Một
chỗ thấy biết vắng lặng, trong trẻo, bất động, vô ngại,
vô biên hốt nhiên hiển hiện trước mắt người con Phật,
đồng "một" thực tại phi thời gian, đã làm đảo lộn các
chuẩn mực và mọi giá trị qui ước xưa cũ vốn có từ thuở
lọt lòng của người ấy, đối với cuộc sống và cảnh
giới này. Mặc dù các định chuẩn ấy, cũng là kinh nghiệm
hiểu biết được tích lũy, phát triển và ăn sâu vào tận
tim óc, máu thịt như một chùm giây mơ rễ má, mà một sát
na trở về trước, tưởng chừng khó bề bứt tách ra khỏi
óc não, nhưng chỉ sát na sau, nó vẫn phải bị loại trừ,
bị tan biến, chí ít là ẩn hiện mờ nhạt trước một chỗ
thấy biết tuyệt đối, tự tại, hiển nhiên, không đến
không đi, nếu người ấy không động niệm phân biệt.
Giá
như miệng lưỡi có thể chứng minh được tự thể của khoảnh
khắc thực tại ấy, thì ở chỗ thẳm sâu nhất, chơn chất
nhất mà tự đó có thể duyên quyện thành lời, ắc câu nói
đầu tiên mà người con Phật muốn thốt ra, muốn hét lên
thật to cho mọi người cùng nghe biết, không ngoài việc thể
hiện lòng từ mẫn vô biên, hoà lẫn niềm tri ân thẳm sâu
tuông chảy vào cõi mênh mang, không gốc gát. Câu nói đó,
hoặc là để đánh động mọi người cùng trực nhận chỗ
thấy biết siêu tuyệt kia, như một sự chan hoà bình đẳng
tuyệt đối, tự nhiên như nhiên, không còn gì là riêng biệt
chia cắt, hoặc là để đinh ninh trước mọi người một
sự thật không gì thật hơn, với lòng biết ơn trải khắp
cả mười phương hư không, không sao nói hết, rằng "đạo
Phật là đạo giải thoát".
Phải
! "Ðạo Phật là đạo giải thoát"! Ðó là chân lý, một sự
thật bất biến, không gì có thể khác được đối với người
con Phật, lúc này. Còn ai có tin hay không tin chân lý ấy, là
tuỳ duyên phước của từng mỗi chúng-sanh-tâm, hoặc là đang
tự đóng khung biệt lập trong phạm vi ý thức về những định
chuẩn quán tính xưa cũ, tôn vinh bản ngã và trói buộc với
ngã-pháp sanh-tử hạn hẹp, hoặc là đang hoà làm một cùng
với con mắt đạo vốn dĩ luôn tự sẵn có cùng khắp, chưa
từng đóng mở, chưa từng đến đi, tạm ví như bầu trời
thinh thinh rộng lớn, trong trẻo trên cao. Ðiều ấy có nghĩa,
tin hay không tin là tuỳ ở từng mỗi con mắt, ngoài chỗ thấy
biết trói buộc nghiệp thức nhơn quả này ra, còn khám phá
được gì nữa, khi người ấy có dám đi tìm cái sống miên
viễn, vượt quá sanh tử bằng cách can đảm và tỉnh táo
buông tay để rơi tự do vào khoảng không vắng lặng, sâu
thẳm vô biên của tự tâm hay không.
Nhân
kỷ niệm đãn sanh lần thứ 2552 của bậc Ðạo-sư Vô thượng,
người đang tập tễnh trên bước đường tu học này xin gởi
gắm trong đây tất cả lòng hiếu kính và biết ơn ba đời
chư Phật, Bồ tát và các vị Thầy đã từ bi cứu vớt, dẫn
dắt mảnh thức tâm u mê, tăm tối, lầm lạc này đi vào chánh
đạo. Bên cạnh đó, người viết mong được chia xẻ với
các bạn đạo thân thiết của mình, những Phật tử đang
tu học tại gia, một đề tài tuy xưa cũ, có lẽ không
ai không biết, nhưng lại rất quan trọng cho việc tự chứng
giải thoát, đó là Giải-thoát Tri-kiến Giải-thoát.
I. Tri kiến
Giải thoát.
Ý
nghĩa của hai chữ giải thoát thì bao quát, rộng lớn vô cùng,
nên xin không đi vào chi tiết. Vả lại, với những người
gần đất xa trời (như chúng tôi), thì đại sự nhân duyên
là việc vô cùng cấp thiết, như đang từng giờ, từng phút
thúc giục không được xao lảng việc thực hành pháp Phật,
bỡi cái quĩ thời gian "trăm năm cõi này, một đời học đạo"
của mình còn lại qúa ít ỏi, nên sự hiểu biết đối với
chữ nghĩa, có lẽ cũng chẳng thấy còn quan trọng mấy. Hơn
nữa việc làm giàu tri thức, bằng những khái niệm tương
đối, là việc làm đi ngược lại với pháp môn mà chúng
tôi đang tu học, cũng như ngược lại nội dung chính yếu
mà chúng tôi mong muốn được trình bày trong bài viết ngắn
này, là người tu Phật cần biết vượt thoát khỏi Tri-kiến
Giải-thoát, để tự thăng hoa. Bỡi vậy chỉ mong được định
nghĩa sơ lược.
Giải-thoát.
Giải là cởi, thoát là vượt khỏi. Nghĩa giải thoát được
hiểu một cách sơ lược trong đây là " vượt thoát sự
trói buộc của khổ ách".
Ðã
làm thân chúng sanh thì ai chẳng phải bị khổ ách trói buộc.
Và cũng vì thương xót chúng sanh hệ lụy khổ ách nên chư
Phật mới xuất hiện ở thế gian để ban phát pháp giải
khổ vậy.
Tri-kiến
là thấy biết, lại còn có nghĩa là chỗ thấy và chỗ biết.
Phàm phu thấy bằng con mắt của nhãn căn (nhục nhãn - con
mắt thịt) và biết bằng ý thức, tức cái chỗ biết bằng
phân biệt nhị nguyên theo khái niệm vọng lập, hệ lụy nhơn
quả. Các bậc Thánh hiền, Bồ tát thì tuỳ từng công hạnh
tu học, chứng nhập diệu pháp vô vi sâu hay cạn mà chỗ thấy
biết có nhiều tầng nấc thấp cao sai biệt, gồm từ nhục
nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn cho tới pháp nhãn. Với chư Phật
thì chỗ thấy biết gồm trọn vào ngũ nhãn, tức thêm phần
thấy biết của Phật nhãn. Bỡi vậy chỗ thấy biết của
đức Phật được tôn xưng là nhứt thiết trí, là toàn biết,
tức không gì không biết.
Tri-kiến
giải-thoát trong đây phải được hiểu là chỗ thấy biết
của Thánh trí được vận dụng thành lời, vượt quá trói
buộc của nhị nguyên phân biệt, sanh tử nghiệp báo, là phương
tiện từ trí huệ giải thoát mà chỉ có các Ngài với nhau
mới có cùng một chỗ thấy-biết "đang-là" rốt ráo. Còn
những người đang học đạo như chúng ta, tuy cũng vẫn đối
diện với những lời vượt thoát ấy, nhưng vì chỗ thấy
nghe hiểu biết của chúng ta bằng thức ý, trói buộc nhị
nguyên phân biệt, nên cần phải nương mượn tri kiến ấy
làm phương tiện khai mở, cũng là học, hiểu và hành theo
tinh thần của tri kiến ấy dẫn dắt, và cuối cùng là phải
biết vượt lên khỏi mọi ý niệm về sự hiểu biết ấy
thì mới có thể được gọi là tự độ thoát.
Trong
nhơn quả, do căn cơ duyên phước theo nghiệp báo của mỗi
người có chỗ khác nhau, nên trong tiến trình tu tập, ý niệm
cũng như sự cảm nhận một cách tương đối của từng người
về nghĩa giải thoát đương nhiên có chỗ sai biệt, nhưng,
theo Giáo lý nhà Phật , vị giải thoát cùng tột thì chỉ
một, đó là tâm giải-thoát tuyệt đối, là ở bờ kia.
Lại
nữa, cái khổ của chúng sanh thì muôn hình muôn vẻ. Có trăm,
ngàn, vạn, ức nghĩa khổ khác nhau được cảm nhận
đối với từng mỗi chúng sanh trong cuộc trần này. Và cũng
có thể nói rằng, tự ngàn xưa nhẫn đến bây giờ, trừ
những người trí căn khiếm khuyết, tinh thần không được
bình thường, thì có lẽ cũng rất hiếm người sống trên
đời mà không biết quan tâm hay không biết cầu tìm cho mình
một con đường giải thoát, trong phạm vi hiểu biết riêng
tư của mỗi người. Hoặc cũng có những người hằng ngày
phải lăn lộn vì cuộc sống của tự thân và gia đình, hay
bận rộn vì chuyện theo đuổi công danh sự nghiệp mà quên
mất hoặc không còn có thì giờ để nghĩ tới chuyện giải
thoát cho bản thân, nhưng trong những ngày tháng cuối đời,
hoặc thậm chí vào một lúc nào đó bất chợt trực diện
với cái chết, bên cạnh nỗi lo sợ phải rời bỏ cuộc sống
thế gian, thì dù trễ tràng, vẫn có những phút giây nghĩ
tới trong niềm hy vọng mong manh và thụ động về một sự
giải thoát nào đó sẽ đến với mình như một phép lạ bằng
trí tưởng tượng giản đơn vốn có.
Nên
có thể nói, hễ đã có thân tướng ắc phải có khổ đau
và đồng hành cùng cái khổ luôn luôn trói buộc con người,
là nỗi khát khao giải thoát những hệ lụy mà mỗi con người
có sự cảm nhận sai biệt theo từng nghiệp báo riêng, không
ai giống ai, nhưng đều chung cùng một ý vị, đó là vị khổ
ách triền phược thân tâm.
Ý
nghĩ chủ quan và tương đối của từng chúng sanh đối với
sự giải thoát cũng thiên hình vạn trạng, không ai giống
ai, nhưng tựu chung, cái đích cùng tột của sự giải thoát
mà chúng sanh phải nhắm tới, là không ngoài việc phải vượt
thoát khỏi sự trói buộc của mối dây sanh tử trong cái vòng
khép kín của luật tắc nhân quả luân hồi, cũng là gốc
rễ của mọi khổ ách. Chỉ có vượt thoát khỏi sanh tử
luân hồi mới là con đường giải thoát triệt để, mới
là qua bờ kia.
Tác
nhân gián tiếp gây ra khổ ách và cũng là thủ phạm trực
tiếp khiến chúng sanh phải tự vướng mắc, trói buộc sanh
tử, không ai khác hơn là ý thức, cũng tức là cái thức biết,
là tâm ý thức của mỗi người.
Mảnh
thức biết ấy, cũng gọi là tâm thức, từ một niệm bất
giác vô thỉ vô minh, đã mê mờ lầm lạc, tự vọng lập
ngã-pháp như là một thực-thể, tức nhận thân tâm này và
các pháp tướng tương quan tương tác trong các cảnh giới
vọng nghiệp làm thật có, khiến phải trôi lăn vô định
trong biển nghiệp thức nhơn quả luân hồi.
Vì
lòng từ bi không nỡ nhìn thấy chúng sanh tự trói buộc khổ
ách mà không ban phát các pháp giải thoát, nên đức Phật
mới thị hiện cõi này để cứu độ .
Tri
kiến giải thoát là chỗ thấy biết tuyệt đối của giải-thoát-tâm,
là tuệ giác được đức Phật vận dụng thành lời, dùng
làm phương tiện đem ra dạy dỗ các hàng đệ tử xuất gia
và tại gia tu tập, trong thời Chánh pháp, khiến có vô số
người được giải thoát, không sao kể xiết. Thế nên, sau
khi đức Phật Niết bàn, những lời dạy dỗ ấy được chư
Tổ kết tập lại, gồm chứa trong ba tạng kinh điển, được
coi như làø pháp phương tiện giải thoát tối thắng, vi diệu
dành cho tất thảy mọi căn cơ trên thế gian này.
Có
thể nói, ba tạng kinh điển của Phật giáo, mà nội dung không
ra ngoài chánh lý giải thoát sanh tử, được coi như là kho
tàng văn hoá, triết học, đạo học, giải thoát học đồ
sộ nhất mà loài người được may mắn thừa hưởng từ
trí huệ Phật.
Chư
Tổ sau Phật nhẫn đến ngày nay đã nương theo những lời
dạy ấy, cũng là tri kiến giải thoát, nói diễn rộng ra để
dẫn dắt chúng sanh tu hành, hầu vượt thoát sanh tử.
Và
nếu nói không ngoa thì chỉ có đạo Phật, chỉ có giáo pháp
hy hữu, vi diệu, nhiệm mầu của Như-lai mới có thể giúp
chúng sanh qua bờ kia, chỗ giải thoát tuyệt đối, vượt lìa
sanh tử luân hồi.
Ðó
là một sự thật hiển nhiên. Cuộc sống vô vi, đạo hạnh,
rời lìa tất thảy mọi trói buộc, thể hiện tâm giải thoát
hiện tiền của đức Phật, cũng như giáo lý giải thoát mà
Ngài phát minh từ hơn hai mươi lăm thế kỷ rưỡi qua, đã
tồn tại và phát triển mạnh mẽ khắp toàn cầu, được
phần lớn nhân loại nồng nhiệt đón nhận như ngày hôm nay,
đủ minh chứng cho một sự thật này.
II. Giải-thoát
Tri-kiến giải-thoát.
Cảnh
giới của tâm giải-thoát tuyệt đối, đương nhiên không
thể dùng kiến-văn-giác-tri để tiếp cận, hiểu biết hay
giải thích được. Chúng sanh chỉ có một cách duy nhất là
mượn tri kiến giải thoát của đức Phật dùng làm phương
tiện để học tập, hiểu biết, rồi thực hành lý giải
thoát ấy lên chính thân tâm mình, hầu trực ngộ bổn tánh
vô sanh, cũng là tới bờ kia.
Tri
kiến ấy là những lời dạy dỗ được đức Phật vận dụng
từ trí huệ. Tuệ giác ấy một khi đã thành lời, thì lời
kia không còn "như thật" như "tánh-giải-thoát-nó-là" nữa,
mà lời kia đã đi vào tướng sanh diệt rồi. Mà đã là tướng
thì đó là thể hư vọng, không phải là nghĩa "như -như "của
giải thoát tâm tuyệt đối. .
Ðể
chúng sanh không lầm nhận giữa tri kiến giải thoát với bờ
kia, đức Phật đã nhiều lần cảnh giác người học đạo
: " Suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp mà môi ta chưa
hề động" . Bỡi vì, nếu chấp vào chỗ động môi
của Như-lai, tức coi những lời kia làm thật, thì có khác
nào chúng sanh huỷ báng Phật, coi Phật cũng có sanh tử, nghiệp
báo như chúng sanh không khác, trong khi Phật thì chẳng từ
đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, cũng tức, Phật (Phật
là không gì cả) là nghĩa như như của vạn pháp.
Bỡi
thế cho nên, dùng kiến văn giác tri, dù là tri kiến giải
thoát đi nữa, để nói về giải thoát tâm tuyệt đối, chẳng
khác gãi ngứa ngòai giày, gió thoảng trên đá, không một
chút dính dấp tới "nó".
Một
thí dụ. Có người đến gặp Thiền sư Huệ-Hải, nói:
-
Ðịnh hỏi Thầy một câu, không biết có vui lòng đáp chăng?
Ngài
Huệ Hải đáp:
-
Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc tình mò bắt.
Ở
đây, nếu đã cùng ngài Huệ-Hải một chỗ, thì đâu cần
phải mở miệng.Còn chẳng được như vậy, thì dẫu có ngàn
câu hỏi (dụng thức biết) đối với chỗ muốn tiến tới
(tánh biết) hoàn toàn không thể được, chẳng khác mò trăng
trong nước, dẫu ngài Huệ-Hải có đáp thì lời đáp ấy
cũng có dính dấp gì tới chỗ tuyệt "một" kia đâu?
Chúng
ta cần phải hiểu một cách cặn kẽ rằng, ba tạng kinh điển
của Phật giáo và những lời dạy của chư Tổ sau Phật,
tức các Ngữ-lục, đều là pháp phương tiện hy hữu, diệu
mầu để độ thoát sanh tử. Tuy nhiên phải tránh lầm lẫn
giữa phương tiện và cứu cánh, nghĩa là tri kiến giải thoát
phải được đinh ninh là phương tiện tạm mượn, còn bờ
kia mới là cứu cánh . Bằng không hiểu hay không muốn hiểu
như thế, do vô tình hay cố ý vì nặng chấp "ngã-pháp", ắc
dễ đắm chìm theo phương tiện, khó bề vượt thoát sanh tử,
uổng phí một đời tu. Ðó là một sự thật.
Bỡi
tri kiến ấy cho dù vi diệu, nhiệm mầu đến đâu thì nó
vẫn là phương tiện, như mượn tay chỉ trăng, mà tay kia chẳng
phải là trăng thật. Thí như qua sông ắc phải mượn đò,
nhưng đò chẳng phải là bến đỗ. Thế nên mượïn đò qua
sông mà chẳng biết tự chèo chống, chẳng chịu tự bước
lên bờ thì cũng chưa phải là đã ở bờ kia. Hành giả chỉ
được độ thoát khi nào đúng lúc cần phải bỏ phương tiện
để tự bước lên bờ, tức thời gian chín muồi để có
thể vượt quá cái điểm nhỏ nhất của ý thức, cũng là
tự cắt đứt dòng tương tục của tri thức, mà trong đây
là tri kiến giải thoát, ngay ở chỗ mong manh vi tế nhất,
để tự thăng hoa. Bằng đã sát tới bến, chỉ cần một
bước nhảy dứt khoát là lên được bờ kia mà chẳng chịu
nhảy, chẳng chịu buông bỏ con thuyền, coi con thuyền như
là một đối tượng của bản ngã cần được chấp thủ,
hoặc như là một vật báu riêng phải giữ gìn, thì không
bao giờ có thể tới bờ kia. Cuối cùng, theo luất tắt sanh
diệt, hành giả ắc phải chết chìm với cái riêng tư
trói buộc ấy là điều khó tránh khỏi.
Y nghĩa
của việc giải-thoát tri-kiến, là người tu Phật cần phải
biết giũ bỏ sạch sẽ tất thảy những gì được gọi là
kiến thức và kinh nghiệm học Phật, dù là tri kiến giải
thoát đã từng được tích luỹ lâu đời đi chăng nữa, để
có bước nhảy cuối cùng tự độ qua bờ kia. Không tự buông
rơi được những phương tiện giả lập ấy, có nghĩa là
bị tri kiến giải thoát trói buộc, ắc khó lòng có được
bước nhảy đột ngột, tức thời và dứt khoát.
Cũng
vì sợ chúng sanh lầm chấp vào các phương tiện giải thoát
hy hữu của đức Phật, chết chìm với tri kiến giải thoát
kia, nên trong hầu hết các kinh Ðại thừa Phương đẳng, Vô
lượng nghĩa, đức Phật không quên ân cần dặn dò các đệ
tử lớn của mình phải nhận ra cho được điều đó.
Thí
như trong kinh Kim-Cang Bát-nhã Ba-la-mật, ngài dạy rất rõ ràng:
"Này các Tỳ Kheo ! Hãy nên biết, pháp ta thuyết đó dụ như
bè, pháp còn phải xả bỏ huống là phi pháp - Nhữ đẳng
Tỳ-kheo, tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giã, pháp thượng
ưng xả hà huống phi pháp".
Trí
huệ giải thoát, tức chỗ thấy biết của thánh trí, hoàn
toàn không phải là đối tượng để cho chúng ta hiểu biết,
dù là tri kiến của kẻ bác học, mà phải dụng tâm "thực-hành"
lên chính thân tâm này một cách như pháp, theo đúng tinh thần
của tri kiến giải thoát đã được học và hiểu. Nghĩa là
trong đời tu Phật, ba việc Học-H iểu và Hành đối với
tri kiến giải thoát, không thể tách rời hay thiếu một.
Ví
như, không có duyên may gặp được tri kiến giải thoát của
đức Phật trong đời, hoặc có sẵn tri kiến ấy trong sách
vở nhưng không hiểu đức Phật nói gì, mà chỉ biết tự
thân ngày đêm gắng sức tu mò, thì có khác nào như bỏ công
sức nấu cát mà muốn thành cơm, hoặc mài gạch mà mong thành
gương soi, đó là việc không thể được.
Hoặc
được chỉ dạy tri kiến giải thoát của đức Phật, biết
được lý lẽ, phương cách để đến bờ kia, nhưng tự thân
lại giải đãi, không chịu y pháp thực hành lý giải thoát
ấy, mà mong có lúc tới bờ kia, thì có khác nào ôm cây đợi
thỏ hoặc nằm chờ sung rụng, biết đến bao giờ mới vượt
khỏi khổ ách sanh tử, trong khi đời người ngắn ngủi, ngày
tháng qua mau.
Ở
đây chúng ta cần phải hiểu rõ cái gì là mầm móng khiến
chúng sanh trói buộc sanh tử? Cội rễ của sự trói buộc
ấy không gì khác hơn là tâm ý thức. Và tri kiến giải thoát
cũng không ra ngoài sự chi phối của cái tâm ý thức ấy,
nghĩa là còn biết có chỗ kiến giải để được giải thoát,
thì ngay chỗ "biết" ấy là có sự cột buộc vào sanh tử.
Bỡi cớ sao? Bỡi vì khả năng suy tưởng, tư duy, nhớ nghĩ
còn chưa dứt sạch thì chủ thể của những năng lực ấy
vẫn còn, tức pháp ngã vẫn tồn tại. Pháp ngã tồn tại
thì các pháp tướng khác hiện hữu, và đương nhiên cảnh
giới hiện tượng của nhị nguyên phân biệt trói buộc tức
khắc.
Trong
từng mỗi chúng sanh hữu tình đều sẵn có hai tâm, một tâm
phân biệt theo khái niệm tương đối, tự trói buộc nhơn
quả, cũng là tâm ý thức (thức biết) sanh diệt phàm tình
và một tâm tuyệt đối, tự tại, phi sanh diệt, cũng là Phật
tâm, là giải thoát tâm tuyệt đối. Tâm ý thức là bóng hình,
là dụng của tâm tuyệt đối mà có. Nghĩa là, từ vô thỉ,
chỉ vì một niệm bất giác vọng sanh, khiến những mảnh
thức tâm (thức biết) trùng trùng tuông sanh, mà từng mỗi
mảnh thức ấy vẫn dung chứa trọn vẹn tánh căn bản của
Phật tâm. Cho nên nói hữu tình đều vốn sẵn có hai tâm.
Những mảnh thức biết ấy lại vọng động, khiến có thế
giới hiện tượng sanh khởi, khái niệm nhị nguyên phân biệt
vọng thành, vì tự chấp có "ngã và pháp" là thật có. Vì
chấp, cũng tức là chỉ nhìn một hướng theo thế giới hiện
tượng phân lập, mà ngã được coi như là một chủ thể
thực tại, nên mảnh thức biết ấy hoàn toàn xoay lưng lại
với cái tánh biết căn bản vô sanh, khiến phải tự trói
buộc vào cảnh giới sanh tử luân hồi do chính thức biết
vọng lập. Cứ xem bóng dáng của những mặt trăng huyễn hoặc
biến hiện trên sóng nước thì tự nghiệm ra được chỗ
này.
Nội
dung của bài viết này không ngoài việc người học Phật
cần phải biết vượt khỏi tất thảy mọi tri kiến, cũng
là con đẻ của thức biết, để tự độ thoát.
Vậy,
giải thoát tri kiến giải thoát là điều kiện tất yếu của
người tu Phật muốn vượt thoát trói buộc sanh tử .
Ðể
"ngộ" bổn thể tuyệt đối, cũng là chỗ thấy biết vượt
quá cảnh giới trói buộc sanh tử, thì những gì được gọi
là tri thức, tức cái tâm ý thức dệt bằng khái niệm phân
biệt, là kinh nghiệm tích luỹ từ thuở lọt lòng mẹ, phải
được gột tẩy sạch sành sanh, dù một chút cỏn con vi tế
cũng không được sót lại, kể cả kinh nghiệm tri kiến giải
thoát.
Cho
nên, lúc mới đầu, người tu Phật cần biết mượn phương
tiện độ thoát là tri kiến giải thoát để có chỗ thấy
biết chơn chánh, rồi tự thân thực nghiệm theo lý chơn chánh
ấy để cắt đứt, vượt lên quá trói buộc của tâm ý thức,
cũng là gốc rễ của sanh tử, mà thăng hoa. Thăng hoa ở đây
có nghĩa là cái biết của ý thức ngưng dứt ở đâu thì
ngay đó cái thấy biết của tâm tuyệt đối tức thì bùng
vỡ, mở toang, tất thảy phô bày, cũng là giải thoát tâm
hiển lộ.
Tuy
nhiên, ngày nay vẫn có người lầm tưởng phương tiện là
cứu cánh, khiến họ không thể vượt thoát khỏi cái vốn
kiến thức bác văn giàu có của mình, không tự biết rằng
đó là bệnh. Căn bệnh ấy rất khó chữa, thuộc loại trầm
kha, nhưng người mắc bệnh lại cảm thấy rất dễ chịu
vì nó có thể ru ngủ và vuốt ve cái tâm chấp ngã cố hữu.
Nghĩa là, tuy biết rõ đó là bệnh, nhưng người ta vẫn hoan
hỉ, vui thích sống với nó, tự nguyện chết cùng nó, vì
ngã kiến của họ đã được thoả mãn.
Kẻ
hành giả ấy đâu biết rằng, dù chấp thủ, vun đắp cho
mình một kho tàng tri thức cao siêu tới đâu đi nữa, thì
đối với bờ kia, chỗ kiến văn ấy cũng chẳng chút dính
dấp tới, nếu không muốn nói rằng chính nó là thủ phạm
làm chướng ngại bước đường vượt thoát sanh tử của
người ấy. Sở tri chướng được định danh định tính như
là mặt mũi của kẻ ngán đường, làm cản ngại và trì trệ
tiến trình đến bờ kia, mà không hiếm người trong chúng
ta vì vô tình nên thường hay bị vướng mắc. Người học
đạo cần phải biết vượt qua chỗ này, tức cần phải giải
thoát tri kiến giải thoát.
Một
thí dụ.
Có
một tăng nhân đến hỏi đạo ở chỗ ngài Văn-Ích.
-
Bạch Thầy ! Muốn cầu tri kiến Phật, con đường nào ngắn
nhất để có thể đi qua?
Ngài
Văn-Ích đáp:
-
Chắc chắn không qua đây !
Ngay
câu đáp này, vị tăng nhân chợt tỉnh ngộ.
"Không
qua đây". "Ðây", "chỗ này", nếu chẳng phải là sở học
tràn đầy tri kiến, hay nếu chẳng phải là cái thức ý lúc
nào cũng sẵn sàng, chờ chực phân biệt, cân đong đo đếm,
biện biệt phải trái, xa gần đúng sai trói buộc nhơn quả,
thì phải nên gọi là gì? Chợt nhận ra nó và biết tự lìa
nó, vượt thoát cái tâm ý thức ấy, thì vô minh liền tan
biến, giải-thoát-tâm tuyệt-đối phô bày.
Lại
nữa, vẫn biết rằng đạo Phật là đạo giải thoát, và
từng người có duyên với từng mỗi pháp môn khác nhau, phương
cách thực hành mỗi pháp cũng khác nhau, nhưng cứu cánh thì
chỉ một, đó là tâm giải thoát tuyệt đối, là bờ kia.
Và để đến được bờ kia, thì cả thân lẫn tâm cũng không
thể không đi qua con đường "thực hành" Giới,
Ðịnh, Huệ, Tri kiến giải thoát và Giải thoát Tri-kiến giải-thoát.
Dù
tu pháp môn nào, kể cả Không-pháp (Không-pháp cũng là một
pháp hy hữu, tối thắng của đức Phật dành cho người thượng
căn, thượng trí, cũng là Tối thượng thừa pháp - Trực chỉ
nhơn tâm, kiến tánh thành Phật) thì cũng không thể không
nhập đạo bằng hai lớp cữa, đó là Lý nhập và Hạnh nhập.
Lý
nhập là thể nhập chân lý giải thoát, còn hạnh nhập là
thực hành chân lý ấy một cách tự nhiên như nhiên mà không
có một chút "ý" nào được gọi là cần phải "hành" cả.
Thí như đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì đi nằm, mà
trong đây không khởi lên một ý niệm nào trái với sự tự
nhiên như nhiên của Ðạo, tức không vọng khởi phân biệt,
trói buộc nhơn quả. Cả lý và hạnh đều thể nhập đạo
thường, cũng tức là sự lý viên dung, thì đó là chỗ đến
đi tự tại.
Với
người tu Phật, muốn vượt thoát sanh tử, thì ai cũng đều
phải tự thân vượt qua cái khung cữa hẹp bắt buộc, đó
là phải như lý, y pháp mà thực hành, để đạt tới cứu
cánh lý sự viên dung, sự lý vô ngại.
Bằng
hiểu rành rẽ, thao thao bất tuyệt lý giải thoát của đức
Phật mà không tự thân thực hành như pháp các lý ấy, thì
đó chỉ là người tu Phật bằng miệng mà thôi. Mà tu Phật
bằng miệng thì đương nhiên không sao có thể tự giải thoát
sanh tử được. Ðiều ấy có khác nào một người làu thuộc
phương cách nấu cơm từ A đến Z mà vẫn bị chết đói,
bỡi lẽ, thay vì chịu bỏ công vo gạo, chẻ củi, nhen lửa,
nấu cơm thì người ấy chỉ biết nói lý thuyết suông, thì
không có cơm ăn là điều tất yếu, không chết đói mới
là sự lạ. Hoặc thí như ai cũng biết sát sanh là giới đầu
tiên trong ngũ giới, thập giới - là giới luật của người
tu Phật tại gia phải giữ gìn. Tuy biết rằng không phải
cứ ăn chay mãn đời, suốt kiếp thì sẽ thành Phật, nhưng
ăn chay đối với đạo Phật vẫn luôn là một điều kiện
không thể thiếu. Việc ăn chay của Phật tử được ghi nhận
như là một cách gián tiếp để giới sát, ban phát sự sống
cho muôn loài có cùng Phật tánh như mình, cũng là thể hiện
một cách trực tiếp tâm từ bi như Phật thương khắp chúng
sanh. Lại nữa, ăn chay cũng là một pháp tu, một pháp điều
tâm dưỡng thân, hổ trợ đắc lực cho tiến trình tu chứng
về mặt trí huệ, tức tạo thuận lợi một cách tích cực
cho sự nghiệp cuối cùng của người tu Phật là trực ngộ
bình đẳng tánh. Ích lợi của việc ăn chay là làm "tự lợi
lợi tha", một điều không ai có thể phủ nhận được. Thế
nhưng vẫn có không hiếm người thường hay phớt lờ giới
thứ nhất trong thập giới, rồi mượn miệng lưỡi để nguỵ
biện rằng ăn chay không quan trọng đối với sự nghiệp tu
hành hay chẳng dính dấp gì tới "trí tuệ" của mình cả,
mà không dám nói thật lòng, là ăn mạng bổ béo, khoái khẩu
hơn ăn chay.
Biết
pháp mà không chịu như pháp hành trì, có khác nào biết là
tội đấy mà vẫn cố phạm.
Chỉ
biết rành giáo lý của Phật mà không đem cả thân lẫn tâm
ra thực hành giáo pháp ấy, chỉ dùng thế trí biện thông
để miệng lưỡi biện biệt thấp cao, hay dở, đúng sai, hoặc
phải như thế này mà không phải như thế kia, chê khen cùng
khắp, thì chắc chắn việc tu học như thế chẳng đem lại
một thành tựu công đức nào đáng kể. Những người tu học
như thế ấy cùng lắm cũng chỉ được cái danh hão trong đời
là người biện sĩ tài ba hay là nhà triết học xuất chúng
mà thôi, khó bề vượt thoát sự trói buộc của sanh tử luân
hồi, với bờ kia ắc còn ngàn trùng xa cách.
Có
thể có bạn đạo nào đó cho rằng những gì mà người viết
nêu ra đều là những ý tưởng cũ rích, ai mà chẳng biết.
Xin
thưa, đúng vậy, đúng vậy ! Ðó là những điều cũ rích,
xưa cũ từ trước khi chúng ta được sinh ra trong cõi nhơn
quả này hàng nhiều đời nhiều kiếp trước nữa là đằng
khác. Thế nhưng, dù là những điều xưa cũ, mà những người
như chúng tôi, như các bạn, nếu ngày nào còn chưa tự thân
thực hành đúng như cái lý xưa cũ ấy để tự giải thoát,
thì ý tưởng và các pháp ấy vẫn sẽ còn mới toanh, vẫn
trinh nguyên như thuở ban đầu, còn chúng ta thì vẫn cứ phải
đến đi trong nhơn quả luân hồi với nhiều thân tướng,
nghiệp báo khác nhau. Ví bằng chúng ta biết thực hành những
gì xưa như trái đất ấy một cách chân chính, không tự dối
lòng, ắc tự tâm mỗi người khó bề không công nhận một
sự thật, rằng càng thực nghiệm, chúng ta càng khám phá ra
không biết cơ man nào những điều vi diệu, nhiệm mầu, mỗi
ngày càng thêm bao điều mới lạ trong một Phật tâm này.
Cần
phải biết y như pháp thực hành, phải biết giải thoát tri
kiến giải thoát, đó là những gì mà kẻ khờ khạo này muốn
gởi gắm vào nội dung của bài viết và rất mong các bạn
đạo thân thiết của chúng ta nên áp dụng một cách thực
tế vào các pháp tu phù hợp với căn cơ mỗi người, lên
chính bản thân mình.
Bằng
ngược lại, nếu những lời này không thuận hợp đạo lý
của chư Phật, Bồ tát, Thánh hiền, đi ngược lại giáo lý
giải thoát của Như-lai, thì chúng tôi xin được muôn lần
dập đầu sám hối để mong gột sạch cái tâm ngu mê, lầm
lẫn này vậy.
Ðối
với Phật đạo, siêu vượt trói buộc của tử sanh phiền
não, nhơn quả luân hồi là một việc rất thực tế,
hoàn toàn không phải là điều viễn vông hay mơ mộng. Nghĩa
là một Phật tử chân chính, dù tu tại gia hay xuất gia, nếu
biết chọn lựa pháp môn thích hợp với căn cơ trí tuệ phúc
đức của mình mà tu học, biết nhứt tâm y theo lời dạy
của đức Phật mà hành trì, lòng dạ chơn chất, không tự
dối, không cống cao ngã mạn, không cầu lợi cầu danh, thì
không phải đợi đến khi chết đi mới có thể biết giải
thoát hay không giải thoát, mới biết vượt lìa hay còn cột
buộc nghiệp báo sanh tử, mà ngay trước mắt, trong đời này,
vẫn có thể thật chứng tâm giải thoát hiện tiền.
Tâm
giải-thoát hiện tiền của nhà Phật là cảnh giới của Thiền
và Ðịnh. Thiền là công việc hành trì cuối cùng trong
tiến trình một đời tu chứng, cũng là nơi ươm mầm để
khai phóng tất cả mọi trí năng vốn tự sẵn có, để thân
chứng tánh "chơn không" của vạn pháp, để ngộ ra tất thảy
pháp đều do một tâm bất giác duyên sanh. Ngay trong đây, tại
chỗ này có sự thấy biết chân chính bằng con mắt trí huệ,
biết như thật tứ đại, ngũ uẩn đều không, sanh tử phiền
não cũng chẳng phải thật có, các pháp sanh diệt đều như
hoa đóm biến hiện, liền tự thăng hoa. Sống "một" trong Thiền,
thì việc ra vào cảnh giới sanh tử trước mắt, bằng ánh
sáng của trí huệ, chẳng khác như cái bóng ảo của thân
mình vào ra trong một mặt gương vĩ đại mà không hề bị
ngăn ngại. Thời gian sống trong Thiền càng lâu, nghĩa là ở
trong tánh biết càng dài, có thể gọi đó là tâm Thường-Ðịnh
vậy.
Có
thể có người hỏi rằng, cảnh giới của Thiền là thanh
tịnh, nhứt như, tuyệt một, vậy thì nói "biết" đó, là
ai biết?
Xin
thưa, đó là tánh biết nguyên uỷ tuyệt đối, là tánh Phật
chúng sanh "biết" như thật. Ngay từ khi thể nhập tánh biết,
sau đôi ba lần tự mình "vào" nhập vai tánh biết, "ra" nhập
vai tướng biết, mà sự ra vào ấy chỉ trong sát na, liền
biết như thật, chỗ đến đi nói nín thường nhật đều
do từ một tánh linh diệu căn bản này mà ra, cũng là biết
như thật đâu là pháp thân tự tại phi sanh diệt, đâu là
pháp tướng huyễn hoặc, vọng sanh vọng diệt do từ một
niệm bất giác vô minh sanh khởi. Rồi từ hai chỗ thấy biết
cùng ra vào trước mỏ ác của một con người này, một cái
thấy biết phàm tình trói buộc nghiệp báo nhơn quả, và một
cái thấy biết tự tại siêu vượt nhơn quả, cả hai thông
lưu vô ngại nhau, thì ngay đây, dù không khởi niệm phân biệt,
mà chơn giả, chủ khách hai đàng vẫn biện biệt rõ ràng.
Dù không phân biệt mà thực tại và mộng cảnh vẫn biện
biệt phân minh, biết như thật gì là bản thể như nhứt vô
sanh, gì là vạn pháp huyễn hoá biến hiện, biết tuỳ duyên
đến đi trong các cõi để thực hành hạnh nguyện từ nhiều
đời làm chúng sanh trong quá khứ, cũng là cách trả ơn ba
đời chư Phật, đồng thời tích góp công đức để tự trang
nghiêm cõi Phật vị lai.
Ðạo
Phật là đạo giải thoát. Ðức Phật là Phật đã thành,
chúng sanh là Phật sẽ thành. Ðó là chân lý bất biến. Chỉ
có điều chúng sanh có biết y theo giáo lý giải thoát của
Phật để tu một cách chân chính hay không, thì đó là chỗ
quyết định thành tựu công đức ấy một cách nhanh chóng
ở đời này hoặc đời sau, hay phải trải qua trong vô lượng
kiếp chúng sanh nữa mới thành, là tuỳ ở chúng sanh ấy.
Nam-mô
Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nam-mô
Thường-Tinh-tấn Bồ-tát Ma-ha tát.
Nam-mô
Công-Ðức-lâm Bồ-tát Ma-ha tát.
05-01-2008
03:34:21