4
Om
mani padme hum
Cái
chết trong Phật giáo Tây Tạng
Phóng
mình vào cái vô cùng vi tế
Sự
hòa hợp của hai phái Cựu Dịch và Tân Dịch
OM
MANI PADME HUM *
Thực
hành thần chú Om mani padme hum là một điều tuyệt hảo, nhưng
cần phải chú ý vào ý nghĩa của nó khi người ta trì tụng,
bởi vì sáu âm có một tầm rộng và sâu.
Âm
thứ nhất Om, thật ra tạo bằng ba chữ A, U, M, tượng trưng
cho thân, ngữ và tâm thức bất tịnh của thiền giả. Chúng
cũng tượng trưng cho thân, ngữ và tâm thức thanh tịnh tuyệt
vời của một vị Phật. Những yếu tố bất tịnh này có
thể chuyển hóa thành những yếu tố thanh tịnh không ? Chúng
có hoàn toàn khác biệt với nhau không ? Tất cả chư Phật
đã là người như chúng ta và đã đạt đến giác ngộ bằng
cách đi theo đường đạo. Theo Phật giáo, lúc ban đầu không
ai thoát khỏi những bất toàn và có đầy đủ mọi phẩm
tính. Thân, ngữ và tâm trong sạch bởi một sự từ bỏ dần
dần những trạng thái bất tịnh, cho đến lúc chuyển hóa
thành trạng thái thanh tịnh.
Một
sự chuyển hóa như thế hoàn thành như thế nào ? Tất cả
lộ trình được chứa đựng trong bốn âm sau đây.
Mani
nghĩa là viên ngọc và tượng trưng những yếu tố của phương
tiện – ý định vị tha đạt đến giác ngộ, đại bi, đại
từ. Như một viên ngọc chấm dứt sự nghèo khổ, ý định
vị tha được giác ngộ có quyền lực loại bỏ sự thống
khổ và những khó khăn trắc trở của vòng sanh tử và của
cả sự giải thoát riêng cho cá nhân mình. Như một viên ngọc
lấp đầy những nguyện vọng của những chúng sanh, ý định
vị tha được giác ngộ thành tựu những mong mỏi của họ.
Hai
âm của chữ padme có nghĩa là “hoa sen” và tượng trưng
cho trí huệ, bởi vì, cũng như hoa sen mọc lên trong bùn mà
không dơ nhiễm bởi sự bất tịnh của bùn, trí huệ có quyền
lực làm cho chúng ta trọn vẹn, còn khi không có nó, chúng
ta rơi vào mâu thuẫn.
Dưới
nhiều hình thức đa dạng, trí huệ là sự thấu hiểu vô
thường ; sự thấu hiểu rằng cá nhân thì không có hiện
hữu riêng, sự thấu hiểu cái bất nhị (của sự phân biệt
chủ thể và đối tượng), sự thấu hiểu vô tự tánh. Trong
mọi mặt mà trí huệ biểu lộ, sự thấu hiểu tánh Không
là cái quan trọng nhất.
Không
lìa nhau, phương tiện và trí huệ phải hợp nhất để cho
sự tịnh hóa hoàn thành. Sự hợp nhất của chúng được
tượng trưng bởi âm cuối cùng, hum, dấu hiệu của không
chia biệt. Trong con đường kinh điển, sự không chia biệt
của phương tiện và trí huệ có nghĩa là mỗi cái có một
âm hưởng trên cái kia. Trong Mật thừa, sự không chia biệt
là sự kiện một tâm thức trong đó phương tiện và trí huệ,
trong hình thức hoàn mãn của chúng, kết hợp với nhau thành
một thực thể không khác biệt.
Trong
bối cảnh năm đức Phật chiến thắng, hum là âm chủng tự
của A Súc Bệ Phật, bất động, bất loạn, vị không gì
có thể tác động.
Vậy
thì sáu âm của thần chú om mani padme hum cho chúng ta biết
rằng, qua sự thực hành con đường, trong sự kết hợp không
thể phân chia của phương tiện và trí huệ, chúng ta có khả
năng làm cho thân, ngữ, tâm bất tịnh của chúng ta thành thân,
ngữ, tâm thanh tịnh siêu việt của một vị Phật. Phật tánh
không thể được tìm ở đâu khác ngoài tự nơi mình, vì
những yếu tố cần thiết cho sự thành tựu của nó thì ở
nơi chúng ta. Trong Dòng cao cả của Đại thừa, Maitreya nói
rằng Phật tánh nội tại trong dòng hiện sinh của mọi chúng
sanh. Bị chôn dấu trong chúng ta, hạt giống của sự thanh
tịnh, tinh túy của Như Lai (tathagatagarbha) chờ đợi sự chuyển
hóa và sự khai mở trọn vẹn của nó trong Phật tánh.
CÁI
CHẾT TRONG
PHẬT
GIÁO TÂY TẠNG **
Từ
thời bình minh của nhân loại, người ta đã tự hỏi về
biến cố không mong muốn là cái chết, trong khuôn khổ tôn
giáo cũng như ở ngoài nó.
Trong
lời dạy trước hết của mình, đức Phật đã dạy Bốn
Chân Lý Cao Thượng. Chân lý thứ nhất kêu gọi sự chú ý
của chúng ta về thực tế của khổ đau, và đó là một điểm
căn bản phải thừa nhận. Ba hình thức của khổ đau là :
khổ của khổ, khổ của biến dịch và khổ truyền khắp
mà người ta phải chịu vì bị đặt dưới ách của những
phản ứng bị điều kiện hóa bởi một tiến trình nhiễm
ô. Một khi biết được khổ, chúng ta còn phải khám phá những
nguyên nhân của nó, rồi loại bỏ chúng. Bước tiến cốt
ở trau dồi vài sự chỉnh đốn của tâm thức để đưa đến
sự dừng lại của khổ, nghĩa là sự tắt lụi những nguyên
nhân của khổ. Đó là bốn Chân Lý Cao Quý : khổ, những nguyên
nhân của nó, sự dập tắt khổ và những nguyên nhân của
nó, và những con đường dẫn đến sự tắt lụi.
Bốn
Chân Lý Cao Quý có mười sáu điểm – bốn điểm cho mỗi
cái. Sự khổ đau thật sự chính là bản chất vô thường,
khổ, trống không và không có tự ngã. Người ta phân biệt
hai loại vô thường, một hình thức biểu lộ và một hình
thức vi tế. Loại vô thường vi tế này là một hiện tượng
được các nhà bác học biết khá rõ khi họ nghiên cứu những
tiến trình của nó trong các hạt căn bản. Những quan sát
cho phép họ nhận ra rằng, trái với vẻ bên ngoài, trong một
đồ vật cứng đặc như một cái bàn, ở bề ngoài thì giống
như hôm qua, có những chuyển biến liên tục ở mức độ
những hạt căn bản tạo thành vật đó. Những hạt này tan
rã từng khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, cũng y như
cách hiện hữu trong khoảnh khắc của những tri giác bên trong
của chính người quan sát. Điều chúng ta gọi là vô thường
vi tế là tiến trình tan rã từ khoảnh khắc này sang khoảnh
khắc khác, trong khi vô thường biểu lộ nói đến sự hủy
diệt của một đồ vật hay đến cái chết của một sinh
vật.
Chúng
ta có nhiều lợi lạc khi nhớ đến cái chết. Vì, như tôi
đã nói, khi người ta ý thức được khổ đau và tìm kiếm
những nguyên nhân của nó, người ta sẵn sàng đối diện
với nó. Một ngày nào đó, cái chết sẽ ở trước mặt.
Dầu không đáng ưa, những phản ứng từ nhân đến quả giữa
những hành động bị ô nhiễm và những phiền não ký sinh
đã làm cho cái chết thành một điều kiện của chính đời
sống. Càng sớm nghĩ đến nó, các bạn càng sửa soạn tốt
hơn, và điều đó sẽ giúp bạn vào lúc quyết định. Thế
nên cần nghĩ đến cái chết của mình.
Sự
giải thích của Bác sĩ Ian Stevenson, giáo sư của đại học
Virginia đây, về sự tái sanh soi sáng cho chủ đề này1. Nếu
các bạn loại bỏ khả năng của sự tái sanh, sự thiền định
về cái chết và vô thường trở nên kém quan trọng với bạn
: thật vậy, nó căn cứ trên quy tắc một sự tương tục
của tâm thức sau khi thân thể tan rã. Sự sửa soạn cho cái
chết có thể là một giúp đỡ lớn lao cho bạn. Chắc chắn
bạn sẽ không bị lo âu xâm chiếm và hoàn toàn kinh khiếp
trong tiến trình cuối cùng ; ít ra tâm hồn bạn không làm
tệ hơn tình thế vào lúc đó.
Trong
viễn cảnh một dòng hiện sinh, tính chất của đời sau tùy
thuộc vào đời này, vì những việc thiện do một lối sống
đúng đắn trong đời này sẽ thọ nhận trong đời sau. Ngược
lại, giận dữ, tham luyến… dẫn chúng ta đến những cái
quá độ mà chúng ta phải chịu trong tương lai. Những phản
ứng tình thức nặng nề này một phần là do ý niệm thường
còn. Những yếu tố khác, như là ý niệm về một hiện hữu
có tự tánh của những sự vật, bèn nhảy vào cuộc chơi.
Khi làm cho niềm tin vào sự thường còn của bạn lung lay,
bạn đã giảm bớt bao nhiêu sự luyến ái của bạn vào cuộc
đời này ; cho đến một ngày tính cách vô thường của mọi
hình thức đời sống sẽ thấm nhuần thường trực tâm thức
bạn. Từ đó, bạn biết rằng trong bản chất tất cả đều
hướng đến sự tan rã và bạn sẽ ít bị thương tổn hơn
trong lúc đối mặt với cái chết. Để chiến thắng nó một
cách triệt để, các bạn phải chấm dứt những mối phiền
não của bạn, vì sự tắt mất của chúng cũng chấm dứt
đồng thời cả sự sanh và sự chết. Về phần điều phục
những phiền não ký sinh, các bạn phải nỗ lực ; cái đà
trớn cần thiết này thì thiền định về cái chết và vô
thường sẽ cung cấp cho bạn, nó làm nảy sanh nơi bạn một
tình cảm chống đối. Thứ tình cảm này, đến lượt nó,
sẽ thúc đẩy các bạn tìm kiếm những kỹ thuật để chiến
thắng cái chết. Hơn nữa, sự thiền định về chủ đề
này sẽ cho các bạn một sự thụt lui trước những bận tâm
nhỏ bé giới hạn trong những mục đích của cuộc đời này.
Cái
chết nhất định sẽ đến. Nếu các bạn dành những thì
giờ tốt nhất cho những sự vật phù phiếm mà chểnh mảng
không chuẩn bị, thì khi thời điểm ấy, các bạn sẽ không
nghĩ đến điều gì khác hơn là nỗi tuyệt vọng của các
bạn ; nỗi sợ hãi của các bạn sẽ như mất một dịp may
sự nghiệp nào đó. Đấy sẽ là một tai hại lớn. Nếu các
bạn thường nghĩ đến nó, bạn biết rằng cái chết sắp
đến, bạn có đủ thời giờ quen với ý tưởng ấy một
cách nhẹ nhàng và khi nó hiện đến, các bạn sẽ thanh thản
hơn – mặc dầu chính tai tôi đã nghe từ những người săn
sóc cho người sắp chết rằng một số người bệnh không
biết gì về những đời sau đôi khi chết bình an hơn những
người tín đồ lo lắng cho đời tới của họ.
Khi
sự chấm dứt đến gần, cần xoay những tư tưởng về sự
thực hành. Tình trạng tâm thức vào giờ phút này là quyết
định cho cái tiếp theo. Những giây phút cuối cùng này mang
một năng lực đến nỗi công đức có được trong suốt cuộc
đời không sánh kịp. Từ đó là tính chất quan trọng của
việc nghiên cứu cái chết và làm quen với nó.
Bồ
tát thừa – và hơn nữa là Mật thừa – chứa đựng những
giáo huấn về ba loại thân, những thuộc tính của một vị
Phật
đã đạt đến chánh quả : Pháp thân (thân chân lý), Báo thân
và Hóa thân. Ba thân này có mối tương quan với tiến trình
ba phần mà chúng ta biết một cách tự nhiên trong điều kiện
bình thường : cái chết, trung ấm và tái sanh. Ba con đường
được đề nghị, chỉ bày làm thế nào rút tỉa lợi lạc
từ các tình trạng bình thường này, chúng là phiên bản thô
của những yếu tố giác ngộ. Những luận giải về những
bản văn này, lãnh vực đặc biệt của tantra yoga tối thượng,
nhấn mạnh vào một sự hiểu biết cặn kẽ tiến trình của
cái chết, xem như một điểm then chốt.
Về
sự chuẩn bị, nó được diễn tả trong các kinh và các tantra.
Trong các tantra, nó là đối tượng cho những bình luận ở
mức độ ba tantra cấp dưới – hoạt động, thực hiện và
yoga tantra – và cho những lời dạy dành cho tantra yoga tối
thượng.
Cái
chết được định nghĩa ra sao ? Trong Viên Ngọc của Hiểu
Biết (Abhidharmakosha : A tỳ đạt ma Câu Xá), theo Vasubandhu,
cuộc sống là cái giá nâng đỡ của nhiệt và tâm thức,
sự dừng lại của hoạt động này là cái chết. Thời gian
thân thể vật chất và tâm thức kết hợp là đời sống,
sự tách lìa chúng tạo ra cái chết. Về ba mức độ biểu
lộ của thân và tâm, tức là mức độ thô, tế và rất vi
tế, cái chết là sự chia lìa giữa tâm thức và thân xác
bởi vì không thể có sự chia lìa giữa tâm thức vi tế nhất
và yếu tố vật chất vi tế nhất. Vật chất vi tế này chỉ
là năng lực bên trong – hay khí – dùng để chuyên chở những
cách loại của tâm thức.
Nhiều
điều kiện dẫn đến cái chết được phát biểu : kiệt
kệ hy vọng về cuộc sống, cạn kiệt phước đức và cái
chết bất ngờ. Cái này có thể ví dụ một người uống
rượu, say, lái xe đi và tự tử trên xa lộ.
Trong
những giây phút cuối cùng, người ta có thể mơ hồ khám
phá ra loại tái sanh nào đang chờ đợi người hấp hối khi
quan sát hơi nóng tụ lại ở một vài nơi của thân thể.
Có những trường hợp nó tụ lại ở phần trên thân và rời
bỏ thân bằng cách đi xuống dưới. Đó là một dấu hiệu
rất xấu. Hay ngược lại thì người ta có thể chờ đợi
một tái sanh thuận lợi.
Một
số người chết yên bình, một số khác bị sự kinh hãi.
Những thị kiến thích thú hay khó chịu lúc đó xuất hiện
với tâm thức người đang chết. Trong tantra yoga tối thượng,
tiến trình cái chết được diễn tả theo hệ thống Mật
thừa. Ở đó cái chết được định nghĩa như là sự dừng
lại của những khí (hay năng lực) thô, do đó có lợi ích
khi hiểu rõ cơ cấu của thân xác, bởi vì cái chết đến
theo sau sự suy hoại của những năng lực khí bên trong, mà
sự vận hành của khí này liên hệ với thân xác. Thân xác
được diễn tả chủ yếu bằng những kinh mạch, khí trong
thân và những giọt căn bản. Hệ thống theo Kinh thừa tính
có tám mươi ngàn kinh mạch, và hệ thống theo Mật thừa có
bảy mươi hai ngàn, mà ba kinh mạch chính là kinh mạch trung
ương, kinh mạch này đi từ trán lên đỉnh đầu và chạy
tiếp xuống chót xương sống. Hai cái kia theo một dòng ở
bên phải và bên trái.
Người
ta tìm thấy những giải thích chi tiết về những năng lực
phát động có rất nhiều này, nhưng mười loại là chính
: năm khí chính và năm khí phụ. Về những giọt căn bản,
đó là những chất đỏ và chất trắng. Bình minh của tịnh
quang là dấu hiệu của sự tháo gỡ mối nút của tiến trình
cái chết, đó là điều xảy ra chung cho tất cả mọi người.
Tuy nhiên, những ảo ảnh có thể thay đổi theo từng người,
tùy thuộc vào sự vận chuyển của các khí và liên hệ đến
các giọt trong kinh mạch. Những khác biệt nhỏ cũng quan sát
được từ người này qua người khác ; chúng là dấu hiệu
của những khác biệt tối thiểu trên bình diện sinh lý.
Trong
những giai đoạn của tiến trình, hai mươi lăm yếu tố lần
lượt tan rã. Đó là hai mươi lăm hiện tượng thô :
–
năm uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
–
bốn đại : đất, nước, lửa, không khí.
–
sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
–
năm trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc.
–
năm trí bình thường : trí căn bản như gương soi ; trí bình
đẳng ; trí căn bản phân biệt ; trí căn bản thành tựu những
hoạt động và trí căn bản về bản tánh của các hiện tượng.
Những
yếu tố này sẽ tan rã theo những giai đoạn liên tiếp nhau,
có thể quan sát được bởi những triệu chứng hiển lộ
nơi người sắp chết ; còn người này, về phần anh ta, là
chứng nhân của những biến cố bên trong. Nhưng những dấu
hiệu này chỉ diễn ra theo cách tiệm tiến và trong trật tự
bình thường nếu các yếu tố không bị quá hư hoại vì bệnh
tật và với điều kiện không phải là một cái chết tai
nạn bất ngờ. Trong ví dụ tai nạn trên xa lộ, tám giai đoạn
xảy ra nhanh chóng đến nỗi người ta không có thì giờ áp
dụng một kỹ thuật nào. Đó là một tổn thất gấp đôi.
Không chỉ cuộc đời bị mất sớm, mà cùng với nó cơ hội
để thực hành cái đi song đôi với những giai đoạn tiếp
nhau của sự tan rã. Một cái chết tự nhiên là có lợi, trong
đó những triệu chứng biểu lộ theo trật tự và tiệm tiến.
Tiến
trình bắt đầu với sự tan rã của sắc uẩn. Tổng quát,
sắc uẩn bắt đầu phân tán, địa đại yếu đi. Chính xác
hơn, nó không thể làm chỗ nương dựa cho cái biết nữa.
Vào lúc địa đại tan biến, thủy đại trở thành một chỗ
nương dựa của hiểu biết minh bạch. Đó là ý nghĩa của
câu “sự tan biến của địa đại vào thủy đại”. Ở
giai đoạn này, về triệu chứng bên ngoài, người ta nhận
ra tay chân mảnh khảnh hơn, mặt tiều tụy, da xám tối. Người
chết bây giờ có cảm giác thân thể mình vùi dưới đất.
Sự thấy rối loạn. Bên trong, theo Tantra Guhya-samaja, nó có
cảm tưởng thấy một ảo ảnh. Còn Tantra Kalachakra diễn tả
là một đám khói. Sự khác biệt này do sự kiện là những
nhà tiền phong của hai tantra khác biệt này không có cùng một
cấu trúc sinh lý như nhau. Cấu trúc các kinh mạch, các năng
lực sinh động (khí) và các giọt căn bản có thể khác nhau
đôi chút. Những khác biệt tối thiểu này biểu lộ nhất
là trong số những kinh mạch thành hình cánh hoa xung quanh luân
xa đỉnh đầu và luân xa cổ họng. Nhưng ngoài điểm này,
cả hai đều diễn tả sáu luân xa bằng những lời rất chi
tiết, và bốn cái khác theo một hình thức giản lược.
Sau
đó, đến lượt thọ uẩn tan rã. Trong giai đoạn thứ hai
này, thủy đại suy yếu, tâm thức mất chỗ nương dựa vào
nó, và hỏa đại (yếu tố nhiệt trong thân thể) trở nên
nổi rõ. Những dấu hiệu bên ngoài là sự mất nước của
thân, miệng đặc biệt khô, mắt kém ướt, cái nhìn mất
sự linh hoạt. Theo Tantra Guhyasamaja, dấu hiệu bên trong là
một ảo ảnh về khói.
Trong
giai đoạn thứ ba, tưởng uẩn tan rã. Vì hỏa đại yếu đi,
lấy mất chỗ dựa của tâm thức và cho phép phong đại trở
nên thống trị. Bên ngoài, nhiệt rút lui và cảm giác hơi
nóng giảm dần. Người chết không nhận ra người chung quanh
nữa. Bên trong có một ảo ảnh những con đôm đốm, giống
như những bó tăm lửa.
Với
giai đoạn thứ tư, hành uẩn tan biến. Phong đại yếu đi,
tâm thức mất chỗ dựa vào nó. Triệu chứng bên ngoài là
hơi thở dừng lại, dấu hiệu bên trong là một cảm tưởng
ngọn lửa cháy đỏ. Những ảo ảnh trước, đôm đốm, khói…
càng lúc càng nhạt, nhường chỗ cho ánh sáng màu đỏ này.
Tim ngừng đập, hơi thở ngừng. Bình thường, vào giai đoạn
này, một y sĩ tuyên bố là người ấy đã chết theo y học.
Nhưng theo chúng tôi, tiến trình chưa chấm dứt ; nếu các
tri giác giác quan tắt mất, ý thức của chúng ta vẫn còn
– nhưng không có nghĩa rằng bạn còn có thể trở lại với
thân xác.
Tâm
thức có nhiều mức độ, những mức độ nhiều hay kém thô,
những cái khác nhiều hay kém vi tế. Mọi bản văn không kê
cùng một con số về những mức độ của tâm thức. Theo một
số, có chín, số khác nói có tám, sáu hay chỉ một. Theo luận
đề ưu thắng hơn, thì có sáu. Những Bản Văn Di Cảo của
phái Duy Thức kể ra tám cái : năm thức giác quan, ý thức,
một thức ký sinh và một thức dung chứa. Người ta cũng tìm
thấy hai thức cuối này trong nhiều bản văn khác, trong đó
chúng mang một ý nghĩa khác không liên hệ gì với những luận
đề của phái này.
Ngoài
ra, người ta phân biệt trong tâm thức những thức chính, nền
tảng và những yếu tố hoạt động của thức. Toàn bộ những
cái trước thuộc về người hiểu biết một sự vật, trong
khi những cái sau làm những phân biệt liên quan đến những
đặc tính của sự vật. Tự bản chất, tâm thức chỉ là
sáng tỏ và hiểu biết thấm thấu qua mọi khả năng, hiệu
dụng của thức. Đó là một thực thể thuần sáng tỏ mà
không gì che chướng được. Hoạt dụng của nó là biết,
và tất cả mọi biểu lộ hình tướng đối với nó là một
chỗ dựa cho sự hiểu biết.
Ví
dụ, để có sự thấy, ba điều kiện phải hợp lại : một
tiềm năng – khả năng cảm giác thuộc về vật chất –
một đối tượng để quan sát – một hình thể thấy được,
màu sắc, đường nét – và cuối cùng, một điều kiện có
từ trước và trực tiếp tức thì, nghĩa là một khoảnh khắc
tâm thức có trước. Khi những yếu tố này có mặt, tâm thức
nắm bắt được một hình thể thấy được. Mỗi thứ trong
ba yếu tố hoàn thành một chức năng khác biệt : sự kiện
tâm thức là một thực thể sáng tỏ và hiểu biết là nhờ
điều kiện có trước và trực tiếp tức thì. Sự kiện nó
nắm bắt một hình thể, mà không phải một âm thanh là do
điều kiện của tiềm năng – khả năng thấy –, và sự
kiện nó diễn thành một hình ảnh, một màu sắc, một hình
thể là do đối tượng quan sát – chính sự vật. Tri giác
bình thường hoạt động như vậy.
Bây
giờ chúng ta trở lại tiến trình cái chết. Những căn của
những khả năng cảm giác bình thường – thấy, nghe… –
tự hư hoại, và do đó những khả năng của tâm thức liên
kết với chúng cũng ngừng. Tuy nhiên, bốn mức độ theo thứ
tự từ thô đến tế còn hoạt động trong tâm thức sắp
sửa tan biến theo bốn giai đoạn cuối cùng, tiếp theo sự
tan rã của những đại đã xảy ra trong bốn giai đoạn đầu.
Mức
độ thô nhất tan rã trước tiên, bắt đầu bằng tám mươi
ý niệm.1 Chúng gồm thành ba nhóm, mỗi nhóm biểu thị một
trong ba mức độ, thứ tự rất vi tế : ba mươi ba cái là
đặc trưng của cái thấy biết một màu trắng rực rỡ, bốn
mươi cái là đặc trưng của cái thấy biết màu đỏ chói
lan tỏa, và bảy cái là đặc trưng của cái thấy biết màu
đen rực rỡ, gần với sự hoàn tất. Mức độ biến đổi
của năng lực bên trong – khí dùng để vận hành những ý
niệm này – soi sáng cho chúng ta về những chuyển động của
năng lực tương ứng với ba mức độ rất vi tế của tâm
thức.
Khi
tám mươi ý niệm cũng như năng lực điều động của chúng
tan biến, dấu hiệu bên trong là sự cảm biết một cái thấy
màu trắng, giống như một bầu trời mùa thu trong trẻo ngập
tràn ánh trăng. Không có dấu hiệu bên ngoài nào biểu lộ
nữa.
Khi
cảm nhận cái thấy màu trắng rực rỡ và năng lực chuyên
chở nó tan biến, một cái thấy khác xuất hiện, vi tế hơn
: sự cảm nhận màu đỏ chói lan rộng. Người ta ví nó với
một bầu trời mùa thu trong trẻo trong đó chỉ có màu đỏ
cam của mặt trời. Khi cảm nhận màu đỏ rực rỡ lan rộng
này tan biến cùng với năng lực chuyên chở nó, một cái khác
khởi ra còn vi tế hơn nữa : ý thức về một màu đen rực
rỡ gần với sự hoàn tất. Cái này giống như bóng đêm sâu
thẳm của một bầu trời mùa thu thuần khiết trong buổi đầu
hôm. Lúc ban đầu của giai đoạn này, các bạn còn ý thức,
rồi khả năng của bạn giảm dần và cuối cùng, các bạn
chìm vào trong một loại vô thức.
Khi
cảm nhận một màu đen rực rỡ gần với sự hoàn tất và
năng lực điều động nó tan biến, cái thấy biết vi tế
nhất hết thảy hiển lộ ra : tịnh quang của cái chết. Chính
lúc đó đời sống đã thực sự dừng lại. Nó được ví
như một bình minh vô nhiễm trong một bầu trời mùa thu trống
vắng mọi dấu vết. Người ta gọi nó là tâm thức căn bản,
bởi vì nó là nguồn gốc của mọi thức khác. Những thức
này thì chợt có chợt không, trong khi tâm thức căn bản thì
hiện hữu từ vô thủy, thường trực có mặt trong mỗi một
chúng sanh, trong mọi đời cũng như trong Phật tánh. Tantra yoga
tối thượng đã trình bày một sự phong phú trong chi tiết
về các yếu tố này mà người ta không thể tìm thấy ở
đâu khác.
Quan
trọng là phải tỉnh thức trong những giai đoạn tan rã này.
Nếu các bạn thành công trong sự việc đó, các bạn có những
dịp may để bảo tồn trí nhớ về những hiểu biết đã
thâu hoạch trong đời này cho tới đời sau. Khả năng này
tuân theo cùng với quy luật khi bạn ngủ buổi tối với một
ý thức rõ ràng về giờ giấc chính xác bạn muốn thức dậy
và về việc gì chính xác phải làm khi thức dậy. Mặc dầu
bạn đã quên nó khi ngủ, sự quyết định đã có từ trước
sẽ hoàn thành nhiệm vụ của nó và bạn thức giấc đúng
giờ đã định, và nhớ lại tức thì điều cần phải làm.
Tiến trình cũng như thế trong các giai đoạn tan rã. Khi nào
bạn còn ý thức, bạn phải chú ý bảo tồn toàn vẹn sự
linh hoạt của tâm thức. Người nào trải qua một cái chết
tự nhiên và trạng thái thân xác không bị hủy hoại sẽ
ở khoảng ba ngày trong tâm thức tinh tế nhất, tâm thức tịnh
quang, và trong suốt thời gian đó, tâm thức ở trong thân xác.
Một
số người đặc biệt, có kinh nghiệm trong những thực hành
này, đã đích thân chứng nghiệm bản tánh của tâm thức
họ là gì, và đã chú tâm làm chủ được những kinh mạch,
những năng lực và những hạt. Khi chết, công việc này đã
cho phép họ nhận ra những giai đoạn khác nhau của tiến trình
và tham dự một cách hoàn toàn có ý thức vào sự xuất hiện
của tịnh quang. Nhờ vào sự kiểm soát của họ, họ đã
có thể kéo dài trạng thái này tùy ý, ở như thế từ một
tuần đến một tháng. Từ khi chúng tôi lưu vong qua Ấn Độ
vào năm 1959, hiện tượng này đã xảy ra đúng một chục
lần đối với người Tây Tạng. Một vài người đã ở mười
lăm ngày trong tịnh quang, thân xác phơi bày trong tiết đại
thử của mùa hè Ấn Độ. Họ có vẻ như đang ngủ. Ngoài
sự kiện họ không thở, bề ngoài họ chẳng giống gì một
xác chết đã hết sự sống. Không có một mùi nào toát ra.
Vào
một lúc nhất định, một chuyển động nhỏ xảy ra trong
tâm thức tịnh quang. Nó tức khắc dừng lại và ra khỏi vỏ
bọc cũ kỹ là xác thân. Bấy giờ bắt đầu tiến trình ngược
lại, từ ý thức về màu đen rực rỡ gần với sự hoàn
tất, trải qua màu đỏ chói lan rộng, cái thấy một màu trắng
rực rỡ, ánh sáng của một ngọn đèn dầu, rồi những cái
thấy đôm đốm, khói và ảo ảnh. Khi người ta phải thọ
sanh trong cõi dục hay cõi sắc, một giai đoạn đi qua trung
ấm (antarabhava, bardo) xảy ra, điều không có trường hợp
sanh vào cõi vô sắc.
Tình
trạng trung ấm bắt đầu khi thấy màu đen gần với sự hoàn
tất và chấm dứt với sự đi vào trong hoàn cảnh sống mới,
nó cũng khởi đầu với tám dấu hiệu như trước tịnh quang
của cái chết. Nếu bạn phải tái sanh trong một bào thai,
sự liên kết với đời sống mới trong bụng mẹ cũng đồng
thời với sự xuất hiện cái thấy màu đen, ngay sau tịnh
quang của cái chết nó chấm dứt tình trạng trung ấm : vậy
thì, trong một ý nghĩa nào, đời sống bắt đầu với tâm
thức tịnh quang.
Tổng
quát, trạng thái hiện sinh bình thường tùy thuộc vào mức
độ thô nhất của tâm thức ; còn cái chết liên hệ với
mức độ vi tế nhất, và tình trạng trung ấm là ở giữa
hai mức độ, như tên nó đã diễn tả. Cũng thế, trong một
chu kỳ hai mươi bốn giờ, trạng thái thức bình thường thuộc
về mức độ thô nhất của tâm thức, giấc ngủ sâu thuộc
về mức độ vi tế nhất và trạng thái mộng thuộc về mức
độ trung gian. Trong trường hợp bất tỉnh, tâm thức cũng
qua một giai đoạn vi tế hơn. Vậy thì, trong một ngày bình
thường, chúng ta trải qua những giai đoạn khác nhau này mặc
dù kém toàn triệt hơn trong tiến trình chết.
Để
kết luận, điều cốt yếu là các bạn học nhận ra bản
tánh căn bản của tâm thức các bạn – người thấu rõ tịnh
quang. Nhưng để cho nó biểu lộ với bạn trong sự minh bạch
cực kỳ tinh tế này, trước hết các bạn phải có một tiếp
cận quy ước, để tập trung mọi chú ý vào chính tâm thức
và dần dần trở nên chứng nhân của thực thể tâm thức.
Phương pháp này sẽ đem đến cho bạn những tin tức, những
chuyển đạt của tâm thức và khả năng này sẽ giúp bạn
dừng lại những tư tưởng rong ruổi. Vậy thì, khi những
tư tưởng cuối cùng biến mất, những trạng thái vi tế hơn
sẽ biểu lộ một cách tự nhiên. Nếu các bạn đạt đến
mức độ vi tế của tâm thức của hiện sinh bạn, nó sẽ
trở nên một nguồn trí huệ. Sự hiểu biết sâu xa này là
vũ khí mạnh mẽ nhất có thể có được, nó sẽ chặt phăng
vô minh cùng với sự khổ đau mà vô minh sanh ra. Bước tiến
bộ này đem đến cho người cầu đạo một trường mênh mông
những hiểu biết và nhiều thực hành thực tiễn.
Câu
hỏi : Ngài đã nói rằng tiến trình chuẩn bị cho cái chết
phần lớn cốt ở trải nghiệm đang khi còn sống những dấu
hiệu tiền khởi để có thể sửa soạn tốt đẹp giây phút
sẽ đến. Liệu có một kỹ thuật nào để dẫn dắt tâm
thức một người sống tự lìa bỏ thân xác vật chất của
nó ? Ngài có thấy một sự tương đồng giữa sự kiện này
với những kinh nghiệm mà một số người Tây phương đã
có khi họ đã bước qua cái chết chỉ một sợi tóc và họ
có cảm tưởng đã lìa cái vỏ bao bọc vật chất để khoác
vào một vỏ bao khác vi tế hơn ?
Trả
lời : Người ta thấy những trường hợp tách lìa thể xác
với tâm thức, đó là hậu quả của những thói quen đã sở
đắc trong thực hành ở những kiếp trước. Những dấu vết
này biểu lộ như một “năng khiếu” trong đời hiện tại.
Những trường hợp khác là sự kiện của một sự thực hành
trong kiếp này. Phải xác định rằng một thân thể đặc
biệt của giấc mộng không chỉ là một cái thấy của tâm
thức, mà là một thân thể vi tế có thực, có thể tách lìa
khỏi thân xác thường dùng và nếm trải những kinh nghiệm
trong thế giới bên ngoài cũng bình thường như chúng ta đang
làm. Tôi không thể xác định thân xác đang ngủ tiếp tục
thở hay nó đang ở trong một trạng thái thiền định sâu
xa trong đó hơi thở bên ngoài đã ngừng lại. Nhưng dầu gì,
thân thể vi tế có thể đi khắp nơi. Nó không biết những
giới hạn đặt ra cho thân thể vật chất, những khoảng cách
không phải là một chướng ngại ; các bạn có thể, nếu
các bạn muốn, đi đến những biên giới của không gian, đạt
đến bất kỳ nơi chốn nào và trở về trong thân xác bạn
theo ý muốn. Hiện tượng này có thể xảy ra trong những kinh
nghiệm chết nhất thời hay trong khi bệnh nặng.
Câu
hỏi : Nhiều người Tây phương, như tôi, đã đọc Tử thư
Tây Tạng. Chúng tôi cảm thấy rất có ấn tượng về các
vị thần hiền hòa và hung nộ mà người ta sẽ gặp trong
trạng thái trung ấm. Nhưng tất nhiên chúng tôi chưa đi vào
sự thực hành của Phật giáo Tây Tạng. Chúng tôi đã chưa
nhận những lễ quán đảnh, những sự cho phép thực hành,
cũng như những giáo huấn. Theo Ngài, chúng tôi có sẽ thấy
trong trạng thái Bardo xuất hiện những nhân vật tương tự
không, ngay cả khi chúng tôi không có một ý niệm nào về
hình tướng của họ ?
Trả
lời : Tôi không tin điều đó. Trên nguyên tắc, trong những
diễn tả những vị thần hiền hòa và hung nộ, cuốn Tử
thư Tây Tạng nhằm gởi đến một người đệ tử quen thuộc
với sự thực hành này. Nếu người ấy không thành công tự
giải thoát bằng cách nhận ra những trạng thái trước khi
chết và dùng chúng như một phương tiện lấy đà, anh ta sẽ
gặp gỡ trong mỗi giai đoạn của trung ấm những vị thần
hiền hòa và hung nộ bằng cách hình dung họ theo một lược
đồ và một dáng vẻ đã có sẵn trong sự thực hành quen
thuộc. Khi cố gắng gợi ra hình ảnh của họ, thiền giả
tìm cách tỉnh giác trong trung ấm. Anh ta cần phải thấu suốt
thực thể của chủ thể hiểu biết nền tảng, thâm nhập
tâm thức uyên nguyên, bản chất linh hoạt và sáng tỏ của
tâm thức – một phương pháp đặc trưng của phái Nyingma,
trong sự thực hành Đại Toàn Thiện. Sức mạnh của thói
quen có được khi tiêm nhiễm những vị thần này lúc sinh
thời sẽ làm sống động trở lại sự chú tâm. Đó là đốm
lửa mở ra sự vận hành của những hình ảnh, và những màn
tiếp nối nhau, trao cho người cầu đạo mọi cơ hội để
tỉnh giác với tâm thức và chứng ngộ bản tánh tối hậu
của tâm thức.
Câu
hỏi : Xin Ngài có thể cho vài xác định về rig-pa (tâm thức
nền tảng hay trí huệ bổn nguyên) trong tương quan với cái
bình thường hàng ngày ?
Trả
lời : Có một vài khoảnh khắc, tâm thức bổn nguyên của
bạn biểu lộ trong trạng thái ý thức bình thường, nhưng
bạn không nhận ra nó. Sự thấu hiểu của bạn còn chưa tới
mức. Cốt yếu là nhận ra được yếu tố linh tuệ sáng suốt
này. Những thiền giả tinh thông lão luyện đã nhấn mạnh
vào sự quan trọng của đức tin và sự tôn kính đối với
giáo pháp, với những lời dạy của một vị lạt ma có một
kinh nghiệm trực tiếp về cái ấy. Một kinh nghiệm như thế
sẽ ở ngoài tầm tay các bạn chừng nào bạn chưa nhận ra
bản tánh căn bản của tâm thức. Trái lại, nếu bạn quan
sát nó hàng ngày, nếu bạn phân tích bản tánh sáng tỏ và
thấu suốt của nó, các bạn sẽ tiến đến gần nó mỗi
ngày. Hãy thực hành vào buổi sáng, lúc còn sớm, khi tâm thức
trong sáng nhất.
Câu
hỏi : Ngài có nghĩ rằng đọc một bản dịch cuốn Tử thư
Tây Tạng là tốt khi nó được thực hiện bởi những người
Tây phương, nếu người đọc tụng có sự trong sạch như
yêu cầu ? Sự đọc ấy có một hiệu quả cho người chết
chưa từng nhập môn trong sự thực hành này không ?
Trả
lời : Tổng quát, khi người ta chưa được sẵn sàng nhờ
một lễ quán đảnh, nhờ thiền định… thì quả là khó.
Nếu người hấp hối biết khá rõ những bản văn về tiến
trình cái chết, sự đọc tụng sẽ giúp cho người ấy. Nhưng
nhu cầu trước tiên của một người hấp hối là cần phải
có một kết thúc êm ả. Tránh làm cho họ có thể bị rối
loạn hay khó chịu. Hãy làm sao đừng gây nên một xúc động
nào ở họ. Về phần họ, người chết phải cố gắng giữ
một tâm thức trong sáng.
Câu
hỏi : Làm sao để phát triển khả năng tỉnh giác ?
Trả
lời : Trước khi tâm thức bình thường tan rã, phải đánh
thức một khả năng mạnh mẽ chú ý tỉnh thức ; nhưng trước
tiên bạn phải quen thuộc với tiến trình cái chết trong những
lần thiền định với những thực tập kích thích nảy sanh
những trạng thái ấy. Đó là điều chính tôi đang làm. Sáu
hay bảy lần trong ngày, tôi trải qua những giai đoạn của
cái chết trong sự thực hành thiền định của tôi. Về kết
quả thì… hãy chờ xem, tôi không biết mình có thành công
không, nhưng ít ra tôi đã làm điều cần thiết để thực
tập những khả năng định tâm và phân tích của tôi. Nếu
các bạn phải tiến hành một trận chiến ở một xứ nào
không biết, chẳng phải các bạn cắm đầu vào một bản
đồ để xác định đất đai, đồi, sông, hồ… để có
thể nhận ra những nơi chốn và biết bạn phải làm gì một
khi bạn đến đó ? Khi người ta đã quen thuộc lâu ngày với
điều phải xảy tới, người ta không trốn tránh công việc,
người ta không bối rối lo âu.
PHÓNG
MÌNH VÀO CÁI
VÔ
CÙNG VI TẾ ***
Thiền
định, đó là làm quen với một chỗ nương dựa của sự
tham thiền. Người cầu đạo muốn tiến hành công việc này
có thể nhờ đến một trong rất nhiều kỹ thuật hiện có.
Ví dụ, có một thứ cốt ở tự nhận thức mình trong hình
tướng của một kiểu mẫu hiện thân một trạng thái nào
đó của tâm thức như đại bi hay trí huệ. Trong loại thực
tập này, người ta không tập trung vào đại bi hay trí huệ
: nhưng vào nhân vật mà người ta tự đồng hóa. Người ta
thấm nhiễm tính chất mà nhân vật ấy biểu trưng bằng cách
thử hiện thân, thể hiện chính tinh thần đại bi hay trí
huệ.
Các
bạn cũng có thể tham thiền về tính vô thường hay vô tự
tánh của chủ thể con người. Trong ví dụ này, những chủ
đề này làm thành đối tượng cho một tiến bộ hiểu biết.
Thiền định cũng có thể dựa vào một thành lập những nguyện
vọng. Người ta thiền định về những đức tính của một
đức Phật và mong ước chúng trở thành của mình. Sự nhắc
nhở những giai đoạn của con đường còn đem lại một lược
đồ thiền định khác trong đó người ta quán tưởng mỗi
một chứng ngộ đưa tâm thức đến một mức độ mỗi lần
mỗi vi tế hơn. Chúng ta gọi việc ấy là tư duy (Tư).
Cuối
cùng, chúng ta sử dụng một tiếp cận có hai mặt, khi thì
dùng phân tích, với sự thiền định về cái thấy thấu suốt
(vipashyana, lhag mthong), khi thì một kỹ thuật làm định tâm
: sự định tĩnh của tâm thức (samatha, zhi gnas).
Hai
loại tham thiền này có thể trụ trên sự khảo sát cách thế
hiện hữu tối hậu của mọi hiện tượng hoặc trên bất
kỳ một hiện tượng nào. Trong thời gian đầu, thiền giả
dấn mình vào một phân tích luận lý về bản tánh của những
hiện tượng. Khi đã đi hết vòng câu hỏi, anh ta đi đến
kết luận rằng chúng là trống không. Ở giai đoạn này, anh
ta tiến hành định tâm bằng cách tập trung chỉ vào một
điểm : tánh Không. Anh không thể phân tích nữa. Anh thâm nhập
vào ý nghĩa mình vừa nhận thấy. Sau khi đã chứng minh nó,
anh hướng về tánh Không và nghe nó âm vang trong anh. Khi ý
nghĩa thoát khỏi anh, anh lại trở về với luận lý. Sự bình
lặng của tâm thức, samatha, mà chức năng là cốt làm vững
vàng tâm thức, được thực hành ở người theo Phật giáo
cũng như người không phải Phật giáo. Trong đạo Phật, người
ta dùng nó nhiều trong Tiểu thừa hơn trong Đại thừa. Và
trong Đại thừa, nó là chung cho cả Kinh thừa lẫn Mật thừa.
Bây
giờ tôi sắp đưa cho các bạn một khái quát về tiến trình
tu hành để có được sự bình lặng tâm thức.
Thường
thường, tâm thức chúng ta phân tán để chạy theo nhiều kích
thích của thế giới bên ngoài. Sự phân tán lấy đi năng
lực của nó. Dòng tư tưởng giống như một dòng sông : nó
chảy khắp mọi hướng, theo những khúc khuỷu của đất đai,
nhưng nếu người ta có thể dẫn dắt nó, nó trở nên một
nguồn năng lực. Làm như thế nào ?
Mật
thừa và đặc biệt là tantra yoga tối thượng đề nghị nhiều
kỹ thuật để dẫn dòng tâm thức. Kỹ thuật thông thường
thì có trong mọi thừa. Vì cần làm yên lặng tâm thức trên
một đối tượng quan sát, trước tiên cần chọn đối tượng
nương dựa. Đức Phật đã đề nghị bốn loại nương dựa
: những cái để thuần hóa tính tình, những nương dựa tinh
xảo, những cái tịnh hóa các khuấy động và những cái thấm
đẫm chúng ta. Những đối tượng để thuần hóa tính tình
là gì ?
Từ
thời xa xưa, chúng ta đã lập đi lập lại một loại tình
cảm xung động mà sức mạnh của nó còn neo vào tính khí
chúng ta cho đến lúc này. Đối tượng nương dựa cho thiền
định phải có thể chiến thắng sức mạnh của tình cảm
xung động đặc biệt nào đó. Ví dụ, nếu khuynh hướng trổi
vượt là tham dục, đối tượng thiền định sẽ là sự bất
tịnh. Đề mục này được trình bày như một trong những
đối tượng định tâm về thân, trong bốn niệm xứ. Ở đây
bất tịnh không liên quan đến hình dạng xấu của cơ thể.
Thân thể chúng ta, trong hình dáng bình thường, thoạt nhìn
có thể thấy là đẹp, còn thêm mạnh chắc và mềm mại với
xúc giác. Nhưng hãy khảo sát nó gần hơn : chủ yếu nó chỉ
là thịt, máu, xương… Nếu tôi mang kiếng có tia X, tôi sẽ
chỉ thấy một bộ xương của một đống xương. Thiền quán
về bất tịnh, đấy đơn giản chỉ là tra hỏi bản chất
của thân xác.
Nếu
đặc tính trổi bật của bạn là giận dữ, các bạn sẽ
dùng tình thương như điểm nương dựa cho thiền định. Nếu
tâm thức bạn dễ dàng chìm vào hôn trầm, bạn sẽ dùng sự
tư duy về mười hai duyên sanh là cơ chế của vòng sanh tử.
Nếu các bạn có khuynh hướng kiêu mạn, hãy tham thiền về
những chi phần của các uẩn, làm như vậy, vô minh và kiêu
mạn của các bạn sẽ giảm dần. Những người có khuynh hướng
mạnh về tri thức hóa cần quan sát hơi thở, chú ý vào hơi
thở vào và hơi thở ra. Đó là một vài ví dụ về điểm
nương dựa dùng để lành mạnh hóa tính tình.
Chúng
ta đã đề cập đến tánh Không, nhưng một bông hoa cũng có
thể làm đối tượng thiền định như những cái khác. Tâm
thức chính nó cũng được đưa ra cật vấn. Một Phật tử
cũng sẽ thiền định về thân tướng của Phật, như một
người Thiên Chúa giáo có thể làm với đức Kitô hay với
thánh giá.
Dầu
đối tượng đã chọn là gì, không phải nhìn nó ở bên ngoài,
mà làm cho nó xuất hiện bằng tâm thức. Sự quán tưởng
bằng tâm thức này được định nghĩa là đối tượng của
thiền định. Đó là cái chúng ta gọi là phản ảnh, tư duy
và chính cái đó cần được quan sát.
Khi
các bạn biết chức năng của điểm nương dựa, các bạn
cần nghe một vị thầy diễn tả nó cho bạn ; tiếp theo, các
bạn xác định bằng tâm thức hình ảnh của nó bằng cách
thường trở lại với hình ảnh đó với tư duy. Ví dụ nếu
nó là một hình tướng Phật, các bạn phải biết mọi chi
tiết đặc thù, khảo sát nó qua hình vẽ và điêu khắc biểu
trưng nó, làm quen với hình dáng của nó cho đến lúc các
bạn có thể tái hiện nó một cách rõ ràng trong tâm thức.
Đến
giai đoạn này, hãy quán tưởng đối tượng cách khoảng một
thước trước mặt bạn, cao ngang lông mày. Hãy cho nó hình
dáng của một hình thể trong suốt, hoàn toàn làm bằng ánh
sáng, tâm thức bạn sẽ bớt hôn trầm. Và để tránh cho nó
khỏi trạo cử, xao động, hãy cho một ít trọng lượng vào
hình tượng Phật. Tâm thức sẽ an định hơn và được quy
dẫn đến mức nó an trụ vào một đối tượng cực nhỏ.
Hãy chú ý đến cách thế của thân thể. Nó có sự quan trọng
riêng của nó. Trong những đối tượng thiền định, chúng
ta cũng dùng những chữ cũng như những giọt ánh sáng nhỏ,
đặt nơi những điểm có ý nghĩa của thân. Những kết quả
sẽ càng rõ ràng nếu đối tượng càng nhỏ. Kích cỡ được
chọn lúc ban đầu phải không được thay đổi suốt cuộc
hành trình : hãy xem chúng là cố định một lần cho tất cả
cho đến khi các bạn đạt đến định tâm.
Trước
hết làm hình ảnh sinh ra trong tâm thức các bạn, giữ chắc
nó ở trung tâm sự chú ý của các bạn và không để nó thoát
mất. Duy trì sự chú ý trên đối tượng cho phép dấn mình
vào nội quán. Trong khi định tâm, tâm thức các bạn phải
hướng về hai phẩm tính : năng lực duy trì đồng thời cả
đối tượng và tâm thức một cách sáng tỏ, và khả năng
tập trung vào một điểm. Hai thứ hiểm họa sẽ xuất hiện
trong công việc của các bạn : hôn trầm và trạo cử. Một
thứ ngăn cản các bạn ở yên nơi đối tượng, thứ kia làm
hại sự chính xác của nó. Hôn trầm nghĩa là một sự thả
lỏng, thư giãn thái quá – tâm thức mất đi cường độ
và sự gắt gao của nó. Nó giống như một sự hôn mê rớt
lên các bạn và đè nặng lên các bạn như một cái mũ trùm
đến tận tai. Cách chữa trị cốt ở tăng cường sự căng
thẳng của tâm thức.
Bây
giờ đã thoát mối nguy hiểm của hôn trầm, nhưng hiểm họa
xao động trạo cử lại lớn lên. Những phóng tâm được
tham muốn đánh thức hiện ra thành sự kích động. Sự phóng
tâm có thể vì mọi loại lý do. Còn trạo cử chỉ tùy thuộc
vào những đối tượng của tham muốn. Cách chữa cho cả hai
thứ này là buông lỏng tâm thức.
Trong
khi vẫn giữ sự chú ý trên đối tượng, hãy làm một nội
quán nhanh chóng. Nếu cảm thấy có khuynh hướng hôn trầm,
các bạn hãy nâng cường độ lên ; còn là xao động hãy giảm
bớt nó. Kinh nghiệm sẽ cho phép các bạn cảm thấy cấp điệu
trung gian chính xác cho tâm thức. Nếu các bạn cảm thấy cần
nâng mức cường độ, hãy nghĩ đến một điều vui vẻ. Nếu
ngược lại, hãy quay lại nhiều hơn với sự nghiêm trọng.
Hãy nghĩ đến sự khổ đau.
Nếu
các bạn bắt đầu tập sự, hãy chấp nhận những buổi thiền
định thường xuyên và ngắn thôi. Tốt hơn nên chọn một
nơi yên tĩnh và hoàn toàn khuất tịnh. Sự xáo động của
những thành phố ít thích hợp cho một cuộc đắm mình vào
thiền định sâu xa. Sự yên tĩnh là một điều kiện cần
thiết để hoạch đắc sự bình lặng của tâm thức.
Trong
những thực tập này, tâm thức dần dần tìm cách an định,
cho đến khi đạt đến trạng thái định. Thiền quán khi tập
trung tâm thức vào một điểm duy nhất, bắt nó phải thuần
thục, mềm dẻo. Sự mềm dẻo này của tâm thức kéo theo
một sự mềm dẻo thể xác, nó làm nảy sanh hỷ lạc gắn
liền với tính thể lỏng của thể xác. Phản ứng này kéo
theo sự hỷ lạc gắn liền với tính thể lỏng của tâm thức,
và khi dòng tâm thức bình lặng, sự an định của tâm thức
được đạt tới. Trong bốn thiền định và bốn thiền không
sắc tướng, trạng thái này, gắn liền với hỷ lạc của
thân và tâm, lập nên mức độ thấp của những sơ bộ của
sơ thiền.
Cái
thấy thấu suốt có được bởi một tiến trình tương tự.
Nó sinh ra từ sự mềm dẻo của tâm thức vận hành trong sự
phân tích – và không phải trong sự tập trung an định –
sự phân tích này được dẫn dắt từ một tra hỏi gắt gao.
Cái thấy thấu suốt có thể là “thế gian” hay “xuất
thế gian”. Ở mức độ thế gian, người ta có thị kiến
của một mức độ thấp có xáo động và thị kiến của
một mức độ cao an tĩnh, trong khi thị kiến xuất thế gian
thì hòa hợp với Bốn Diệu Đế. Theo những luận đề của
Đại thừa, cái nhìn thấu suốt xuất thế gian làm sáng tỏ
sự vô ngã của các hiện tượng.
Người
ta có thể rút trong sự thực hành Mật thừa những kỹ thuật
về yoga hóa thần chúng cho những kết quả tuyệt hảo trong
thiền định. Những phương pháp này tỏ ra đặc biệt thiện
xảo để thúc đẩy sự tiến bộ đến Phật tánh. Chúng có
nghệ thuật phối hợp thiền định và trí huệ – hai cái
cuối cùng trong sáu ba la mật của Bồ tát đạo. Không có
một định tâm hoàn toàn an định và sáng tỏ, trí huệ ba
la mật không thể xuyên thủng bản chất của đối tượng,
cũng không thể quan sát nó như chính nó với tất cả những
tinh tế của nó. Và người ta không thể thiếu trí huệ cho
phép nhìn thất tất cả sự vật là vô tự tánh. Không có
cái nhìn này, định cũng bất lực trong việc chẻ phăng ý
kiến sai lầm rằng tất cả thì hiện hữu tự nó và bởi
nó. Sự bổ sung lẫn nhau giữa định và huệ làm thành một
cặp đôi không thể chia tách trong thực hành.
Theo
Tantra Vajrapanjara, một tantra giải nghĩa chu trình Guhyasamaja,
Mật thừa gồm có bốn loại : hoạt động, thực hiện, yoga
và tantra yoga tối thượng. Ba loại đầu diễn tả sự tiến
bộ trên con đường bằng yoga với hình tướng và yoga không
hình tướng. Đó là những yoga không nhị nguyên về cái sâu
kín và về cái hiển lộ. Người ta thực hiện thiền định
bằng cách dùng thân thể mình như điểm nương dựa cho tham
thiền, thân thể này người ta thấy rõ ràng như là thân tướng
của hóa thần. Khi đã có một hình ảnh rõ ràng, người ta
nhận ra tính vô tự tánh của nó. Sự chứng ngộ sâu xa trùng
hợp với hình tướng của hóa thần thiết lập nên yoga bất
nhị của cái sâu kín và cái hiển lộ.
Trong
tantra hoạt động, trong khi thực hành yoga với những hình
tướng, sự đồng hóa với hóa thần xảy ra qua sáu giai đoạn,
gọi là yoga sáu hóa thần. Với “hóa thần tối hậu” hành
giả thiền định về tánh Không, sự không có bản chất của
hóa thần và nhân cách riêng của ngài. Trong giai đoạn thứ
hai, “hóa thần của âm thanh”, người ta hình dung tánh Không
biểu hiện một cách tự nhiên trong một hình thức tiếng
vang, và bằng cách làm vang khắp không gian thần chú đặc
biệt của hóa thần.
Trong
giai đoạn thứ ba, “hóa thần của chữ”, những âm thanh
của thần chú biểu lộ dưới hình thức những chữ được
xếp đặt vòng quanh một dĩa phẳng hình mặt trăng. Trong giai
đoạn thứ tư, “hóa thần của hình sắc”, mặt trăng và
những chữ chuyển hóa thành hình dạng của hóa thần.
Giai
đoạn thứ năm, “hóa thần của dấu ấn”, là sự ban phước
cho những điểm quan trọng của thân thể hóa thần với những
cách thế của hai bàn tay mà người ta gọi là ấn. Ở đây,
người ta tưởng tượng một chữ om màu trắng đặt trên
đầu, một chữ ah màu đỏ ở cổ, một chữ hum màu xanh ở
tim. Ba chữ này tượng trưng thân, ngữ và tâm tối thượng
của hóa thần. Người ta tập trung vào thân thể hóa thần,
trang nghiêm bằng những thuộc tính của ngài, “những hình
tướng, dấu hiệu” của hóa thần. Đó là giai đoạn cuối
cùng : “hóa thần của hình tướng”.
Khi
người ta có một sự khéo léo đủ để tự quán tưởng dưới
hình thức của một hóa thần, người ta nhờ vào sự tập
trung vào lửa và âm thanh để thực hiện định trong một
thời gian kỷ lục. Sau đó, các bạn đi vào yoga không có hình
tướng, sự tập trung đưa tới giải thoát sau khi chấm dứt
âm thanh. Chính như vậy mà người ta trau dồi cái thấy thấu
suốt đặc biệt của tâm thức xuất thế gian, bằng cách
ý thức đến sự vô tự tánh : yoga về hóa thần vẫn tiếp
tục, nhưng sự nhấn mạnh được đặt vào sự xác nghiệm
bản chất tối hậu của những hiện tượng.
Trong
tantra thực hiện, tiến trình cũng giống như trong tantra hành
động. Còn tantra yoga về phần nó đem lại vài sự khác biệt.
Thân, ngữ, tâm và những hoạt động là những yếu tố nền
tảng cần tịnh hóa. Sự chuyển hóa của chúng hoàn thành
nhờ bốn cái ấn, biến chúng thành thân, ngữ, tâm và những
hoạt động đặc biệt của trạng thái quả của Phật tánh.
Trong phương pháp này, người ta đạt đến định tâm bằng
cách dùng một vật nghi lễ được hóa thần cầm nơi tay và
cũng là dụng cụ tượng trưng được cầm trong khi thực hành
để làm điểm tựa cho thiền định. Đối tượng, có thể
là một chày kim cương chẳng hạn, được quán tưởng rất
nhỏ ở đầu mũi. Dần dần, người ta tăng thêm số chày
kim cương cho đến lúc tràn đầy khoảng không gian của thân
thể mình, rồi tràn đầy cả toàn thể không gian. Những vật
tượng trưng khác nhau là thuộc về mỗi vị trong năm vị
Phật, được cầm nơi tay, dấu hiệu của sự tự chủ mà
các vị đại diện. Như thế, người ta thấy Tỳ Lô Giá Na
cầm một bánh xe, A Súc Bệ một chày kim cương… Sự nhỏ
xíu của đối tượng đóng góp vào định ; và sự kiện quán
tưởng nó nhân lên vô số để rồi tan biến sau đó làm mạnh
thêm khả năng thiền định.
Về
tantra yoga tối thượng, đặc tính của nó là thực hành lạc
phúc gắn liền với tánh Không biểu lộ trong hai cấp độ
: giai đoạn phát sanh – lãnh vực của tạo tác tưởng tượng
– và giai đoạn thành tựu không tưởng tượng, không tạo
tác. Qua hai cấp độ thực hành này, cái chết, trạng thái
trung ấm và sự tái sanh bình thường của con người được
đưa vào con đường để được chuyển hóa thành ba thân của
một vị Phật : thân chân lý (Pháp thân), thân thọ hưởng
thành tựu (Báo Thân) và thân xuất hóa (Hoá thân).
Tantra
yoga tối thượng đề nghị những kỹ thuật thiền định
về kinh mạch, khí (năng lực) và những giọt căn bản. Hệ
thống năng lực được nghiên cứu, một mặt trên bình diện
vật lý và mặt khác như là điểm nương dựa cho thiền định.
Đề nghị của loại tantra này không phải là thiết lập những
tương quan chính xác giữa giải phẫu học thân thể và những
kinh mạch năng lực, mà là dùng mọi năng lượng của mạng
vi tế này để có được vài hiệu quả trong thiền định.
Và những kinh nghiệm trong lãnh vực này chứng tỏ rằng những
kết quả đã được loan báo đã thực sự đạt được.
Tiến
trình cốt ở thiền định về những giọt, hạt, của ánh
sáng hay của những chữ được an vị ở những điểm hội
tụ của những kinh mạch. Sự định vị đặc biệt những
trung tâm năng lực này, khả năng chuyển tải ban đầu cũng
như những thiền định sơ bộ được gọi là “gần trạng
thái hóa thần” đủ sức hòa hợp định tâm và cái thấy
thấu suốt về tánh Không. Nó cũng có thể đạt được đồng
thời định và huệ (tức là cái thấy thấu suốt).
Kỹ
thuật tập chú vào những chữ án vào các “ngã tư” quan
trọng của thân thể thì đặc biệt hiệu quả để bắt buộc
dòng thủy triều của ý niệm phải dừng lại. Phải trống
không mọi tư tưởng để có thể dùng những mức độ rất
vi tế của tâm thức, như trong tantra yoga tối thượng. Khi
người ta chạm đến những vùng rất vi tế của tâm thức
này, chúng chuyển hóa và trở thành những phương tiện đánh
thức trí huệ rốt ráo. Trong tiến trình bình thường của
cái chết, nhưng mức độ thô của tâm thức tắt bặt. Sự
biến mất của chúng làm những mức độ vi tế hơn hiển
lộ, mà chót đỉnh của chúng là chỗ trú ngụ cuối cùng
của tâm thức vô cùng vi tế của tịnh quang, đặc trưng tinh
túy của cái chết. Đối với phần đông người sắp chết,
đó là một khoảnh khắc vô thức, một sự bất tỉnh. Với
thiền giả, đó là giờ phút để chứng tỏ sự thực hành
của mình, trước khi các tế bào hủy hoại : ngăn chặn những
mức độ rất thô của tâm thức bằng sức mạnh định tâm,
người ấy kinh nghiệm một trạng thái tâm thức rất vi tế.
Khi làm dứt bặt những mức độ rất thô và rất vi tế của
tâm thức cũng như năng lực (khí) của chúng, người ấy biết
được mức độ vi tế cùng cực : tâm thức của tịnh quang.
Khi người ta đủ sức để dùng nó trong thực hành tập sự,
trạng thái tâm thức này đem lại một lối tắt đặc biệt
hiệu quả và nhanh chóng trên con đường. Nhưng để có được
sự chín muồi, trưởng thành mà sự thực hành tinh tế này
đòi hỏi, trước tiên phải làm việc ở giai đoạn phát sanh.
Tôi
đã tóm tắt ngắn gọn cho các bạn những lãnh vực của tâm
thức và những phương tiện để tự làm chủ theo kinh điển
và tantra. Chúng xứng đáng với một sự thám hiểm sâu hơn.
Điều ấy cũng cần một nỗ lực lớn.
SỰ
HÒA HỢP CỦA HAI PHÁI
CỰU
DỊCH VÀ TÂN DỊCH ****
Đây
là sự tường trình của một công việc hầu như có tính
cách cá nhân.
Từ
khá lâu, tôi có niềm tin sâu xa rằng bốn phái Nyingma, Sakya,
Kagyu và Gelug dung hợp những lý thuyết của Kinh và Mật và
tất cả có cùng quan điểm của phái Hệ Quả về tánh Không.
Thế nên tôi đã nghiền ngẫm với sự quan tâm lớn nhất
về cách thức mà các phái trình bày về cái thấy, thiền
định và hạnh trong kiểu cách riêng của mỗi phái.
Vấn
đề những hệ thống cũ và mới không đặt ra ở Ấn Độ.
Ở Tây Tạng, những trường phái dịch thuật chia thành phái
cũ và phái mới liên hệ đến cách thức trình bày Mật thừa.
Một kinh điển theo những thời kỳ những bản dịch được
thực hiện.
Phái
Nyingma đại diện cho cựu phái ; Sakya, Kagyu và Gelug tạo thành
những tân phái phát xuất từ những bản dịch của Rinchen
Sangpo (958-1055).
Những
phái mới chỉ có một chút khác nhau không có ý nghĩa gì về
sự thực hành Kinh. Trái lại, trong Mật thừa, chúng có khác
biệt nhau đôi chút.
Khi
người ta không đào sâu chúng, những khác biệt về cách dùng
từ và những chi tiết khác có thể hiện rõ ra hơn là chúng
thực sự như thế giữa những phái dịch thuật mới, thật
ra từ nền tảng chúng được kiến tạo cùng một cách.
Dòng
Kagyu truyền từ Dagpo Larje (1079-1153), học trò của Milarepa
(1040-1123), ngài có vị thầy là Marpa (1012-1096). Vị này được
Naropa cho nhập môn với hóa thần thủ hộ Guhyasamaja. Nhưng
trong dòng Gelug, Tsongkapa (1357-1419) dạy năm cấp độ của giai
đoạn thành tựu của tantra yoga tối thượng, mà ngài cũng
được truyền từ Marpa, là người được Naropa cho nhập môn
vào những giáo huấn tinh yếu của Tantra Guhyasamaja. Cần phải
thêm vào đó những chủ đề quan trọng bậc nhất khác, như
Tantra Chakrasamvara, sự thực hiện thọ mạng, Tantra Hevajra và
chuyển di tâm thức mà hai phái Kagyu và Gelug cũng có từ Marpa.
Như
vậy, những trình bày Tantra phần lớn là đồng nhất trong
nòng cốt giữa hai phái. Chỉ có sự sáng sủa và độ dài
của những giải thích thì đôi khi thay đổi.
Về
cái nhìn triết lý, Marpa Nhà Dịch Giả đã có những tìm tòi
của mình về tánh Không dưới sự hướng dẫn của Maitripada,
vị này đã nói trong Mười Đoạn về Chân Như (Tattvadashaka)
:
Phần
đông người bảo vệ quan điểm đúng hay sai
Và
ngay cả những nhà Trung luận không có lời dạy
của
đạo sư soi sáng
Chỉ
là những nhà tư tưởng tầm thường.
Theo
ngài những nhà bảo vệ quan điểm đúng hay sai của Duy Thức
đã không có được một cái thấy tối hậu. Còn những người
mượn Trung Đạo mà không được những lời dạy thiết yếu
của đạo sư soi sáng, họ chỉ có một cái nhìn tầm thường.
Trong một bình giải về bản văn này, một đệ tử của Maitripada
là Sahajavajra cho rằng “đạo sư” là vị triết gia nổi
tiếng Chandrakirti và thêm rằng, đối với thầy của mình,
những lời dạy tinh túy của tư tưởng gia danh tiếng ấy
là một điều kiện cần thiết để có được một cái thấy
hoàn hảo. Vậy thì, Maitripada và Marpa đồng ý với nhau với
quan điểm của Chan-drakirti, nó cũng là quan điểm của phái
Hệ Quả Trung Đạo.
Hơn
nữa, trong Bài Ca cho năm Người Chị trường thọ, người
kế thừa của Marpa là Milarepa dẫn lời của đức Phật toàn
trí : chư Phật, Pháp thân, quốc độ, những con đường và
mọi thứ – gồm cả tánh Không – rốt ráo là không hiện
hữu được với sự phân tích toàn triệt, tất cả chỉ hiện
hữu như là những sự vật cho một tâm thức quy ước danh
tướng. Và trong lãnh vực của những sự thật quy ước, ngài
nêu rõ sự vắng mặt của tính không-tương-hợp của những
sự vật duyên sanh và sự tìm kiếm vô ích về chính tánh
Không ở mức độ tối hậu.
Phân
biệt như thế hai chân lý, Milarepa biểu dương cái thấy hoàn
hảo của phái Hệ Quả của Trung Đạo. Đó cũng là quan điểm
của phái Gelug. Kagyu và Gelug không khác nhau trong tư duy triết
lý. Phái Sakya hơi tách biệt, do sự lựa chọn từ ngữ của
nó ; nhưng kiến thức tổng thể và sự phát triển về phương
pháp luận thì thiết yếu tương tự. Trong Những Tác Phẩm
Linh Tinh, Kédrup, một trong hai đệ tử chính của Tsongkapa (người
sáng lập phái Gelug) cũng nhận xét như vậy. Theo ngài, mặc
dù cách thức mà Tsongkapa giảng giải về cái thấy của Trung
Đạo khác với của Rendawa (1349-1412), vị thầy Sakya của ngài,
nhưng họ cùng đạt đến kết quả y nhau. Sự phát biểu thì
khác nhau, nhưng tư tưởng là một. Vậy thì người ta dễ
dàng thấy rằng Kagyu, Sakya và Gelug cùng theo một dòng tư tưởng
và tất cả đều tự nhận là ở trong quan điểm của phái
Hệ Quả Trung Đạo.
Trái
lại, trong cựu phái Nyingma, những giống nhau thì khó thấy
hơn. Đại để, sự thực hành của phái này chú trọng vào
cái thấy, sự hành xử và thiền định. Hai cái sau ít phân
biệt với những cái mà các tân phái đề nghị. Có những
sự khác biệt không mấy ý nghĩa trong cách phân mục giáo
lý, trong nghi lễ hay trong cách trình bày con đường. Về những
quan điểm triết lý, thoạt nhìn thì chúng xa nhau khá nhiều,
vì thuật ngữ khác biệt.
Nhưng
chính Tsongkapa chủ trương rằng những nguồn gốc của Nyingma
là chính thống và quan điểm của nó phù hợp với thực tại.
Và chính là Namka Gyeltsen Lodrak, đệ tử Đại Toàn Thiện trong
giáo lý Nyingma đã dạy Tsongkapa về trường phái này. Vị
này được xem như là một trong những vị thầy của Tsongkapa
và thay vì đi tìm kiếm ở Ấn Độ một ấn chứng cho cái
thấy của mình, Tsongkapa đã yêu cầu ngài soi sáng cho vấn
đề ấy và nhờ ngài, đã xác nhận cái thấy về tánh Không.
Về những sự việc đã xảy ra, những tiểu sử của Tsongkapa
nói rất rõ về chuyện này.
Chắc
chắn rằng, trước khi những phái tân dịch khởi sanh, một
số hành giả, bác học và học giả đã trở thành những
thành tựu giả khi mượn con đường Nyingma độc nhất. Hai
mươi lăm đệ tử của đạo sư quý báu Padmasambhava, trong
đó nổi bật nhà vua Trisong Deutsen (sanh năm 742) và nhiều vị
khác. Những tân phái không có vào thời kỳ ấy. Cho đến
ngày nay, chúng ta có đầy đủ những bằng cớ về những
đỉnh cao tâm linh do các đệ tử của con đường này đạt
được. Đó là bằng chứng Đại Luận Giải của phái Nyingma
là một phương pháp thuần khiết thuộc về sự thực hành
bí truyền của yoga mantra tối thượng.
Trong
Những Tác Phẩm Linh Tinh của Kédrup, vấn đề bác bỏ phương
pháp này đã được vén lên. Với sự thuần khiết của mình,
Kédrup trả lời rằng sự khước từ xảy ra tiếp theo thái
độ hành xử mơ hồ của vài mantrika (đệ tử Mật thừa)
đang thực hành Đại Toàn Thiện. Ngài nhấn mạnh sự kiện
sự thực hành này thuộc về một mức độ cao của yoga mantra
tối thượng và nó đã cho phép nhiều người đạt đến những
mức độ chứng ngộ rất cao.
Ngài
còn thêm rằng những dịch giả Tây Tạng khi đến viếng Ấn
Độ đã thấy ở Magadha những bản văn nguyên gốc tiếng
Phạn cuốn Tantra của Tinh Túy bí mật (Guhyagarbha) và họ kết
luận rằng khước từ, bác bỏ một giáo lý như thế chỉ
có thể dẫn đến một tái sanh bi thảm. Đây là trích đoạn
từ Những Tác Phẩm Linh Tinh của Kédrup :
Câu
hỏi : Vì sao mà những học giả ngày trước và một số của
ngày nay bác bỏ phái cựu dịch Mật thừa ?
Trả
lời : Những bản dịch Mật thừa trong lần truyền bá thứ
nhất được coi là cũ (Nyingma) và những bản dịch phổ biến
về sau được gọi là mới (Sarma). Khoảng giữa đó, thời
đại Langdarma (khoảng 803-842) đã đưa đến sự suy vi của
những giáo pháp, một số mantrika đã lìa khỏi giới hạnh
bằng cách dấn thân vào những quan hệ tính dục. Ngày nay
người ta còn có thể thấy những hành giả sống cuộc đời
gia đình và búi tóc (theo kiểu những mantrika ở đời). Có
lẽ người ta đã nhạo báng giáo lý này căn cứ vào cách
cư xử của những người như vậy.
Bấy
giờ tình hình phái cựu dịch khác hẳn. Vào thời những triều
đại Tây Tạng ưu ái Phật giáo nhất, những dịch giả giá
trị như Vairochana và Manyek, năm vị tăng và nhiều vị khác
được phái đến Ấn Độ, mang theo vàng và tặng vật. Để
được chỉ dạy những giáo lý vô song của Mật thừa như
là Đại Toàn Thiện, họ đã tìm ra những vị thầy rất nổi
tiếng, uyên bác và đã dịch những lời dạy của các ngài.
Hơn nữa, những khuôn mặt vĩ đại như Padmasambhava, Vimalamitra,
Buddhaguhya và những vị khác được mời đến để thiết
lập giáo lý bí truyền của Thượng thừa ở Tây Tạng. Chính
vì sự thực hành những hệ thống này nhằm để giải thoát
khỏi vòng sanh tử mà vô số hành giả, trong đó nhiều người
đã nhập Đạo.
Cũng
có nhiều bản văn tiếng Phạn của phái cựu dịch ở chùa
Samyé, và những nhà dịch thuật Tây Tạng nói rằng ở Magadha
Ấn Độ vẫn còn những bản in cuốn Tantra của Tinh Túy bí
mật, Năm Kinh chép tay… Bởi thế, những ai bác bỏ những
giáo lý rất sâu xa, thuộc về cấp độ cao nhất của Đại
thừa, họ chỉ tích góp thêm nghiệp để sinh vào địa ngục.
Đó
là những biện luận do Kédrup nêu ra. Vị thầy này xem Đại
Toàn Thiện như là một phương pháp sâu xa và rất đặc biệt.
Vậy thì chúng ta có mọi lý do để nghĩ rằng đó là một
giáo lý thuần túy của tantra yoga tối thượng.
Nhiều
đệ tử của phái này hay phái kia trong bốn phái chính của
Phật giáo Tây Tạng đã chủ trương rằng các phái đều đặt
nền tảng trên cùng một tư tưởng. Trong phái Gelug, Ban Thiền
Lạt Ma thứ Nhất, Lobsang Choškyi Gyaltsen (1567 [?]-1662) đã ghi
nhận điều đó trong bản trước tác Đại Ấn. Theo ngài,
một sự phân tích thuật ngữ của các phái khác nhau đủ
cho thiền giả kinh nghiệm phát hiện thấy chúng bày tỏ cùng
một tư tưởng.
Ban
Thiền Lạt Ma thứ Nhất nói như sau :
“Khác
biết bao những từ ngữ được dùng để nói đến sự kết
hợp bổn nhiên: sự kiện nhỏ, số gấp năm, vị bình đẳng,
bốn chữ, sự an hòa, sự trừ tà, đại toàn thiện, những
giáo huấn về cái thấy của phái Trung Đạo… Khi chúng được
một thiền giả đầy kinh nghiệm phân tích, đã quen với bản
văn trong sáng và rõ ràng và với lý luận, chúng rốt cuộc
quy gọn vào cùng một tư tưởng.”
Tuy
nhiên, một vài bậc thầy Gelug như Ban Thiền Lạt Ma thứ Ba,
Lobsang Palden Yéshé (1737-1780) đã cho là những xác quyết của
Ban Thiền Lạt Ma thứ Nhất là một công việc chính trị hơn
là sự phát biểu thực sự tư tưởng ngài. Thật vậy, sự
nghi ngờ của những vị này đối với tư tưởng Nyingma đến
từ sự kiện là trong đại toàn thiện, cái thấy là một
sự phủ định xác định (paryudasapratishedha), trong khi với
phái Gelug, đó là một sự phủ định không xác định (prasajyapratishedha).
Các vị diễn dịch từ đó rằng quan điểm của họ khác
nhau. Đó là điểm bắt đầu của nhiều bất đồng ý, và
người ta đã thấy những học giả uyên bác đối đầu với
nhau, mỗi vị bác bỏ quan điểm của vị kia để bảo vệ
quan điểm của mình.
Người
ta tìm thấy trong phái Kagyu và phái Sakya những trước tác
bác bỏ một cách rõ ràng giáo lý Đại Toàn Thiện. Cũng có
một số trước tác thuộc loại ấy trong phái Gelug trễ hơn
về sau, nhưng trong những tác phẩm của Tsongkapa, ngài chính
là người sáng lập ra phái này, đã không xuất hiện ngay
cả những từ “Nyingma” hay “đại toàn thiện”. Những
người chỉ trích thật ra chỉ tấn công vào một số điểm
nhất định, như người ta đã nhận xét ; tiếc thay, bút pháp
của họ đã làm cho nhiều người tin rằng họ bác bỏ toàn
bộ giáo lý này. Và điều này thật đáng buồn.
Theo
cái nhìn của tôi, Ban Thiền Lạt Ma thứ Nhất thật sự thành
thật khi ngài nói rằng bốn phái đồng quy trong tư tưởng
của họ. Tôi không nghi ngờ gì về vấn đề này. Cũng không
nghi ngờ gì về sự kiện nhiều hành giả đã trở thành thiền
sư hạng nhất bằng cách mượn con đường Đại Toàn Thiện
của phái Nyingma. Khi một thiền giả thành tựu như thế bằng
một phương pháp, đó là dấu hiệu phương pháp đó thật
sự trong sạch. Tôi đã tìm kiếm với sự cố gắng lớn nhất
để tự giải thích làm thế nào mà hai sự phát triển này
đồng quy. Tôi đã đi đến một ý kiến, mặc dầu tôi không
thể trình bày nó rõ ràng cũng như phát biểu một cách chung
thẩm. Tôi còn cần phải phân tích thêm. Nhưng tôi sắp nói
với các bạn điều đã đến với tôi từ những công trình
của đạo sư Nyingma Dodrupchen Jigmé Tempé Nyima (1865-1926), những
tác phẩm của ngài tạo ra một điểm then chốt của sự phân
tích của tôi.
Trong
khuôn khổ quy chiếu nào mà Ban Thiền Lạt Ma thứ Nhất nói
rằng những giáo lý này đồng quy. Nói rằng những quan điểm
của Trung Đạo và của đại toàn thiện Nyingma là đồng nhất
thì sẽ ít rõ nét. Nếu người ta quy chiếu vào Chan-drakirti
(phái Hệ Quả Trung Đạo), cái thấy của Trung Đạo cũng được
chia xẻ bởi những hành giả Tiểu thừa ; còn đại toàn thiện
đã không có trong kinh Đại thừa, càng không có trong kinh Tiểu
thừa. Phái Nyingma trình bày chín thừa : ba thừa là kinh điển
– Thanh Văn thừa, Độc Giác thừa và Bồ Tát thừa – ba
thừa khác là những hệ thống tantra ngoại – kriya, upa và
yoga – và ba thừa chót là những hệ thống tantra nội –
mayayoga, anuyoga và atiyoga. Đại toàn thiện không nằm trong
thừa nào của sáu thừa tantra, không ở trong ba thừa ngoại
cũng không ở trong những phần khác nhau của mahayoga hay anuyoga
nội. Sự thực hành ấy là chót đỉnh thống lãnh các thừa,
là đại atiyoga. Người ta không thể chủ trương một cách
xác quyết giáo lý của đại toàn thiện, đỉnh chót này của
chín thừa, là đồng nhất với giáo lý được Nagarjuna trình
bày trong Trung Đạo. Giáo lý Trung Đạo vả lại thường dùng
ở những Thanh Văn và Độc Giác trong mức độ nhập lưu (sự
hiểu biết trực tiếp chân lý vô ngã). Hai cái thấy này không
tương đồng. Đặt chúng song song một cách toàn thể sẽ là
một chủ đề quá rộng lớn.
Nếu
hệ thống tantra cao nhất của Nyingma và quan điểm của những
phái tân dịch không thể đo đạc trên mảnh đất kinh điển
của phái Trung Đạo, thì đâu là nền tảng để so sánh thích
hợp với quan điểm của đại toàn thiện ? Trong yoga tantra
tối cao như Tantra Guhyasamaja được các phái tân dịch áp dụng,
quan điểm của Trung Đạo có được một tinh thần mới đặc
biệt bằng cách đánh thức trí huệ bổn nhiên của đại
lạc phúc. Khi người ta đặt hướng đi này bên cạnh hướng
đi của đại toàn thiện, người ta có một mức độ chính
đúng để so sánh.
Trong
khuôn khổ Tantra Guhyasamaja, những phái tân dịch dạy rằng
sự tra vấn về cái thấy gồm có hai phần : sự điều tra
trên đối tượng và sự điều tra trên chủ thể. Cái trước
cho phép khám phá đối tượng, tức là tánh Không, vô tự
tánh, nhờ vào trí huệ. Cho đến đây Tantra Guhyasamaja không
có gì khác với giáo lý Trung Đạo của Nagarjuna. Trái lại,
khi đề cập đến kiến giải về chủ thể, tâm thức chứng
kiến tánh Không, có sự khác biệt lớn. Theo Tantra Guhya-samaja,
khi đạt đến giai đoạn thành tựu, người ta tiếp cận với
tánh Không nhờ một tâm thức phát triển, rất vi tế, gọi
là tâm thức bẩm sinh và căn bản của tịnh quang. So với
sự vi tế của tâm thức này, tâm thức chứng kiến tánh Không
trong Trung Đạo chỉ là một tâm thức bình thường.
Theo
Damtsig Dorje, một vị Mông Cổ Kalka, khi cái thấy của đại
toàn thiện được chỉ dạy, nó cũng chia làm hai phạm trù
: đối tượng và chủ thể. Trong danh từ của những tân phái,
đối tượng để khám phá thuộc về tịnh quang đối tượng,
nói cách khác là tánh Không được trí huệ thấu hiểu. Và
cái thấy về phía chủ thể là một trí huệ vi tế, một
tâm thức nền tảng, mà không phải một tâm thức bình thường.
Trong
đại toàn thiện, chữ “cái thấy” hầu như luôn luôn thuộc
về chủ thể – trí huệ –, rất hiếm khi thuộc về đối
tượng – tánh Không – và thỉnh thoảng có một trộn lẫn
cả hai : tánh Không được trí huệ thâm nhập. Tâm thức tịnh
quang này, nền tảng, bẩm sinh, rất quan trọng trong những
tantra yoga tối thượng của các phái tân dịch cũng như trong
đại toàn thiện của Nyingma. Đó là mức độ thích hợp để
thiết lập sự so sánh giữa các tân phái và cổ phái.
Cách
thức đồng hóa đối tượng và chủ thể – tánh Không và
trí huệ – với cái thấy không chỉ dành cho tantra, nó còn
là đặc điểm của phái Tự Trị của Trung Đạo. Phái này
trình bày tánh Không như là chân lý tối hậu, và tâm thức
thấu hiểu nó như là một phù hợp tối hậu (điều mà những
tân phái và cựu phái cùng chấp nhận). Mức độ vi tế của
tâm thức cho phép chứng ngộ tánh Không trong đại toàn thiện
không nên được lầm lẫn với mức độ thô hơn, bình thường
hơn của thừa Ba la mật trong Đại thừa. Đấy là một trí
huệ căn bản (rigpa), một nguyên lý bổn hữu của tâm thức
và của tịnh quang, nó là thể cách tối hậu của sự vật.
Theo
quan niệm của mình về hai chân lý, Trung đạo nhìn thấy trong
tâm thức tịnh quang rất vi tế này một phù hợp tối hậu
và một dữ kiện thực sự, nhưng không là một chân lý tối
hậu thực sự. Thật vậy, đối với phái này, chân lý tối
hậu thực sự là cái được khám phá bởi tâm thức chứng
kiến cách thế hiện hữu tối hậu của sự vật, tức là
tánh Không. Điều mà tâm thức nhận thấy trước một đối
tượng quy ước (nghĩa là hoàn toàn hiện tượng, trừ tánh
Không) là một chân lý quy ước. Nhưng trong đại toàn thiện,
những bản văn biểu lộ hai chân lý dưới một ánh sáng khác,
bởi vì chúng không căn cứ trên sự phân biệt chủ thể và
đối tượng ; ngược lại, chúng phù hợp với sự giải thích
căn để hai chân lý trong tantra yoga tối thượng.
Đạo
sư Nyingma Dodrupchen nói đến chúng như “hai chân lý đặc
biệt”. Trong đoạn bắt đầu cuốn sớ giải về ý nghĩa
tổng quát Tantra của Tinh Túy bí mật của ngài, ngài kể ra
bảy chân lý tối hậu đặc biệt : những căn bản, đạo
và quả, cái sau gồm năm phạm trù. Chính nguyên lý của giáo
lý này là “tâm kim cương”, chỗ nương dựa của mọi hiện
tượng sanh tử và Niết Bàn. Đối với phái tân dịch của
tantra yoga tối thượng, cái tịnh quang căn bản bổn hữu được
gọi là “chân lý tối hậu”.
Đại
toàn thiện Nyingma xem cái tâm thức căn bản này như chân lý
tối hậu, và những hình tướng bao phủ dưới hình thức
những hiện tượng tịnh và bất tịnh là những chân lý quy
ước. Những hình tướng này là những hiện tượng tùy duyên,
biểu lộ một cách thô, trong khi chân lý tối hậu thuộc về
nguyên lý căn bản bổn hữu : “tâm kim cương” hiện hữu
một cách vĩnh cửu. Hai chân lý được trình bày trong đại
toàn thiện là như vậy.
Mặc
dầu những chữ “tối hậu” và “quy ước” được dùng
trong những bản văn này, chúng không có cùng một cách dùng
với phái Trung Đạo. Những khác biệt của thuật ngữ này
không phải là đặc biệt : trong Trung Đạo, từ “tối hậu”
có nhiều nghĩa. Ví dụ, người ta tìm thấy trong Dòng cao quý
của Đại thừa (Uttaratantra) của Maitreya, một “sự nương
dựa tối hậu” và một “sự nương dựa quy ước” ; và
ngài đã cho ba định nghĩa về cái tối hậu trong khảo luận
Phân biệt giữa và các bên (Madhyantavibhanga). Trong văn cảnh
này, cái tối hậu “khách quan” để chỉ tánh Không, cái
tối hậu “thực hành” để chỉ trí huệ trong thiền định,
và cái tối hậu “hoàn thành” để chỉ Niết Bàn.
Các
phái tân dịch cũng dùng những từ “tối hậu” và “quy
ước” theo nhiều cách khác nhau. Trong giải thích của họ
về năm giai đoạn của tantra yoga tối thượng, họ nói đến
những mức độ chứng nghiệm chân lý tối hậu và chân lý
quy ước, nhưng những từ này không có cùng ý nghĩa với Trung
Đạo. Cũng như trong đại toàn thiện, giáo lý này có một
cái nhìn khác thường về hai chân lý. Tịnh quang thuộc về
chủ thể (tâm thức rất vi tế của tịnh quang xuất hiện
ở cấp độ thứ tư của năm cấp độ trong giai đoạn thành
tựu) được gọi là “chân lý tối hậu”. Phái Trung Đạo
phân biệt hai chân lý sẽ gọi nó là một chân lý quy ước
; theo phái này, đấy không phải là một chân lý tối hậu
thực sự, mà là phù hợp.
Trong
tantra yoga tối thượng của những phái tân dịch, tâm thức
căn bản, nền tảng của mọi hiện tượng của sanh tử và
Niết Bàn, được xem là chân lý tối hậu hay thực tánh của
mọi hiện tượng (dharmata, pháp tánh). Người ta cũng gọi
nó là “tịnh quang” (abhasvara, od gsal) và là cái không do
hợp thành (asamskrta). Với những người của phái Nyingma, nó
có tên là tâm kim cương. Người ta phân biệt nó với thức
(sems), vì nó là tác nhân của sáng chiếu và hiểu biết thuần
túy, trí huệ bổn nguyên (rigpa), nguồn gốc của mọi tâm
thức, nó vĩnh cửu, bất hoại, bất động, thực thể của
nó không thể bị làm thương tổn ví như kim cương (vajra).
Cũng
như tân phái quy về tâm thức căn bản như là cái vô thủy
vô chung, Nyingma xiển dương một tâm kim cương vô thủy vô
chung, nó tương tục không gián đoạn trong môi trường quả
của Phật tánh. Khi họ nói đến tính thường trụ của nó,
điều đó có nghĩa là nó vĩnh cửu, tức là nó không tan hoại
từ niệm này sang niệm khác mà với tư cách là một dòng
tương tục, nó không ngừng dứt. Trong Trang nghiêm sự chứng
nghiệm sáng tỏ (Abhisamayalamkara), Maitreya giải thích cùng một
cách tương tự rằng những hoạt động lưu xuất từ một
vị Phật thì thường hằng theo ý nghĩa chúng vô tận. Và
khi tâm kim cương được nói là vô tạo tác, vô sanh, điều
ấy có nghĩa là nó không ngoại sinh, và nó không sanh vào một
lúc nào do nhân và duyên, dòng tương tục của nó đã luôn
luôn hiện hữu.
Trong
cùng một mạch nguồn, khi Norsang Gyatso (1423-1513), nhà học
giả uyên bác và chứng ngộ của phái Gelug, nói rằng tất
cả những gì hiện hữu tất yếu phải do hợp tạo (samskrta),
ngài nhắm vào một nguyên lý trật tự tổng quát hơn là vào
điều mà người ta thường hiểu bởi danh từ này. Ở đây
ngài nêu rõ một cái gì hơn là ý tưởng duyên sanh hợp tạo
các hiện tượng – gồm cả những hiện tượng thường hằng
(vô vi pháp). Ngài chủ trương tất cả mọi thứ hiện hữu
đều bị điều kiện hóa và đồng thời tùy thuộc vào những
phần tử của nó và một tâm thức ý niệm đặt tên cho thứ
ấy. Những nhà Nyingma cũng dạy rằng tâm thức căn bản không
phải là một hiện tượng mới xảy ra, từ nhân và duyên
sanh ra, mà nó thì “vô sanh”, trong ý nghĩa đầy đủ nhất
của từ này.
Những
nhà Nyingma nhìn cái ấy như là chân lý tối hậu – trong khi
trong Trung Đạo, chân lý tối hậu là cái mà tâm thức chứng
ngộ tánh Không khám phá ra. Tâm kim cương của những nhà Nyingma
là tâm thức căn bản của tịnh quang vô thủy vô chung, miếng
đất nền tảng của tất cả sanh tử và Niết Bàn. Bản thể
của nó là bản tánh của Pháp thân, biểu lộ nơi quả của
Phật tánh. Bởi vì nó siêu xuất mọi sự sanh khởi, người
ta gọi nó là chân lý tối hậu. Về sự triển khai, những
biểu lộ hay hình tướng cụ thể lưu xuất từ nó, đấy
là những chân lý quy ước.
Thực
thể (ngo bo) của tâm thức căn bản này là bổn lai thanh tịnh
(ka dag). Trong thuật ngữ của Trung Đạo, người ta nói rằng
nó là tiên thiên, vốn có và tính chất là vô tự tánh. Tịnh
cũng như bất tịnh, tất cả xuất hiện trong trường của
tánh sáng tỏ và hiểu biết đơn giản này như là trò chơi
và sự triển khai của tánh tự nhiên của nó. Mọi biến cố,
mọi biểu lộ tự trình diện với tính cách (rang bzhin) tự
nhiên (lhun grub) này. Người ta gọi “đại bi” là sự tỏa
sáng không chướng ngại của tâm thức căn bản, bởi vì những
hiệu quả của nó diễn dịch thành những hoạt động từ
thiện của một vị Phật, mà tất cả những sinh hoạt lưu
xuất từ bản tánh thanh tịnh và tự nhiên là đặc trưng
của tâm kim cương.
Bổn
nhiên thanh tịnh suốt khắp mọi thời, với tính tự nhiên,
tâm thức kim cương là chỗ nương dựa của mọi hiện tượng
sanh tử và Niết Bàn. Con người, mặc dầu lãnh hội đủ
thứ tư tưởng tốt xấu và mọi biểu lộ tham sân si, cũng
chẳng thể làm nhiễm ô nó. Không có một khiếm khuyết nào
là của nó. Bùn không làm dơ được bản tánh của nước.
Cũng thế, những phiền não tan rã nơi tâm kim cương, nền
tảng biểu lộ của các thứ giả tạo ấy ; chúng triển khai
như trò chơi của bản tánh kim cương, nhưng dù mạnh mẽ đến
đâu, chúng cũng chẳng thể tác động gì đến nó. Vĩnh viễn
thiện, nó chỉ là thiện (Samantabhadra : Phổ Hiền).
Phật
tánh được trang nghiêm bằng tất cả đức tính, trong đó
mười lực và bốn vô úy ; tất cả những khả năng này tiềm
ẩn bản chất trong tâm kim cương. Chỉ có một số duyên nào
đó ngăn cản sự biểu lộ của chúng. Thế nên nói rằng
tất cả chúng ta vốn giác ngộ từ khởi thủy và chúng ta
vốn được phú bẩm một tâm thức căn bản toàn thiện.
Chân
như, chân lý tối hậu hay tâm thức căn bản, dầu danh từ
gì người ta gán cho nó, cốt yếu là nhận biết nó và thấy
rằng tất cả mọi thứ trong thế giới và trong Niết Bàn,
đều là trò chơi của nó. Khi tiến bộ trong kinh nghiệm của
mình, hành giả đi đến chỗ nhận ra rằng mọi hình thức
hiện hữu chỉ là trật tự của danh xưng, xác nghiệm điều
mà những bản văn Trung Đạo đã chứng minh.
Bây
giờ, anh ta biết rằng anh ta đã là đồ chơi của những hình
tướng ; anh ta đã tin vào sự tự lập của chúng, vào tự
tánh của chúng, nhưng thật ra, tất cả mọi hiện tượng,
tất cả mọi biến cố chỉ là ngoại duyên sanh, không có
thực chất, vô tự tánh. Những sự vật không có quyền hiện
hữu bởi tự mình ; tuy nhiên chúng cho ảo tưởng chúng có
một hiện hữu tự thân và chúng ta bám vào điều giả tạo
này.
Sự
suy tư của hành giả ấy dẫn anh ta tiếp theo hiểu ra những
cơ chế vận hành sự hiểu lầm này. Sự hiểu lầm ấy đẩy
chúng ta tạo tác những hành động tốt hay xấu, chúng nuôi
dưỡng những khuynh hướng và chúng ta sẽ lại bì bõm trong
vòng sanh tử. Nhưng một khi người ta thấy được những hình
tướng như là trò chơi của tâm thức căn bản bằng cách
an trụ trong nó, người ta không bị ảnh hưởng nữa bởi
những ý niệm quy ước danh tướng.
Người
nào nhận biết tâm thức căn bản và thể nghiệm một cách
trực tiếp, liên tục và xác thực nó nghĩa là gì, trong thiền
định, người ấy trở thành một vị Phật, trong chính thế
giới này.
Khi
một thiền giả thể nhập vào sự thiền định của tịnh
quang, những tân phái nói rằng người ấy đang an nghỉ. Trong
thuật ngữ của họ, những cơ chế tâm thức làm nguồn gốc
cho những hành động và những khuynh hướng là những hình
thức của tâm thức thô hơn những hình thức hiện tướng,
phát triển và hoàn thành. Những hình thức tâm thức thô này
phải tắt đi để cho tịnh quang có thể xuất hiện. Khi tịnh
quang hiện ra, nếu người ta không thể an trụ trong đó, những
thị kiến hoàn thành, phát triển và hiện tướng lại biểu
lộ ra và theo sau đó là tám mươi ý niệm kéo theo những hành
động nhiễm ô và tích tập khuynh hướng. Chính điều đó
làm hại chúng ta. Nhưng khi người ta an trụ vững chắc trong
tịnh quang, ngay khi giai đoạn hoàn thành chấm dứt, những
phiền não và những ý niệm không thể hình thành nữa. Người
ta ở bên trên của lãnh vực ý niệm. Không có tình thức
nào đủ mạnh để tác động trong trạng thái tâm thức này.
Đó là một sự an nghỉ thật sự. Đó là điều diễn ra trong
tân phái.
Đối
với Nyingma, khi người ta thấu hiểu thực tại của tâm kim
cương, cũng chính là cách thế thực sự của hiện hữu, người
ta khám phá ra rằng trong thế gian cũng như Niết Bàn, tất
cả sự vật chỉ xuất hiện do mình, như là trò chơi của
mình, qua đó người ta có thể thấy chúng vô tự tánh và
chúng chỉ hiện hữu nhờ vào tâm thức căn bản. Thật rất
giống với điều Nagarjuna đã phát biểu trong Tràng Hoa Quý
Giá : hiện hữu sanh tử là một cái bẫy lừa gạt, ngài nói,
bởi vì nó nương dựa vào một cái bẫy lừa gạt, tức là
vô minh. (Nguyên văn : Ngũ uẩn của thân tâm biểu hiện từ
một ý tưởng về một cái ta, đây là một ý niệm sai lầm.
Làm thế nào mà một cái nảy mầm từ một hạt giống lầm
lạc có thể là thực ư ?) Mặc dầu tâm thức căn bản không
phải là tưởng tượng, tất cả mọi thứ hiện hữu nơi
thế gian và Niết Bàn đều là trò chơi của nó ; tuy nhiên
bình thường không thể thấy như vậy. Trong bối cảnh đó,
những hiện tượng được biểu lộ như một cạm bẫy. Khi
người ta chứng ngộ điều này, người ta bắt buộc phải
chấp nhận rằng tất cả chỉ hiện hữu một cách danh tướng,
một cách quy ước. Theo Dodrupchen, cái thấy sự đa thù vô
số của những hình tướng như là trò chơi của tâm thức
căn bản làm cho chúng ta hiểu hơn một cách tất yếu vị
trí của phái Hệ Quả khi phái này quy kết một hiện hữu
chỉ độc nhất do năng lực của sự ý niệm hóa.
Trong
đại toàn thiện, có một thực hành cho phép nhìn thấy những
hình tướng lưu xuất từ trò chơi và từ sự tỏa chiếu
của tâm thức, trong khi sự chú tâm vẫn duy trì trên thực
thể căn bản của tâm thức. Nếu như phương pháp này không
dàn trải dài dòng về sự loại trừ đối tượng cần bác
bỏ – hiện hữu tự thân – cũng không về bản chất ý
niệm và danh xưng của những hiện tượng, đấy là vì điều
đó đã hiển lộ ra khi người ta hiểu rằng tất cả những
hiện tượng này chỉ là sự biểu lộ và trò chơi của tâm
thức căn bản của tịnh quang này. Tất cả những điểm mà
những tân phái của Trung Đạo nghĩ là cần thiết cho sự
khám phá tánh Không đều hiện diện trong sự thực hành này.
Đối
với phái Hệ Quả, quan trọng là phải hiểu rằng những hiện
tượng chỉ hiện hữu trên danh xưng và quy ước, mà không
là tự thân. Trong những giải thích khác, đặc biệt ở phái
Gelug, sự khám nghiệm bằng thiền định chỉ đem lại tính
chất vô tự tánh. Hành giả đặt mọi chú tâm vào đối tượng
phải bác bỏ, và khi cố gắng không mất một khoảnh khắc
nào lơ đãng, người ấy phải thấy điều được diễn dịch
thành từ ngữ sự phủ định không xác định. Một sự phủ
định không bao hàm điều gì thế chỗ. Không một xác định
nào. Đó là một điểm mà Trung Đạo xem là căn bản cho tánh
Không. Bha-vaviveka nêu rõ điều đó trong sớ giải về Trung
Luận của Nagarjuna. Ngài giải thích, trong câu đầu tiên của
chương một, rằng không có gì tự sinh, sinh từ một cái khác,
không phải không có nhân. Đó là điều Buddhapalita và Chandrakirti
cũng xác nhận.
Tuy
nhiên, trong đại toàn thiện, hành giả thiền định về tâm
thức căn bản của tịnh quang, bằng cách tập trung duy nhất
vào nguyên tố thuần túy quang minh và thông hiểu ; nhưng cái
mà người ấy khám phá ra không diễn dịch thành sự phủ
định không xác định.
Trước
khi đến giai đoạn này, hành giả theo những lời chỉ dạy
đã nhận được, thực tập để thấy tâm thức căn bản
hiện diện như thế nào. Người ấy dùng kỹ thuật “soi
thấu”, quan sát những tư tưởng đến từ đâu, trụ ở
đâu và đi về đâu. Trong loại thiền định này, người ấy
khám phá ra, đúng như giáo lý Trung Đạo đã tuyên thuyết,
rằng tâm thức không là thế này hay thế nọ và chứng ngộ
bản chất thực sự của nó là nó không có tự tánh.
Trong
sự thực hành soi thấu của Nyingma, sự tìm kiếm tánh Không
liên hệ đặc biệt hơn đến tâm thức, trong khi với Trung
Đạo, sự khảo sát nhắm vào ngã và pháp (hiện tượng),
bởi vì trong phái này, mọi hiện tượng phân thành “người
dùng sự vật” và “sự vật được dùng”. Những nhà Nyingma
đặt nhiều quan trọng vào tánh biết, vào tâm thức căn bản,
đặc biệt trong thực hành soi thấu. Trong Toát yếu chỉ đạo
thực hành. Aryadeva bình luận năm giai đoạn của Tantra Guhyasamaja,
là sự thực hành chính về tantra yoga tối thượng của những
tân phái và đặc biệt của phái Gelug. Về giai đoạn thứ
ba, gọi là “sự biệt lập tâm thức”, ngài xác nhận rằng,
trừ phi chứng ngộ bản tánh tâm thức là gì, thì người
ta không thể giải thoát. Ngài không hề nói rằng người ta
không thể giải thoát nếu người ta không thấu hiểu bản
tánh của con người hay của một chồi cây. Tóm lại, vấn
đề chỉ là loại bỏ cái huyền thoại có sự hiện hữu
tự thân, còn tâm thức, con người hay chồi cây đều cùng
nằm trong cùng một giáo huấn. Nếu ngài đặc biệt nhấn
mạnh vào sự chứng ngộ tánh Không của tâm thức, đấy đơn
giản chỉ vì ngài bình giảng giai đoạn biệt lập tâm thức
trong văn mạch của tantra yoga tối thượng. Thật giống như
Aryadeva, những nhà Nyingma đặt sự quan trọng lớn lao vào
bản tánh của tâm thức ; và chính trong khi lột bỏ tâm thức
trong thực hành soi thấu mà hành giả khám phá rằng tâm thức
có tính chất vô tự tánh.
Những
bản văn Nyingma không cho biết đích xác sự khám phá này diễn
dịch thành một phủ định xác định hay một phủ định
không xác định. Một vài học giả của phái này chủ trương
nó thuộc về cái trước, và có một số người cho rằng
đấy là một điểm bất đồng không lối thoát đối với
những ai chủ trương quan điểm một phủ định không xác
định. Nhưng vấn đề rắc rối hơn thế.
Trong
những giảng giải của mình, những nhà kinh điển cũng phân
biệt hai loại khảo sát : một về đối tượng và cái kia
về chủ thể. Trong loại đầu, người ta chiêm nghiệm một
hiện tượng như vô thường. Trong loại hai, chủ thể là hình
dung một nhân vật mà người ta tự đồng hóa với – tiến
trình này thường được dùng để phát triển từ bi.
Trong
thực hành Nyingma, khi người ta nhập định về tâm thức bí
mật, tâm thức gắng sức nhận ra bản tánh bí mật của tâm
thức và duy trì nó nhờ hình thức thiền định thứ hai. Khi
tâm thức bí mật tự nhận ra nó, nó đối diện với một
sự rõ ràng đơn giản. Để khám phá nó trong sự soi thấu,
bằng cách tìm hiểu nó đến từ đâu, trụ ở đâu và đi
về đâu, hành giả đã biết rằng tâm thức là vô tự tánh
; khi đồng hóa với cái hành giả chứng nghiệm anh ta biết
rằng tâm thức có đặc tính là không có hiện hữu tự thân.
Người ta có thể xem tiến trình này là phủ định xác định,
nhưng sự phủ định này không cùng bản chất với sự phủ
định của những nhà chủ trương Trung Đạo : sự phủ định
xác định của hình tướng được nhìn như huyễn hóa, nó
là một hỗn hợp của hình tướng và tánh Không. Cái này
ở một mức độ thô của tâm thức trong khi cái trước đòi
hỏi một tâm thức vi tế. Người ta càng tiến gần tâm thức
căn bản, thì những ý niệm càng ít có thể xâm chiếm môi
trường. Qua tiến trình này, tâm thức tinh tế dần cho đến
lúc đạt mức độ vi tế nhất, cực đỉnh trong tịnh quang.
Đối
với những tân phái, tri giác tịnh quang cũng kết hợp với
tri giác tánh Không. Theo sự diễn giảng của Norsang Gyatso,
học giả chứng đạo phái Gelug, vào khoảnh khắc chết, tịnh
quang Mẹ xuất hiện cho tất cả mọi người cùng với tánh
Không, nhưng người chưa nhập môn không chứng ngộ được
tánh Không. Với mọi người ngay cả với một con rệp, tri
giác thô, nhị nguyên tan biến vào lúc chết. Lúc ấy không
phải những tri giác quy ước tắt mất, mà là những hình
tướng thô hơn.