Tánh Không. Có nhiều đoạn quá xúc tích nên tôi thêm
vào những chú thích ở cuối trang giúp bạn đọc hiểu rõ
hơn.
Rất
mong Bồ Tát Hạnh sẽ bổ túc cho Bồ Tát Giới. Bạn đọc
có thể học thuộc lòng vài phẩm, vài đoạn hoặc đọc tụng,
cũng như các thiền sinh thuở trước học thuộc Quy Sơn Cảnh
Sách, hoặc như tu sĩ Nam Tông thuộc làu kinh Pháp Cú vậy.
Ðọc tụng để những tư tưởng Bồ Tát thâm nhập vào tâm
và từ đó sẽ khởi ra hiện hành hướng dẫn ta trong từng
ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động đúng theo hạnh mà
chư Bồ Tát đã làm.
Sau
cùng tôi xin ghi ơn Dagpo Rinpoché, giáo sư Phật học và Tạng
ngữ tại đại học INALCO Paris Dauphine, đã giảng dạy và
giải đáp nhiều thắc mắc cho tôi, Jenny Tcheuden đã cung cấp
cho tôi tài liệu, Thérésa Scott-Carroll và phật tử Chúc Tịnh
đã khuyến khích tôi soạn dịch tập sách này. Tuy vậy, bản
dịch chắc còn nhiều thiếu sót, vụng về, trách nhiệm đó
hoàn toàn về du tăng. Rất mong sau này sẽ có các bậc cao
minh giảo chính lại cho hoàn hảo hơn.
Xin
hồi hướng công đức này cầu cho tất cả chúng sinh ý thức
được sự vô thường, đau khổ của cuộc đời, đồng phát
tâm Bồ Ðề và đồng sanh Tây phương Cực Lạc.
Thanh
Sơn Lộ, tháng 7 năm 1990.
Thích
Trí Siêu.
Tiểu Sử Tôn
Giả Santideva
Theo
truyền thuyết, tôn giả Santideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng
Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua
Surastra.
Từ
những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều
đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải
thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài
đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát. Lớn lên, đến
tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng
thấy hai vị Bồ Tát : Văn Thù và Tara [1]. Bồ Tát Văn Thù
ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: "Ở đây không có chỗ
cho hai người"; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài
nói rằng: "Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa
ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với nước này đây".
Tĩnh
dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ
Tát nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành
trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát
vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định
uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống
vì đó là nước độc. Sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một
thứ nước thơm như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu
nữ: "Cô ở đâu đến?"
- Thiếu
nữ trả lời: "Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy
tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép
tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ
đó đến đây". Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng
rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn
ngài đến gặp vị thầy kia. Ðến nơi ngài thấy đó là một
hành giả Du Già (Yogi) sống trong một chòi lá. Ngài liền đảnh
lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam
muội của Văn Thù Bồ Tát.
Sau
12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên,
thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia
chính là Tara.
Kể
từ đó, ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó
ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong triều của
vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được
vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Ðể tỏ lòng thành kính
nhớ ơn vị thần linh thủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ
Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ [2].
Ngài
giúp vua trị vì đúng theo Phật Pháp và truyền dạy nhiều
kỹ nghệ mới lạ. Ðiều đó khiến các vị đại thần khác
ganh tức, tìm cách dèm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng:
"Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình
một thanh kiếm mà không bào giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng
tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến
làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin
Bệ hạ hãy khám nghiệm lại". Vua tin lời, cho triệu Thừa
tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa
tướng nói: "Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được,
nếu không Bệ hạ sẽ hối hận". Nghe vậy, vua càng nghi ngờ
nhất quyết đòi xem. Cuối cùng Thừa tướng tâu: "Nếu Bệ
hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng,
lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi".
Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe
lên quá mạnh khiến con mắt trái của Vua rơi xuống đất.
Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc
đạo, một Ðại thành tựu giả [3] nên cầu xin sám hối.
Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua
bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.
Sau
đó tôn giả từ bỏ chức Thừa tướng, tìm đến Tu viện
Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Santideva. Sau
khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3
bộ luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài
tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền
định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền
quán về Thanh Quang (Eussel, Clear Light). Tuy vậy chúng tăng bên
ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn, tư, tu gì
cả. Thấy thế, một số Thượng tọa học giả họp nhau lại
định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến:
"Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng
tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động rút
lui, rời bỏ Tu viện vì y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ
tu học gì". Thế rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng
tuyên lại Kinh Luận, ban đầu ngài từ chối, nói rằng không
biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ,
cuối cùng ngài nói: "Nếu vậy phải làm cho tôi một tòa sư
tử [4] tôi mới trùng tuyên". Nghe vậy có vài người đâm
ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không
thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.
Sau
khi lên ngồi tòa sư tử, ngài hỏi: "Các vị muốn tôi tụng
lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau
này". Vì muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: "Những
sáng tác mới sau này".Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ
Tát Hạnh (Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: "Khi Có
và Không không còn khởi lên trong tâm..." thì ngài bay lên hư
không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng
lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không
thấy ngài nữa, tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm
kiếm, thấy trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya [5], Siksacamuccaya
và Bodhicaryavatara.
Chú
thích:
[1]
Tara là một hóa thân hình nữ của Quán Thế Âm, trong Phật
giáo Ấn Ðộ và Tây Tạng được nói đến rất nhiều. Quán
Thế Âm, khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, ngài nhỏ lệ từ
bi và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara.
[2]
Văn Thù Bồ Tát, thường hiện thân, tay phải cầm kiếm trí
tuệ, tay trái cầm kinh Bát Nhã.
[3]
Mahasiddha: người tu hành đắc đạo có thần thông.
[4]
Simhasana: tòa ngồi chỉ dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng
lão Pháp sư.
[5]
Hai tập Siksasamuccaya (Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryavatara (Bồ
Tát Hạnh) chắc chắn tác giả là ngài Santideva, riêng tập
Sutrasamuccaya, đa số các học giả đều công nhận tác giả
là ngài Long Thọ (Nagarjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ
2 tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende
de Santideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVi. Trong tạng luận
của Tây Tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa
mà học giả Marcelle Lalou đã chuyển sang lại Sanskrit là Visvasutrasamuccaya,
tập này ngày nay đã bị mất tích. Theo học giả J.W.DeJong
thì có lẽ 2 tập này tương tựa nhau nên các sử gia Tây Tạng
và luận gia Ấn Ðộ cùng cho tác giả của Kinh Tập Yếu (Sutrasamuccaya)
là ngài Santideva. Kinh Tập Yếu đã được Hòa Thượng Linh
Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn năm
1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.
WP:
Diệu Hỷ