3
Con
đường giác ngộ
Những
Hóa thần : Đâu là sự bí mật của các vị ?
CON
ĐƯỜNG GIÁC NGỘ *
Bây
giờ tôi muốn nói với các bạn về con đường giác ngộ
theo Ba phương diện chính của con đường giác ngộ tối thượng
của Tsongkapa.
Trong
viễn cảnh một sự giải thoát khỏi vòng sanh tử, trước
hết phải nảy sanh lòng mong muốn thoát ra khỏi nó ; vậy
thì biểu lộ ý định ấy là bước đầu tiên trên con đường.
Nhưng cũng cần thiết trang bị cái thấy chính xác tánh Không
; và nếu hơn nữa, người ta hướng đến sự giải thoát
tối thượng và sự thực hiện trạng thái toàn giác của
Đại thừa, người ta phải nuôi dưỡng cái gọi là nguyện
vọng vị tha thuần khiết để trở nên giác ngộ, tức là
một tâm Bồ Đề.
Ý
chí muốn thoát khỏi sanh tử, cái thấy chính xác tánh Không
và tâm Bồ đề vị tha, đó là ba phương diện chánh của
con đường.
Trước
khi khởi sự lời giảng dạy, chúng ta thường quen làm tiêu
tan những chướng ngại. Theo truyền thống, ở Nhật cũng như
ở Tây Tạng, chúng ta làm điều đó bằng cách tụng Bát Nhã
Tâm kinh, gồm giáo huấn về tánh Không ; rồi để khuất phục
các sinh linh có ác ý và loại trừ những xen lộn khác, chúng
ta nhờ vào việc tụng đọc thần chú của một hóa thần
thịnh nộ, nhân cách hóa đức hạnh của trí huệ dưới hình
thức nữ giới. Thông thường, chúng ta đếm số lần trì
chú nhờ một chuỗi hạt, lần từ ngoài vào trong, để biểu
trưng sự hội nhập vào chúng ta những ân điển từ sự cầu
kinh ; nhưng khi xua đuổi những chướng ngại, chúng ta lần
hạt theo chiều ngược lại, hướng ra phía ngoài. Tiếp theo
là sự cúng dường mạn đà la, nhớ lại những công hạnh
cao tột đức Phật đã làm trong những đời trước của ngài
: trong bước tiến lên trên con đường, ngài đã hứng chịu
mọi thử thách, hy sinh thân thể, người thân, tài sản để
hiến mình cho việc nghe và thực hành những lời dạy. Vậy,
tỏ lòng tôn kính đức Phật, gương mẫu của sự hiến thân
quên mình, chúng ta dâng cúng một cách tượng trưng thân thể,
tài sản và năng lực tích cực của chúng ta. Chúng ta quán
tưởng một hình ảnh toàn thể vũ trụ, nó được tạo thành
từ cộng nghiệp của chúng ta, nhưng trong suốt sự thực hành
này, chúng ta tưởng tượng nó đầy những sự kỳ diệu,
trang hoàng bằng tất cả các phẩm tính và chúng ta dâng cúng
nó trong sự vinh quang này.
Rồi
để người dạy giáo lý và những người nghe giữ trong tâm
thức ý tưởng quy y và nguyện vọng thuần vị tha cứu độ
người khác, chúng ta đọc tụng ba lần đoạn kệ sau vừa
suy nghĩ ý nghĩa của nó :
Vào
khoảnh khắc này cho đến khi giác ngộ
Con
quy y Phật, Pháp và Tăng
Nhờ
năng lực thiện nảy sinh từ sự nghe Pháp
Mong
rằng con có thể thành tựu trong Phật tánh
Để
cứu giúp những chúng sanh lưu lạc.
Nếu
người ta yêu cầu một tham thiền và tư duy đi đôi với đọc
tụng, chính vì cần phải thâm nhập ý nghĩa, nhưng cũng bởi
vì những kết quả tốt của một hành động tốt cũng như
những hậu quả xấu của một hành động xấu đều tùy thuộc
vào động cơ của hành dộng đó. Thế nên những câu kệ
này là một sự mời gọi làm kiên cố ý nguyện thuần túy
không vướng mắc của chúng ta.
Để
chấm dứt nghi lễ này, trước khi trình bày giáo lý, chúng
ta tán thán Phật với một đoạn trích từ Trung Quán Luận
(Madhyamakashastra), mà một trong những vị thầy của tôi, Ku-nu
Lama Den-zin-gyel-sen là người khởi đầu :
Con
xin đảnh lễ đức Gautama
Do
lòng đại bi thuần khiết
Ngài
đã giảng dạy chánh pháp
Để
cởi bỏ những quan kiến sai lầm.
Hôm
nay, cái hội họp chúng ta lại ở đây chắc chắn là sự
lợi lạc mà chúng ta cùng chia xẻ đối với tư tưởng Phật
giáo, và cũng có lẽ là niềm hy vọng rằng những nỗ lực
của chúng ta sẽ được đền bù bởi một chút bình an hơn
và vài dừng nghỉ trong vòng khổ não. Chúng ta đã đến thế
giới này với một thân thể mà chúng ta phải nuôi dưỡng,
ăn mặc, bảo vệ tốt… nhưng sự an toàn vật chất không
phải là câu trả lời cho tất cả. Con người còn có những
nguyện vọng khác. Nếu những điều kiện đời sống chúng
ta được ưu đãi, nhưng khi tâm thức chúng ta lo âu, suy nhược,
chúng ta không thể hưởng thụ. Thế thì, bị thúc đẩy bởi
nhu cầu, chúng ta cảm thấy điều khẩn yếu phải tìm kiếm
cái bên trong chúng ta đang thiếu để được hạnh phúc, và
khi lấp đầy khuyết điểm này, chúng ta cũng tìm thấy sức
mạnh để vượt qua những đau khổ về vật lý. Bởi thế,
chúng ta hãy chú ý vào hoàn cảnh vật chất, hãy chăm sóc
cuộc sống bên ngoài, nhưng những đòi hỏi bên trong của
chúng ta cũng cần khá nỗ lực, vì chúng không kém thiết yếu
cho cuộc đời chúng ta. Văn minh Tây phương đã có một tiến
bộ đáng kể trên bình diện vật chất. Nếu nó cũng tỏ
ra dồi dào phong phú trong những kỹ thuật phát triển bên
trong bằng với khoa học kỹ thuật của nó, nó sẽ là người
tiên phong cho thế giới hiện đại. Khi con người chểnh mảng
trau dồi chiều kích này của hữu thể, nó tự biến thành
bánh xe của một bộ máy, trở thành nô lệ cho đồ vật ;
bấy giờ, nó chỉ còn là người trên danh nghĩa. Thế nên,
sau đây, chúng ta sẽ nói đến những phương tiện để hướng
đến một hạnh phúc bên trong và để khởi đầu cho công
cuộc tìm kiếm trong lãnh vực này.
Trong
lịch sử nhân loại, nhiều vị thầy đã xuất hiện. Kinh
nghiệm của các vị thì có uy tín, các vị lôi cuốn vào đường
lối của mình những người tìm kiếm một mức độ đời
sống bên trong phong phú hơn, soi sáng cho họ bằng những lời
khuyên bảo, dẫn dắt họ bằng những dạy dỗ. Trong những
triết học khác nhau góp phần vào kiến thức của nhân loại,
nổi bật khuôn mặt của vị thầy tối cao, đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, mà tôi sắp nói với các bạn đây.
Người
ta phân biệt trong giáo lý của ngài nhiều mức độ thực
hành, được xác định theo những khả năng của những đệ
tử. Có hai thừa phát ra từ đó : Tiểu thừa và Đại thừa.
Trong cái sau, đức Phật đã vạch ra một hệ thống kinh điển
và một hệ thống châm ngôn tạo thành bản văn toàn bộ của
phương pháp. Người ta phân biệt chúng theo những lời dạy
đặc biệt từ hóa thân của Phật. Hơn nữa, bốn cách tiếp
cận khác biệt phát xuất từ lời dạy của Phật. Chúng ta
thấy lại chúng trong bốn phái tư tưởng, phái Đại Chú Giải
(Vaibha-shika), phái Kinh Điển (Sautrantrika), phái Duy Thức (Chitta-matra),
phái Trung Đạo (Madhyamika). Những giáo lý của hai thừa, của
bốn phái tư tưởng cũng như những hệ thống kinh và chú
gồm lại khoảng một trăm cuốn sách, được dịch phần lớn
từ sanskrit sang tiếng Tây Tạng. Khoảng gần hai trăm bộ chú
giải được các nhà thông thái Ấn Độ trước tác, và cũng
được dịch sang tiếng Tây Tạng. Những trước tác trình
bày bốn phần chính : những bản văn về giới luật – nghiên
cứu những thực hành mà chúng ta có chung với Tiểu thừa
–, những bản văn về trí huệ ba la mật, một tuyển tập
các kinh, và một phần về tantra. Theo cuốn Vajrapanjara, những
giải thích tantra, hệ thống tantra chia thành bốn loại : hoạt
động, thực hiện, yoga và tantra yoga tối thượng.
Những
hệ thống kinh và tantra – Tiểu thừa và Đại thừa – phổ
biến rộng rãi ở Tây Tạng ; những sự khác biệt nhỏ xuất
hiện tiếp theo trong giải thích và phương pháp luận ; chúng
do những phương pháp truyền thọ khác nhau bởi vài vị thầy
và do cách dùng ngữ vựng triết học của các vị. Ngày xưa,
Tây Tạng đã biết một chùm sao trường phái, nhưng hiện
nay, bốn phái lớn nắm giữ toàn bộ giáo lý : Nyingma, Sakya,
Kagyu và Gelug là những hậu duệ của dòng đức Phật, chúng
bảo tồn lời dạy của Phật tới ngày hôm nay. Mỗi phái
có những tính cách riêng, nhưng dù có những nét riêng đó,
chúng cũng phát xuất từ cùng một tư tưởng. Bản văn chúng
ta sắp nghiên cứu bây giờ, Ba Phương Diện chính của Con
Đường, là một lối đi do ngài Tsongkapa (1357-1419) đề nghị,
trong đó những giai đoạn phức tạp của con đường được
quy lại trong ba lối lớn để thâm nhập. Mặc dầu tác phẩm
này mang tầm vóc của một toàn tập tổng hợp những kinh
điển, phải thấy rằng nguồn gốc chính của nó là những
kinh điển về Trí Huệ rốt ráo. Đây là lý do tại sao bản
văn liên hệ đến hệ thống Bát Nhã. Những kinh điển chứa
đựng lời dạy hiển nghĩa về tánh Không và lời dạy mật
nghĩa về những cấp độ của con đường. Mỗi cái trong ba
phương diện chính khảo cứu cái thấy đúng thực về thực
tại phát xuất từ những lời dạy hiển nghĩa về tánh Không.
Trong Đại thừa, cái thấy đúng thực được trình bày trong
sự giải thích của hai phái Duy Thức và Trung Đạo. Bản văn
của Tsongkapa chỉ dựa trên Trung Đạo, và rõ ràng trong hai
phụ phái của phái Trung Đạo này, ngài đã chọn phái Hệ
Quả (Prasangika) mà bỏ qua một bên phái Tự Trị (Svatantrika).
Vậy tất cả những gì liên quan đến tánh Không đều được
nghiên cứu theo quan điểm phái Hệ Quả. Hai phương diện khác
của con đường – ý chí để vượt khỏi sanh tử luân hồi
và tinh thần giác ngộ vì người khác – thì phát xuất từ
những lời dạy mật nghĩa của những kinh Trí Huệ rốt ráo,
khảo sát những con đường và những cấp bực dẫn đến
sự giác ngộ. Hai loại bình giải những kinh Bát Nhã ba la
mật đã xuất hiện : kiểu mẫu giải thích truyền đến cho
Nagarjuna (Long Thọ) bởi Manjushri (Văn Thù) nhắm vào lời dạy
hiển nghĩa về tánh Không, và kiểu mẫu được truyền đến
cho Asanga (Vô Trước) bởi Maitreya (Di Lạc) về lời dạy mật
nghĩa những cấp độ của con đường. Kiểu mẫu thứ hai
này được trình bày trong bản văn gốc của Maitreya, Trang
sức của Chứng Ngộ (Abhisamaya-lamkara). Nó gồm tám chương,
ba chương đầu bình giải ba sự hiểu biết siêu việt, bốn
chương tiếp diễn tả những kỹ thuật của bốn sự tu hành,
trong khi chương thứ tám dành cho Pháp Thân liên hệ với Quả.
Sự nghiên cứu đối chiếu hai bản văn cho thấy, trong Trang
sức của Chứng Ngộ, Maitreya đã được cảm hứng từ những
kinh Bát Nhã ba la mật cho phần giáo huấn mật nghĩa của ngài
về những giai đoạn của con đường.
Giáo
huấn ba phương diện chính của con đường đòi hỏi phải
được nghe không chỉ với ý định rút ra từ đó vài lợi
lạc cho cá nhân, mà còn bởi vì nó đem lại sức khỏe và
hạnh phúc cho tất cả, trong tất cả mọi chiều kích của
không gian, bởi vì thực ra tất cả mọi người đều mong
cầu được hạnh phúc và không khổ đau.
Bây
giờ là bản văn, và như lệ thường đoạn mở đầu tập
sách biểu lộ lòng tôn kính với cái gì gây cho chúng ta cảm
kích nhất, Tsongkapa đã chọn giữa những đối tượng để
tôn kính khác, để tuyên dương “những vị Lạt ma hiền
thánh và cao quý”, bởi vì chính nhờ các ngài mà ba phương
diện chính của con đường được thành hiện thực. Để
hành xử với tư cách Lama, không chỉ mang danh hiệu rất cao
trọng này, mà phải có những khả năng nằm trong ba từ “cao
quý” (rje), “thánh” (btsun) và lama (bla-ma). Người ta đánh
giá “cao quý” là người không lấy hiện tại làm mối lo
toan trước tiên, mà chủ yếu quan tâm đến sự trở thành
và những vấn đề sâu xa. Cái nhìn của người ấy vượt
xa cái nhìn của người bình thường, viễn cảnh của người
này chỉ giới hạn trong những bó buộc gia đình trong cuộc
đời thường nhật. So với họ, người ấy được nhìn như
một nhà tiền phong, một người hướng dẫn cao quý. Người
ta gọi là “thánh “ bởi vì, tách lìa khỏi mọi hình thức
có thể có của đời sống trong vòng sanh tử, người ấy
không bị chóa mắt nữa bởi những điều kỳ diệu của thế
gian ; chỉ có sự giải thoát có sức hấp dẫn với người
ấy. Tinh thần của một bậc thánh – hay của một nữ thánh
– chẳng chờ đợi gì từ bên ngoài. Nó hoàn toàn quay về
bên trong. Danh từ lama được tạo bằng hai âm, âm đầu la
nghĩa là cao, và âm sau ma nghĩa là bài trừ, đem lại cho từ
ngữ này ý nghĩa “không ai cao hơn người ấy”. Đó là trường
hợp vị lama đã vượt qua lòng thương mình để đến với
lòng thương người, vượt qua những mục tiêu cá nhân nhỏ
hẹp để đến ước muốn độc nhất là thành tựu ở mức
độ cao nhất cho lợi lạc của tất cả.
Khi
người ta tiếp xúc với Đại Bình Giải những Giai Đoạn
của Con Đường (Lam rim chen mo), một tác phẩm khác của Tsongkapa,
những từ cao quý, thánh và lama thuộc về theo thứ tự những
con đường của cá nhân ở “khả năng thấp”, ở “khả
năng trung bình” và ở “khả năng cao”. Với người đã
có ba cấp độ thành tựu này, người ta gọi là “lama hiền
thánh và cao quý”.
Một
lama vào ban đầu của thời đại Phật giáo ở Tây Tạng có
tư tưởng đặt mối liên hệ giữa ba từ để tôn vinh này
với ba cấp độ của con đường để nói lên đặc tính của
một lama, nhưng không nhất thiết phải gán cho các vị ý nghĩa
này một cách có hệ thống. Trong những bản văn Phật giáo,
giải thích những chữ theo văn cảnh thì thích đáng, nếu
không người ta sẽ bị mắc rối trong việc hiểu một bản
văn. Sự tôn vinh của Tsongkapa đối với những lama hiền thánh
và cao quý là một dấu hiệu kính trọng đối với các ngài.
Giữ lòng kính trọng đối với vị thầy là một điều kiện
cần thiết để sự thể nghiệm ba phương diện trên biểu
hiện trong dòng sống của chúng ta. Khi người ta nghiên cứu
những vần của từ “tôn kính” trong tiếng Tây Tạng, chúng
diễn tả sự kiện “muốn cho một tình trạng không bị đổi
thay hay quẹo qua ngã khác”. Vậy ở đây tác giả biểu lộ
ước mong rằng ba chủ đề của giáo lý được là đối tượng
cho một sự thấu hiểu không dời đổi, không chuyển hướng.
Tsongkapa
có nhiều vị thầy. Ngài được những lama phái Nyingma, Kagyu
và Sakya chỉ dạy, chưa kể đến mối liên lạc đặc biệt
với Manjushri (Văn Thù Sư Lợi), mà ngài đã nhận ân điển
để chứng ngộ cái nhìn trực tiếp, toàn triệt về tánh
Không thậm thâm. Hơn nữa tinh túy những lời dạy của Manjushri
chính là nguồn gốc của phương pháp tổng hợp đặc biệt
này, trong đó mọi giáo lý về con đường được gồm trong
ba chủ đề căn bản. Bởi thế chính những vị chân sư này
mà ngài nói lên lòng tôn kính của tác giả ngay trong dòng
đầu tiên :
Đảnh
lễ những Lama hiền thánh và cao quý rồi ngài bắt đầu đưa
dẫn vào tác phẩm:
Tôi
sắp giảng giải cho các bạn ở mức độ tốt nhất mà tôi
có thể
Nội
dung chính yếu của mọi kinh điển của bậc Chiến Thắng,
Con
đường mà những con trai và con gái tuyệt hảo của bậc Chiến
Thắng ngợi ca,
Bến
cảng của những người may mắn khát khao giải thoát.
Người
ta có thể thấy rõ ba câu cuối của đoạn này quy về cùng
một ý niệm ; bấy giờ phải đọc : “Nội dung chính yếu…
nó là con đường mà những con trai và con gái tuyệt hảo của
bậc Chiến Thắng ngợi ca, nó là bến cảng của những người
may mắn khát khao giải thoát.” Trong một cách soi sáng khác,
người ta có thể còn thấy một hàm ý đến ba phương diện
chính. Cái “chính yếu của mọi kinh điển của bậc Chiến
Thắng” hiểu ngầm là ý chí giải thoát khỏi vòng sanh tử.
“Con đường mà những con trai và con gái tuyệt hảo của
bậc Chiến Thắng ngợi ca” và “bến cảng của những người
may mắn khát khao giải thoát” là cái thấy đúng đắn tánh
Không. Do đâu câu nói : “Cái chính yếu của mọi kinh điển
bậc Chiến Thắng đã nói” liên hệ đến ý chí giải thoát
khỏi vòng sanh tử ? Như Tsongkapa đã nói trong Tán dương Duyên
Sanh :
Những
lời dạy vô số của Ngài đặt nền duy nhất trên duyên sanh
Và
chúng được thuyết để dập tắt mọi khổ đau trong chúng
ta.
Không
có gì nơi ngài không hướng về An Lạc.
Tất
cả những lời dạy của đức Phật nhằm làm cho chúng ta
đạt đến giải thoát khỏi vòng sanh tử ; Ngài đã không
dạy cái gì không hướng đến an lạc. Bởi vì ý chí muốn
thoát khỏi vòng sanh tử là viên đá nền móng của con đường
được lót bằng những phương tiện toàn hảo, từng bước
dẫn đến giải thoát, nó tạo thành “nội dung chính yếu
của mọi kinh điển của bậc Chiến Thắng”.
Câu
tiếp theo : “Con đường mà những con trai và con gái tuyệt
hảo của bậc Chiến Thắng ngợi ca”, những từ “những
con trai và con gái tuyệt hảo của bậc Chiến Thắng” (Jinaputra)
để chỉ những Bồ tát, những người sinh từ lời nói của
đức Phật – bậc Chiến Thắng – và “con đường mà các
vị đó ca ngợi”, đó là ý định vị tha trở thành giác
ngộ ; bằng cách kích hoạt khả năng giúp đỡ người khác,
trạng thái tâm thức này làm cho một người bình thường
thành một bồ tát. “Bến cảng của những người may mắn
khát khao giải thoát” là hải cảng người ta đạt đến
bằng cái thấy đúng đắn về tánh Không, bởi vì nó cho chúng
ta thấy cái giải thoát chúng ta khỏi vòng sanh tử. Trong tác
phẩm Bốn trăm của Aryadeva, ngài nói đến nó như là “cánh
cửa vô song của bình an”. Sự giải thoát chỉ xảy đến
sau khi chúng ta đã loại trừ những phiền não ; để có được
kết quả này, chúng ta phải đánh thức cái đối trị tương
xứng trong dòng sống của chúng ta : cái thấy đúng đắn cho
phép chứng ngộ tánh Không, sự vô tự tánh của tất cả
hiện tượng. Tiếp theo, chúng ta quen với cái thấy này về
thế giới. Không có cái thấy đúng thực về tánh Không, chúng
ta không có cơ may nào để giải thoát khỏi vòng sanh tử,
cho dù chúng ta rất tiến bộ ở những mặt khác.
Khi
Tsongkapa tuyên bố trong đoạn đầu ngài sắp giải thích ba
chủ đề “ở mức độ tốt nhất, hết sức”, người ta
có thể nghĩ rằng ngài biểu lộ một thái độ khiêm nhường
trước công việc đang làm, nhưng người ta cũng có thể thấy
ở đó sự lo ngại của ngài khi cần diễn tả ngắn gọn
nhất có thể được trong sự giải thích ba chủ đề. Thật
vậy, khi Tsongkapa viết Ba Phương Diện chính của Con Đường,
ngài đã, và từ lâu, phát triển ý chí muốn thoát khỏi vòng
sanh tử, ý định vị tha đạt đến giác ngộ và cái thấy
tánh Không – điều mà bản văn sáng chói trong phái Hệ Quả
chứng tỏ. Ngài cũng đạt được giai đoạn hoàn thành của
tantra yoga tối thượng ; và nếu quy chiếu theo tantra Guhyasamaja,
trong năm cấp độ của giai đoạn thành tựu này, người ta
định vị mức độ của ngài ở giữa cấp độ thứ nhất,
cấp độ “biệt lập về lời nói” và cấp độ thứ hai
“biệt lập về tâm thức”.
Trong
giai đoạn tiếp theo, Tsongkapa cổ vũ những người là những
bình chứa hoàn hảo của giáo lý hãy nghe lời dạy của ngài
:
Các
bạn không bị treo vào tham dục
Của
đời sống trong thế gian
Các
bạn sẵn lòng khai thác trọn vẹn
Những
khả tính và cơ may
Các
bạn có xu hướng theo đuổi con đường
Mà
đức Phật chiến thắng ưu ái nhất,
Hỡi
những người may mắn, các bạn hãy lắng nghe với tâm trong
sáng.
Ở
đây ba chủ đề vẫn còn áp dụng vào ba phương diện chính
của con đường. Sự lìa thoát những tham dục của cuộc đời
bình thường liên hệ với ý chí thoát khỏi vòng sanh tử.
Sự kiện rút được phần tốt nhất trong những khả tính
và dịp may gợi ý rằng, khi người ta làm nảy sanh ý định
vị tha đạt đến giác ngộ, những đặc ân này của thân
phận làm người của chúng ta lấy lại đầy đủ ý nghĩa
của chúng và được sử dụng tốt đẹp. Ý thích đối với
con đường ưu ái của đức Phật chiến thắng nói lên tính
cách người nhiệt thành dấn mình vào thiền định để thể
nghiệm cái thấy đúng đắn về tánh Không. Khi sử dụng con
đường hoàn hảo dẫn đến giải thoát, người ấy hoàn thành
trọn vẹn mục đích, là lý do đức Phật đã chỉ ra con đường.
Người nghe đủ tư cách nhất để nghe bản văn này là người
đối với ba phương diện chính biểu lộ một sự quan tâm
sâu xa, một đà tiến từ trái tim, và tác giả kêu gọi họ
như thế này : “Hỡi những người may mắn”. Bây giờ Tsongkapa
giải thích tại sao cần thiết phải làm nảy sanh ý chí muốn
thoát khỏi sanh tử :
Bao
giờ chưa nảy sanh ý chí chán nản
Để
vĩnh viễn từ bỏ vòng sanh tử luân hồi
Thì
không thể tính đến sự chấm dứt việc theo đuổi
Những
làn sóng tham dục trong đại dương đời sống.
Cũng
thế sự khao khát cháy bỏng vòng sanh tử
Giữ
chặt con người nhập thân trong những sợi dây ràng buộc
của nó.
Thế
nên ngay từ đầu người ta phải có ý chí
Muốn
cắt đứt với vòng sanh tử bất tận.
Nếu
quyết tâm của chúng ta không toàn triệt, lòng ham muốn cứ
lập lại những kinh nghiệm lạc thú trong đại dương sanh
tử không có cơ may chấm dứt. Sự mê hoặc của vòng sanh
tử lôi kéo hoàn toàn những chúng sanh “nhập thân” – từ
này gợi ý thân thể tạo thành từ xác thịt. Từ đó là
sự quan trọng của quyết tâm sâu xa lìa bỏ sanh tử một
khi người ta bắt đầu con đường. Như Aryadeva đã nói : “Làm
sao bạn muốn được rằng một người không mệt mỏi chán
nản với sanh tử có thể đắm mình trong sự an định của
tâm thức ?”
Người
không bao giờ mệt mỏi với quang cảnh của vòng sanh tử thì
không thể thể hiện lòng ham muốn giải thoát khỏi nó. Trước
khi một tư tưởng như thế chín muồi trong tâm thức, cần
phải hiểu những lợi lạc của sự giải thoát và những
tai hại của sanh tử.
Dharmakirti
nói đến thế giới hiện tượng như là một gánh nặng những
uẩn thuộc về tâm và thân, xác định rằng những uẩn này
được tích tập dưới sức ép của những hành động nhiễm
ô bởi nọc độc của phiền não. Vòng sanh tử không định
vị trong không gian. Nó không ở đâu khác ngoài chính trong
chúng ta ; về phần những uẩn hợp thành thân và tâm, bởi
vì chúng là hậu quả những hành động nhiễm ô và phiền
não thoái hóa đã mắc từ trước, chúng ta không có quyền
đối với chúng. Điều ấy muốn nói rằng, mặc dầu sự
khao khát lạc thú và sự ghét bỏ khổ đau của chúng ta, thì
khổ đau vẫn thúc gót chúng ta và lạc thú vẫn trốn thoát
chúng ta ; đó là do sự kiện thân tâm chúng ta phải tuân thủ
những phản ứng đã bị điều kiện hóa bởi những hành
động và phiền não quấy rối của quá khứ. Ngay khi chúng
ta mặc những uẩn ô nhiễm này vào, chúng ta bắt đầu khổ
đau ; và không chỉ chúng là chỗ dựa cho sự đau khổ hiện
tại, mà chúng còn khởi dẫn những khổ đau sẽ tới.
Chúng
ta đánh giá quá cao cho những gì mà chúng ta xem như của mình
; và cái gì thuộc về “thân tôi”, “hợp thể năm uẩn
thân tâm tôi”, chúng ta còn bám chấp hơn nữa. Tuy nhiên,
cái tài sản quá thân quý này bị đóng vào con dấu của khổ
đau : sanh, già, bệnh và chết là những vết thương mà những
hợp thể bị nhiễm ô này của thân tâm mời gọi, thế mà
chúng ta bám giữ chúng biết bao nhiêu dù cho mặt trái không
đáng ưa của chúng.
Có
không một kỹ thuật, sự can thiệp phẫu thuật nào để giảm
bớt khổ đau ? Đó là những câu hỏi mà chúng ta phải tự
đặt ra. Các hợp thể này phát sanh từ những nguyên nhân
? Có phải chúng không có nguyên nhân chăng ? Nếu chúng không
tùy thuộc những nguyên nhân, chúng không thể biến đổi.
Chúng
ta biết chúng biến đổi, và đó là bằng chứng chúng không
thể sanh ra mà không có những nguyên nhân. Tâm và thân đến
từ nguyên nhân chất thể và những duyên cộng tác khác biệt.
Dưới ảnh hưởng của những phiền não, tâm thức chúng ta
đẩy chúng ta phạm vào những hành vi chúng gieo rắc vào tâm
thức những xu hướng, kêu gọi những kiếp tương lai trong
vòng luân chuyển. Đó là tiến trình nhiễm độc trong đó
những hợp thể thân tâm của chúng ta thừa hưởng một tánh
chất khổ đau. Hiện giờ chúng ta sử dụng một tâm thức
và một thân xác, và sẽ như thế cho đến khi đạt đến
Phật tánh ; nhưng trong lúc này, trong khuôn khổ vòng sanh tử,
những điều kiện chủ trì sự thành lập thân tâm thì bắt
rễ trong một tiến trình tập nhiễm, liên kết với sự thiếu
kiểm soát tâm thức và những hành vi tiếp theo. Vậy thì những
hợp thể cấu tạo thân tâm có khả năng rời lìa khỏi tiến
trình nhân quả ô nhiễm, và do đó, cắt đứt với tánh chất
của khổ đau ; như thế, dòng tương tục của chúng tự duy
trì trong một hình thức thanh tịnh.
Để
cho các hợp thể không phải chịu đựng sự tập nhiễm được
nuôi dưỡng bởi những hành vi (karma) và những phiền não
thoái hóa, một mặt phải ngừng việc thu thập những hành
động mới thuộc loại này và mặt khác ngừng nuôi dưỡng
những phiền não đến từ những khuynh hướng đã tích tập
trong quá khứ.
Điều
kiện cần thiết là sự rút lui khỏi những phiền não độc
hại. Trong Kho Tàng của Trí Huệ (Abhidharmakosha), Vasubandhu nói
với chúng ta như vầy : “Những gốc rễ của sanh tử được
tạo thành bởi sáu yếu tố vi tế của sự tập nhiễm”.
Trong bản văn này, đó là năm cái thấy và năm sự mù lòa
; năm cái thấy rút lại thành chỉ một cái, nó kết hợp
với năm phiền não mù lòa, thành sáu nguồn gốc của phiền
não căn bản : tham, sân, kiêu, nghi, cái thấy nhiễu loạn và
si mê. Nhưng nguồn cội của các tác nhân gây rối này là
vô minh. Nó được định nghĩa theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng
theo Trung Đạo, phái trổi vượt nhất, thì vô minh là ý niệm
sai lầm về một hiện hữu tự mình. Sức mạnh của ý tưởng
sai lầm này tạo đà cho mọi phiền não khác. Khi người ta
dấn thân vào một tìm kiếm phân tích để xem vô minh có gắn
liền hàm ẩn trong bản tánh của tâm thức, người ta đi đến
cùng một kết luận với Dharmakirti rằng : “bản tánh của
tâm thức là ánh sáng trong suốt ; những dơ nhiễm chỉ là
ngoại lai”. Bởi vì những khuyết điểm không nằm trong bản
tánh của tâm thức, nên có thể loại trừ chúng ra và để
làm thế, cần kêu gọi đến một đối trị tương xứng.
Tư tưởng sai lầm cho rằng tất cả đều thực sự có thật
đã ăn rễ sâu trong chúng ta, nhưng nó không đặt nền tảng
trên một cái gì có giá trị. Cái đối nghịch của nó, sự
chứng ngộ rằng không có gì hiện hữu tự mình, mặc dầu
trái ngược với cái thấy biết bình thường của chúng ta
về thế giới, lại tự chứng minh bằng lý luận. Thật vậy,
cái thấy này đặt nền trên một lý luận khắt khe, và khi
người ta quen với tiến trình phân tích chúng tỏ sự vững
chắc của nó, bấy giờ trí huệ tiềm ẩn vốn có bèn tỉnh
thức, chính cái này đánh bại vô minh.
Vô
minh trình diện cho chúng ta những hiện tượng như thể chúng
hiện hữu tự chúng. Trí huệ phát giác cho chúng ta chúng không
hiện hữu riêng biệt, chúng là vô tự tánh. Đó là hai cách
trái nghịch nhau để hiểu cùng một đối tượng quan sát
; nhưng trong khi một cái thì vững vàng đúng đắn và từ
một biện minh lý luận, cái kia lại chẳng đặt trên cái
gì có giá trị. Nó ngộ nhận trong những ý niệm của nó.
Khi người ta khắt khe trong tư tưởng mình, trí huệ sẽ chiếm
lĩnh trận địa và vô minh rút lui, kinh nghiệm chứng tỏ điều
này. Bao giờ không có gì làm đứt đoạn sự tập trung tâm
thức, thì sự thấu hiểu vẫn vững chãi, nghĩa là sự chứng
ngộ vẫn tiếp tục hoạt động mà không cần phụ thêm một
cố gắng nào khác. Điều này cho phép kết luận rằng trí
huệ cho phép chứng ngộ vô ngã không chỉ có thể thức dậy,
mà còn trải dài vô hạn, nếu chúng ta nuôi dưỡng nó. Một
khi nó bừng nở, trước tiên nó kéo theo một sự tàn lụi
dần dần ý niệm về sự hiện hữu nội tại, rồi là sự
biến mất một cách thuần khiết và đơn giản của ý niệm
đó. Những khổ nhọc và bất toàn bấy giờ tan biến trong
trường của cái thực ; chúng không hiện hành nữa trong lãnh
vực thực tại thuần khiết : người ta gọi trạng thái này
là sự giải thoát, bởi vì những méo mó tạm thời đã giải
tan dưới ảnh hưởng cái đối nghịch của chúng. Để chứng
minh rằng giải thoát có thể thực hiện được, người ta
căn cứ trên sự khám nghiệm rằng tâm thức có một bản
chất trong sáng và thấu hiểu thuần khiết. Nói cách khác,
người ta đạt đến giải thoát khi thấu hiểu bản chất
thật sự của tâm thức mình. Giải thoát không đến với
chúng ta từ một nguồn bên ngoài. Không ai cho chúng ta cái
ấy. Một khi giải thoát, người ta cũng vượt khỏi những
phiền não thoái hóa ; chúng không xuất hiện nữa dầu hoàn
cảnh có thế nào, và do đó chúng ta không còn tích tập nghiệp.
Tiến trình giải thoát như vậy tùy thuộc vào sự rút lui
khỏi những vọng động phiền não, mà đầu hết là vô minh
; đến lượt nó, nó cũng bị loại trừ bởi cái đối nghịch
của nó là trí huệ. Nhưng trí huệ chỉ phát triển khởi
từ lúc ý chí muốn thoát khỏi sanh tử nảy sanh ; không có
cái đà này, không thể tiến về phía trước.
Bởi
thế ý định lìa bỏ vòng sanh tử là một yếu tố quyết
định lúc ban đầu. Rồi thì, khi hiểu ra những tai hại của
nó, sự mê hoặc mà thế gian tác động lên chúng ta dịu bớt
đi, để nhường chỗ cho nguyện vọng vượt thoát nó. Khi
ước muốn này lớn dần, chúng ta vận dụng những cố gắng
cần thiết vào sự thực hành những kỹ thuật để cắt đứt
vòng xích này. Đoạn sau diễn tả tiến trình cho phép trau
dồi thái độ ấy :
Khả
tính và dịp may hiếm khi gặp nhau.
Cuộc
đời thì phù du
Trau
dồi những tư tưởng này,
Sự
luyến ái vào những hình tướng của cuộc đời này sẽ đảo
ngược lại.
Khi
người ta quen với ý tưởng “những khả tính và những dịp
may hiếm khi gặp nhau” và “cuộc đời thì phù du”, sự
hấp dẫn mà những hình tướng trong cuộc đời này tác động
lên chúng ta sẽ đảo ngược. Trong bài văn này, ý chí thoát
ly vòng sanh tử phải sanh ra theo nhiều mức độ, bởi vì cần
loại trừ những tham chấp vào những hình tướng trong cuộc
đời này, rồi trong những đời tương lai nữa. Trong Đại
Bình Giải những Giai Đoạn của Con Đường, Tsongkapa diễn
tả một cách riêng rẽ những thực hành thích hợp với những
người có khả năng thấp và trung bình cũng như những kết
quả tạm thời mà người ta có thể trông đợi ở chúng.
Trong khi, trong Ba Phương Diện Chính, tất cả những thực hành
này hòa lẫn thành một, nhằm kích phát ý định thoát ly vòng
sanh tử.
Luyến
chấp cuộc đời này là vô ích, vì dầu chúng ta có sống
đến trăm năm, một ngày nào đó chúng ta cũng phải chết,
và thế là chấm dứt cái hy vọng vào cuộc sống này. Hơn
nữa, chúng ta không biết phút giây nào mình chết, nó có thể
đến bất cứ lúc nào. Bấy giờ, cuộc đời này sẽ tan rã,
và dù có đông thân bằng quyến thuộc, dầu có sung túc bao
nhiêu, cũng bất lực, vô vọng. Chúng ta sẽ dùng những tài
sản của mình để làm gì ? Chúng ta không thể tự kéo dài
đời mình ; ngay dù chúng ta có hàng tỷ trong ngân hàng, chúng
cũng không thể nào giúp chúng ta. Chúng ta phải bỏ lại tất
cả. Về mặt này, cái chết của một nhà tỷ phú cũng không
hơn cái chết của một con thú rừng hoang dã. Kiếm sống là
một cần thiết, nhưng chắc chắn không phải là một mục
đích. Dù có mọi sự tiến bộ, dù những lợi thế mà thời
đại này mang đến cho chúng ta, sự khổ đau vẫn tiếp tục
hiện hữu dưới vô vàn hình thức và trong nhiều lãnh vực.
Chỉ sự kiện đã được sinh ra đã kết án chúng ta phải
khổ.
Có
thật là thân phận con người là không tách rời với khổ
não ? Điều ấy không thể tránh được chăng ? Trong bối cảnh
hiện giờ của chúng ta, bao giờ chúng ta còn lệ thuộc vào
tiến trình tạo ra chúng ta, thì vâng, chính bản chất của
đời sống thì không thể tách lìa với khổ đau được. Nhưng
khi người ta nhờ đến suy xét luận lý, và người ta thấy
từ đó khả tính giải thoát biểu lộ, người ta nhận ra
rằng những phương tiện để chiến thắng những nguyên nhân
của cái xấu thì nằm trong tầm tay mình. Chỉ cần chúng ta
rút lui tâm thức mình khỏi những đam mê thoái hóa mà nó
đang vướng mắc. Trong trường hợp này, rõ ràng khổ đau
không nhất thiết tiềm ẩn trong thân phận con người.
Nếu
chúng ta biết sử dụng trí thông minh của mình, chúng ta có
mọi lý do để mãn nguyện ; ngược lại, nếu nó chỉ được
dùng để cho chúng ta ràng buộc với cuộc đời này, chúng
ta sẽ mất cơ hội khai thác những khả năng mạnh mẽ của
trí óc con người. Đấy cũng giống như đầu tư tài sản
mình vào một trò nhảm nhí vô nghĩa ; không gì buồn hơn khi
thấy tiềm năng trí óc kinh khủng này được phân phối cho
những mục tiêu vô bổ. Thế nên phải thấu rõ sự vô lý
của một thái độ như thế, trở lại với lý trí, phải
thấy rõ rằng dâng hiến tất cả cho những yếu tố thoáng
qua này là gần với sự loạn trí. Làm như vậy, sự mê hoặc
mà vòng sanh tử tác động lên chúng ta sẽ giảm dần và ý
chí lìa bỏ nó lớn dần.
Một
sự từ chối như vậy hoàn toàn không có nghĩa là chểnh mãng
những nhu cầu thiết yếu như tự nuôi sống mình, mà làm
thế nào bớt luyến chấp vào những thứ thuộc về cuộc
đời một cách nghiêm ngặt. Tóm lại, khổ đau không phải
là phần số đặc biệt của cuộc đời này : nó thấm nhuần
tất cả mọi hình thức của mọi cuộc đời tương lai, bởi
vì tất cả những kỳ diệu và những khả tính vô tận của
hệ thống phải kết thúc bởi sự tan rã.
Có
thể cuộc đời sắp tới của chúng ta sẽ tốt, nhưng sau
nó, một cuộc đời khác sẽ tiếp theo, rồi lại một cái
khác nữa. Luôn luôn chúng ta sẽ có những điều kiện ưu
đãi ? Không có gì chắc chắn cả. Thế nên, tốt hơn là tách
lìa khỏi những hình tướng hiện thời và không đặt hy vọng
vào những cuộc đời mai sau. Chớ mất một giây cái nhìn
rằng tất cả hiện hữu bị điều kiện hóa bởi những hành
vi và những tình thức nhiễm ô đều vô tự tánh, hoàn toàn
không bền chắc. Tsongkapa tiếp tục :
Nếu
các bạn nghĩ đi nghĩ lại
Đến
những hành vi, đến những hậu quả không thể tránh được
của chúng
Và
đến những thống khổ của vòng sanh tử,
Sự
tham luyến vào những hình tướng của những đời tương lai
sẽ đảo ngược.
Vô
số sự tái sanh chờ đợi chúng ta, xấu và tốt. Những kết
quả của hành động (nghiệp) không thể tránh được ; suốt
những đời quá khứ, chúng ta đã tích lũy những cách hành
xử xấu. Chúng ta sẽ không thoát khỏi kết quả của chúng,
trong đời này hoặc các đời sau. Cũng như một kẻ bất lương
bị cảnh sát truy tầm phải chờ lúc bị bắt một lúc nào
đó và bị kết án, chúng ta phải đến lượt mình giáp mặt
trong một ngày nào những hậu quả của hành động xấu của
mình, dù cho đến bây giờ chúng ta chưa bị bắt gặp. Khi
những hành vi xấu đã để lại những hạt giống dành sẵn
cho khổ đau, thế là sự thanh bình của chúng ta chấm dứt.
Những hành động không thể đảo ngược được. Một ngày
nào, chúng ta sẽ nhận biết những hậu quả của chúng.
Nếu
chúng ta không biết loại bỏ nghiệp xấu này, chôn dấu trong
tâm thức chúng ta dưới hình thức những hạt giống, chúng
ta ít có cơ hội để có được những tái sanh thuận lợi.
Phần nhiều, chúng ta sẽ khó thoát khỏi sự khổ đau không
thể tránh được của vòng sanh tử. Và nếu chúng ta nhìn
rõ cái tốt đẹp mà nó dâng tặng chúng ta, chúng ta sẽ khám
phá ra rằng, ngay cả ở đó nữa, sự khổ đau cũng hiện
diện, vì sớm hay muộn, cái ấy cũng tàn tạ. Chúng ta biết
ba hình thức của khổ trong vòng luân hồi này : sự khổ vì
chính cái khổ, sự khổ vì biến dịch và sự khổ ẩn dấu
trong sự điều kiện hóa.
Khi
người ta suy nghĩ về những kết quả không thể tránh được
của những lỗi lầm quá khứ và về tính cách thống khổ
của những cái đẹp trong vòng sanh tử, người ta bớt bám
níu vào cuộc đời hiện tại và những đời tương lai, và
lòng ham muốn vượt thoát lớn dần.
Khi
kết hợp hai chủ đề tư duy này (sự vượt qua những hình
tướng của cuộc đời này và sự vượt qua những quyến
rũ của thế gian nói chung), người ta làm nảy sanh ý chí giải
thoát khỏi vòng sanh tử.
Cái
khiến cho chúng ta khổ đau không đến từ bên ngoài, mà từ
dòng tâm thức riêng của chúng ta. Vì những xúc cảm xung đột
biểu lộ trong không gian trong sạch tự nhiên của tâm thức,
và thiếu kiểm soát, chúng ta tự để mình bị lôi cuốn theo
những hành vi bạo động, là những thứ phát sanh những khổ
đau tương lai. Khi những phiền não vừa khởi sanh, phải cực
kỳ tỉnh thức và trả những ý niệm này trở về trong không
gian tự nhiên của tâm thức để chúng tiêu tan, như những
đám mây tụ và tán trong bầu trời. Sự tắt mất của chúng
ngắt đi những xung động tác hại theo sau. Như Milarepa đã
hát : “Dầu cho chúng khởi sanh, chúng khởi sanh trong hư không,
dầu cho chúng tan biến, chúng tan biến vào hư không.” Chúng
ta hãy học để biết cách thức hiện hữu của những hiện
tượng, để phân biệt cái lầm lạc, để đối lại với
những vọng tưởng bằng một chung cục không thu nhận hầu
chúng tự tan mất trong không gian của cái thực.
Không
một niềm vui nào có thể có được bao giờ người ta còn
chưa là chủ nhân của tâm thức mình, và để đạt đến
đó, ý chí giải thoát khỏi vòng sanh tử là căn bản.
Những
kinh điển Phật giáo dạy rằng tâm thức không có khởi đầu,
điều đó khiến cho những kiếp tái sanh cũng không có khởi
thủy. Một khảo sát có phương pháp cho phép kết luận rằng
tâm thức không thể nào là nguyên nhân chất thể của vật
chất, và vật chất không thể nào là nguyên nhân chất thể
của tâm thức. Giả thiết độc nhất có thể chấp nhận
được về nguyên nhân chất thể của tâm thức chính là một
tâm thức trước đó. Chính như thế mà người ta chứng minh
nguyên lý của những kiếp quá khứ và vị lai.
Thế
đấy, các bạn hãy biết rằng mặc dù tất cả những thứ
các bạn có thể đã gom góp trong đời này, dù có là tỷ
phú, các bạn cũng không thể đem theo một phần trăm vào trong
cái chết. Bất kể số bạn bè của các bạn, không ai sẽ
theo bạn. Lúc ấy các bạn chỉ còn dựa trên sức mạnh của
công đức bạn, trên năng lực mà các bạn đã tích tập trong
những hành động công chính. Từ đó thấy được sự hiểm
nguy khi đầu tư toàn bộ vào trong những hoạt động thường
nhật giới hạn vào hiện tại. Vấn đề không phải là quay
lưng lại với đời sống vật chất mà chỉ hướng về sự
suy nghĩ đến những kiếp tương lai trong mọi thời gian, mà
là một nửa thời gian được cân nhắc, nếu các bạn đầu
tư 50% năng lực của mình cho những công việc hiện thời
và 50% để trau dồi bên trong.
Dĩ
nhiên là phải sống tốt, bao tử chúng ta cũng có quyền cầu
xin chúng ta, nhưng cuộc đời hiếm khi hy vọng vượt quá một
trăm năm : thật quá ít so với những đời sẽ tới. Điều
đó xứng đáng để khó nhọc suy nghĩ và sửa soạn. Đôi
khi phải biết bỏ bê những mục tiêu trước mắt.
Khi
người ta suy nghĩ về những phương diện quyến rũ của vòng
luân hồi, người ta thấy lộ ra tính chất khổ đau của chúng.
Chúng không phải là một nguồn suối lạc thú vô tận. Ví
dụ nếu bạn là người thừa kế độc nhất nhiều ngôi nhà,
khi bạn ở một nhà này, bạn không thể hưởng những cái
khác, và chúng phải để trống ; nếu bạn quyết định đổi
sang một nhà khác, thì cái đầu tiên đến lượt nó chẳng
là gì đối với bạn nữa. Hay giả sử bạn rất giàu và
có một số dự trữ thức ăn khổng lồ ; chỉ có một miệng
và một bao tử, bạn không thể ăn hơn mức độ mà một người
có thể nuốt. Nếu bạn ăn gấp đôi, bạn sẽ chết. Tốt
hơn hết là thiết lập những giới hạn ngay từ đầu và
cảm thấy thỏa mãn.
Không
thế, tham muốn làm bạn chạy theo cái này, còn muốn cái kia,
và các bạn không bao giờ đến chỗ thỏa mãn mọi ham muốn.
Ngay cả khi các bạn có cả thế giới dưới chân các bạn,
các bạn cũng không cảm thấy đủ. Tham muốn thì không bao
giờ đã cơn. Và hơn nữa, trong sự chạy tìm không cùng này,
có biết bao nhiêu là chướng ngại, thất vọng, khó khăn và
khổ đau ! Dục vọng quá độ không chỉ không thể thỏa mãn,
nó còn là một thứ dày vò khổ sở.
Lạc
thú và khổ đau có những nguyên nhân. Sự kiện chúng thay
đổi chứng tỏ rằng chúng tùy thuộc những nguyên nhân. Thế
nên các bạn chỉ có được lạc thú bạn muốn nếu các bạn
tạo ra những nguyên nhân của nó, và bạn giảm bớt khổ
đau bạn sợ khi bạn rời khỏi cái sanh ra nó. Ngay khi một
nguyên nhân của khổ đau được ghi vào trong dòng tâm thức
bạn, dầu cho bạn có ghê sợ phải chịu khổ, bạn cũng phải
trải qua nó. Trong mức độ lạc thú và khổ đau tùy thuộc
những nguyên nhân, chúng ta có thể biết tương lai dành cho
chúng ta điều gì, bởi vì những điều kiện của những đời
tương lai tùy thuộc vào những công việc và tư tưởng hiện
tại của chúng ta. Khi người ta thấy sự việc dưới góc
độ này, người ta thấu hiểu rằng mỗi khoảnh khắc người
ta đều đang tích tập đủ loại nghiệp – hành động –
chúng sẽ đè nặng lên những tái sanh tương lai của chúng
ta ; và chúng ta có thể diễn dịch rằng, nếu chúng ta không
áp dụng một phương pháp để chấm dứt những nguyên nhân
quyết định tiến trình sanh tử, chúng ta sẽ không lìa khỏi
khổ đau.
Sự
quan sát những hợp thể cấu thành thân tâm phát hiện chúng
được tạo thành bởi những hành động và tình cảm nhiễm
ô. Những nguyên nhân trước kia mà chúng tùy thuộc thì bất
tịnh, chúng thừa hưởng từ một tình trạng khổ đau quá
khứ, và chúng chịu đựng khổ đau ấy không chỉ trong tình
trạng hiện tại, mà chúng còn cảm ứng, dẫn dắt nó đến
tương lai. Chúng ta biết khổ đau từ lúc sanh ra, nó trải
dọc theo tuổi thơ chúng ta và theo chúng ta đến hết cuộc
đời, vì với sự già nua là sự giảm sút vật lý, không
thể cử động, nghe và nhìn rõ, chưa kể đến một ngàn lẻ
một thứ hành hạ của tuổi già ; và cuối cùng, sự khổ
đau của cái chết ập tới. Nhưng giữa sanh và chết, chúng
ta cũng không được ngơi nghỉ : chúng ta bị đối diện với
bệnh tật, chúng ta không có điều chúng ta muốn, hay chúng
ta có điều chúng ta không muốn. Tất cả chứng tỏ rằng
những uẩn hợp thể của thân tâm là miếng đất của khổ
đau.
Có
phải lời dạy này là bi quan không ? Hoàn toàn không. Càng
ý thức về khổ đau, người ta càng nỗ lực để chiến thắng
nó. Ví dụ, các bạn mệt nhoài vì làm việc năm ngày một
tuần để có thêm tiền, để nâng cao mức sống… Từ tuổi
trẻ, các bạn phải khó nhọc để về sau hưởng được một
cuộc đời dễ chịu. Để có một ít tiện nghi hơn, chẳng
phải các bạn không chịu vài hy sinh ? Sự kiện nhận biết
khổ đau đem bạn đến gần sự giải thoát nó giải phóng
bạn. Điều đó xứng đáng để suy nghĩ. Bạn chẳng thể
vui với ý nghĩ rằng trong những đời tới, bạn lại nhận
cái loại thân tâm này, bị điều kiện hóa bởi những hành
động và thức tình ô nhiễm. Hãy miệt mài hơn nữa để
nhận ra một trạng thái trong đó những chỗ nương dựa của
khổ đau này đi đến chỗ hoàn toàn tịch diệt. Không gian
của thực tại, cái vô hạn trong đó mọi bất toàn khốn
khổ tắt mất, đó là cái người ta gọi là giải thoát. Chúng
ta không chỉ phải buông bỏ những hình tướng trong đời
hiện
tại này, mà còn cả những hứa hẹn quyến rũ của những
đời sau, vì bao giờ chúng ta còn dính liền với những hợp
thể nhiễm ô, chúng ta sẽ không biết thế nào là bình an
đích thực. Đó là những sự tai hại của vòng sanh tử mà
người ta phải không ngừng nhớ đến, vì chúng thức tỉnh
lòng ước ao được từ bỏ nó và chúng cũng cho chúng ta mùi
vị giải thoát.
Trong
tiến bộ này, cần phải phối hợp thiền quán phân tích và
thiền định tịch tĩnh. Các bạn hãy bắt đầu bằng phân
tích những biện luận làm mạnh thêm ý chí thoát vòng sanh
tử, rồi khi một xác tín chắc chắn trào dâng trong các bạn,
hãy ở yên trong sự hiểu biết này không phân tích gì nữa,
để an định sự thấu hiểu. Khi sự xác tín yếu đi, hãy
trở lại thiền quán phân tích, rồi lại đắm mình trong thiền
định…
Sau
một sự tu hành kéo dài như thế, người ta căn cứ vào đâu
để đo lường sự thành công ? Làm thế nào người ta biết
người ta đã phát triển ý chí giải thoát hay chưa ?
Nếu
đã thiền quán như thế, mà sự phô trương huy hoàng
Của
vòng sanh tử không đánh thức nơi các bạn
Một
tia chớp nào, dù ngắn ngủi đến đâu, của sự hâm mộ,
Nếu
tâm thức tìm cầu ở nơi bạn suốt ngày suốt đêm,
Đẩy
các bạn trọn ngày trọn đêm hướng về giải thoát,
Bấy
giờ ấy là ý chí vững chắc muốn vĩnh viễn thoát khỏi
Vòng
sanh tử luân hồi đã nẩy mầm.
Nếu
khi duy trì mạnh mẽ những tư tưởng ấy, các bạn đã vượt
lên sự luyến ái vào những hình tướng của đời này và
những hứa hẹn của những đời sau, nếu tâm thức các bạn
thường trực và tự nhiên tìm cầu giải thoát mà không gì
xảy đến làm cho lơ đãng, không có “cái này tuyệt diệu”,
không có “tôi phải làm cái kia”, không có “nếu tôi chỉ…”,
v.v…, bấy giờ các bạn đã thành công làm phát khởi ý chí
giải thoát khỏi vòng sanh tử một cách trọn vẹn. Sự chứng
nghiệm này chỉ thực sự hiệu quả khi nó tự diễn dịch
trong thái độ và không chỉ trong lời nói. “Chẳng lẽ một
bệnh nhân được chăm sóc chữa trị chỉ bằng cách đọc
một toa thuốc của y sĩ ?” Shantideva đã kêu gọi người
hành thiền như vậy. Toa thuốc không đủ. Còn phải uống
thuốc để lành bệnh.
Đọc
giáo lý hay nghe giảng giải thì dễ, nhưng đem nó vào thực
hành thì rất nhiều khó khăn. Bao giờ chúng ta chưa có một
kinh nghiệm trực tiếp về lời dạy, thì nó vẫn trơ ra đó
không hiệu quả gì. Nếu nguyên nhân sự tiến bộ của các
bạn chỉ là một sự giải thích bằng ngôn ngữ, hiệu quả
chỉ có thể là thuộc về tính chất của ngôn ngữ. Khi các
bạn đói, các bạn phải cầu thức ăn thật sự. Các bạn
không thể bằng lòng ăn thực đơn. Chỉ diễn tả những món
thơm tho của lối nấu Pháp hay Trung Hoa thì chẳng có gì bổ
dưỡng. Đức Phật đã chẳng nói : “Ta chỉ cho các ông con
đường giải thoát ; nhưng, chính sự giải thoát, hãy biết
rằng nó chỉ tùy thuộc vào các ông” hay sao ?
Thoạt
tiên điều mà đạo Phật cổ vũ đối với chúng ta có thể
hơi lạ lùng, có lẽ như không tưởng, nhưng Shantideva trả
lời :
Không
có gì cuối cùng không trở nên dễ dàng
Khi
người ta đã quen với nó.
Với
thời gian, không có sự thành tựu nào ngoài tầm tay ; sự
thực hành đều đặn những chủ đề thiền định này kích
thích khả năng của chúng ta, nhưng giáo lý chỉ trở thành
sự giác ngộ của tâm thức trong lâu dài, với sự nhiệt
thành và nghiêm mật. Trong một tantra, đức Phật đã nói về
giáo lý của ngài như sau : nếu sau khi theo những lời dạy
của ta, mục tiêu tỏ ra không thể đạt được, lúc ấy điều
ta nói thì dối trá. Vậy phải bắt đầu bằng thực hành,
có được kinh nghiệm ; tiếp theo người ta có thể tự mình
xác chứng sự đúng đắn lời dạy của đức Phật.
Điều
trên khép lại chương về sự thức dậy của ý chí tự giải
thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, về những nguyên nhân của
nó, về những phương tiện làm nó sanh khởi và cách thức
đo lường sự thành công trong con đường này.
Cái
thứ hai trong ba phương diện chính là ý định vị tha đạt
đến giác ngộ. Theo Tsongkapa, hai phương diện chánh đầu tiên
này phải kết hợp nhau, nếu không sự thực hành (nguyên nhân)
không cho phép đạt đến Phật tánh (kết quả). Đó là điều
tiết sau giải thích, nó cũng đem lại một lý do của sự
phát triển thái độ vị tha :
Nhưng
ý chí vững chắc lìa bỏ vĩnh viễn sanh tử còn phải
Đi
đôi với sự thức dậy của một nguyện vọng tròn đầy
về giác ngộ vô thượng.
Không
có cái này, cái kia sẽ không là cội nguồn của phúc lạc
kỳ diệu của giác ngộ vô song.
Thế
nên người có trí phải làm nảy sanh ý định cao quý vị
tha thành Phật.
Có
ý định trở nên giác ngộ – tiếng sanskrit : bodhicitta, tâm
Bồ Đề – là theo đuổi sự tìm kiếm giác ngộ cho mình
và thành Phật vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
Để
đánh thức một trạng thái tâm thức như vậy, phải nuôi
dưỡng một lòng bi bao la, chú tâm đến những người khác,
mong muốn họ được thoát khỏi khổ đau và những nguyên
nhân sẽ sanh ra khổ đau. Nhiệt tình này phun trào từ một
suy nghĩ về những gì họ đang chịu đựng ; và cuối cùng,
để làm viên mãn sự thiền định này, người ta trải rộng
cho người khác cái điều mà người ta đã tự mình thành
tựu đối với khổ đau trong khi người ta trau dồi quyết
tâm giải thoát khỏi vòng sanh tử.
Hai
đoạn sau diễn tả những phương tiện để làm nảy sanh ý
định vị tha. Đoạn đầu gợi lên rất chính xác những khổ
đau định tính cho những chúng sanh bình thường trong vòng
sanh tử :
Bị
cuốn trôi bởi dòng chảy của bốn dòng dữ dội,
Bị
cột trói bởi những sợi dây siết chặt của những xung động
khó chế ngự,
Họ
bị đẩy vào cũi sắt của sự bám nắm một bản ngã,
Họ
hoàn toàn tối tăm bởi bóng tối dày đặc của vô minh,
Họ
phải nếm trải vô số sự sanh ra trong vòng sanh tử,
và
từ sự sanh ra này qua sự sanh khác,
Họ
không ngừng bị ba mối khổ đau hành hạ.
Nghiệm
đi nghiệm lại những tư tưởng này về thân phận của chúng
sanh, những người mẹ của chúng ta đang ở trong tình trạng
đó,
Rồi
vì họ mà làm nảy sanh ý định vị tha tối thượng đạt
đến giác ngộ.
Cách
suy nghĩ này vô cùng cảm hứng. Chỉ cần thể nghiệm điều
ấy áp dụng cho thân phận riêng của chúng ta để lòng ham
muốn từ bỏ vòng sanh tử được thêm sức mạnh ; và cho
ý nghĩ rằng những người khác cũng bị liên can giống như
chúng ta, người ta cảm thấy bị lòng bi mẫn trùm phủ.
Câu
đầu có thể có nhiều giải thích khác nhau, nhưng “Bị cuốn
trôi bởi dòng chảy của bốn dòng dữ dội” chính yếu có
nghĩa là mọi tạo vật đều bị nhận chìm bởi sanh, già,
bệnh, chết, như bởi những dòng nước mạnh. Mặc dù chúng
ta không muốn những khổ đau này, chúng ta cũng phải chịu
đựng chúng, chúng ta ở trong quyền lực của chúng, như bị
cuốn trôi không thể cưỡng lại trong một dòng sông lớn.
Cái làm cho chúng ta bất lực là những sợi dây siết chặt
của những hành nghiệp quá khứ và những khuynh hướng do
những hành nghiệp ấy đã in vào trong chúng ta – những phản
ứng khó cưỡng chống. Nhưng cái thống trị trói chặt chúng
ta là những thức tình độc hại như tham và sân : chúng chỉ
biểu hiện khi chúng ta đã vào sâu trong ngục tù cứng chắc,
tối tăm, kín mít kinh khủng của sự bám chấp vào một cái
ta và cái của ta hiện hữu nơi chính mình.
Khi
người ta tự quy chiếu về mình, người ta tự tưởng rằng
hiện hữu thì cố hữu nơi bản thể chúng ta ; và từ ý tưởng
sai lầm này nảy sanh những tình thức ham muốn ; dưới bạo
quyền của chúng, chúng ta phạm vào những hành động xấu,
mỗi cái lấy đi của chúng ta một ít tự do hoạt động hơn,
và cuối cùng chúng ta bị cuốn trôi trong bốn dòng hung dữ
của dòng sông khổ đau. Cái dẫn dắt chúng ta vào sai lầm,
là cái vô minh tối tăm dày đặc của ý tưởng cho rằng những
sự vật và đặc biệt là những hợp thể cấu thành thân
tâm chúng ta – chỗ nương dựa của ý thức về cái ta –
có một hiện hữu riêng biệt. Và khởi từ đó, chúng ta chấp
nhận ý tưởng sai lầm về một cái ta và cái ta hiện hữu
tự thân chúng. Trên ý tưởng này ghép vào thêm những tình
thức phiền não tham, sân… chúng quyết định những hành
động nhiễm ô, thu góp nghiệp siết chặt chúng ta nghẹt thở.
Đó
là tiến trình nguyên nhân bởi đó chúng sanh ở trong tình
trạng bị lôi cuốn vào các hợp thể uẩn tạo thành thân
tâm, chúng bắt buộc họ phải sanh già bệnh chết. Vòng xích
lôi cuốn của nhân và quả này bắt chúng ta chịu ba loại
khổ : khổ đau thể xác và tâm thức, khổ đau của sự biến
dịch và khổ đau thấm khắp của sự bị điều kiện hóa.
Cái khổ sau cùng độc nhất liên kết với sự kiện chúng
ta bị điều kiện hóa bởi một chuỗi nguyên nhân và hậu
quả nhiễm ô. Khi người ta suy nghĩ kỹ càng tình thế bằng
cách dựa trên kinh nghiệm cá nhân về khổ đau và những nguồn
gốc từ đó khổ đau sanh ra, người ta tìm thấy ở đó một
sự lấy lại ý chí để tự giải thoát khỏi vòng sanh tử.
Và với ý nghĩ rằng tất cả mọi chúng sanh, họ đã từng
là mẹ của chúng ta trong vô số đời, đang chịu đựng những
hành hạ không ngớt, người ta cảm thấy nảy sanh tình thương,
lòng bi mẫn và dự định vị tha phải thành Phật để giúp
đỡ họ một cách tốt nhất. Chúng ta có mong muốn cá nhân
được hạnh phúc và không khổ đau, nhưng tất cả chúng sanh
bị đè nặng bởi thống khổ của vòng sanh tử cũng có cùng
mong muốn đó và nỗi sợ đó. Và hơn nữa, họ không có những
yếu tố hiểu biết cần thiết để biết chọn lựa dùng
cái gì để dẫn đến hạnh phúc và tránh cái gì lôi kéo
vào bất hạnh.
Trong
Dấn thân vào Bồ tát hạnh, Shantideva nói đến điều này
trong những câu sau :
Mặc
dù họ muốn quét sạch khổ đau,
Rõ
ràng họ lại ném mình vào vòng tay của nó.
Mặc
dù họ khát khao hạnh phúc, mà trong vô minh của mình,
Họ
lại hủy diệt nó như một kẻ thù.
Sự
mù lòa làm cho chúng sanh quay lưng lại với điều mà họ tìm
kiếm. Phương tiện để giúp họ giải thoát là trao truyền
cho họ những kỹ thuật cho phép họ nhận ra không lầm lẫn
cái phải làm để thu hút hạnh phúc và cái phải xa lìa để
tránh khổ đau.
Trong
Bình luận về Yếu lược của Trí Huệ kiên cố, Dharmakirti
đã nói :
Để
chiến thắng khổ đau (vì lợi ích của người khác),
Lòng
nhân từ được thắng vào những phương pháp.
Khi
những phương pháp đánh thức những kết quả mà những nguyên
nhân của chúng khó thấy (với chúng ta)
Chúng
tỏ ra khó giải thích (cho người khác).
Nếu
các bạn không có những hiểu biết để cải thiện số phận
những con người, các bạn chẳng có thể làm gì cho họ. Các
bạn chỉ thực sự có ích khi các bạn đã có một trí thông
minh rất vi tế về những phương tiện cần dùng ; các bạn
phải có khả năng chỉ cho họ những đá ngầm để tránh
và những con đường tốt để đi. Các bạn còn phải có những
thẩm quyền để biết phát lộ những năng khiếu của họ,
những trung tâm chú ý của họ… Thế nên cần thiết phải
loại bỏ tất cả những thứ gì che chướng chân trời của
chúng ta để có một hiểu biết toàn diện, vì một khi mọi
chướng ngại bị quét sạch, người ta đạt đến sự toàn
giác của một vị Phật, đạt đến trí huệ tối thượng
cho phép hiểu biết tất cả những gì hiện hữu.
Được
đưa dẫn bởi mong muốn giúp đỡ tất cả chúng sanh, bồ
tát thi hành sự từ bỏ. Trong lãnh vực này, mối lo đầu
tiên của vị ấy là cởi mở những tấm màn che chướng toàn
trí. Để làm được công việc này, vị ấy dùng những đối
trị. Đúng là không cần thiết biết hết tất cả để đem
lại vài giúp đỡ cho một số nhỏ, nhưng khi người ta muốn
được cực kỳ hiệu quả và cứu giúp một số đông, người
ta không thể tự bằng lòng với sự chung chung. Thế nên vị
bồ tát cần đạt đến Phật tánh.
Từ
một lúc nào đó, sự khổ đau của chúng sanh không thể chịu
đựng nổi đối với các bạn, các bạn không làm người
nhân chứng thụ động được nữa. Trong một chuyển động
sâu xa của lòng từ bi, các bạn chỉ còn mong muốn giải thoát
họ khỏi khổ đau và làm cho họ hạnh phúc. Thế nhưng các
bạn biết rằng, chỉ trừ khi được giác ngộ, các bạn không
có cơ may nào để đạt đến chuyện đó ; chính như vậy
mà ý định thành tựu giác ngộ nảy sanh trong tâm thức các
bạn. Và trong một nguyện vọng gấp đôi, các bạn quyết
định tự hoàn thiện trong Phật tánh cho mục đích duy nhất
là dập tắt sự khổ đau của người khác.
Tsongkapa
đã không đề nghị phương pháp đặc biệt để đo lường
mức độ thành công của việc thức tỉnh tâm Bồ Đề, nhưng
chúng ta có thể được gợi ý từ phương pháp mà ngài đã
đề cập đối với quyết tâm giải thoát khỏi vòng sanh tử,
và chắc chắn, nếu trong mọi hoạt động, một phần tâm
thức các bạn duy trì thường trực nguyện vọng sâu xa tạo
tác hạnh phúc cho tất cả và dự định đạt đến giác ngộ
vì tất cả, đó là dấu hiệu một tâm Bồ Đề hoàn hảo
đã thức dậy nơi bạn.
Khi
người ta thực tập trong chiều hướng này, không nên chờ
đợi trông thấy con người mình chuyển hóa trong ngày một
ngày hai. Những đặc tính, khuynh hướng của chúng ta chỉ
biến đổi rất tiệm tiến, và những thay đổi không xuất
hiện một cách tức thời. Đó là một công việc dài hơi,
nó chỉ cho những kết quả sau nhiều năm áp dụng nghiêm mật.
Phải chờ đợi năm hay mười năm trước khi trở về ; bấy
giờ người ta có thể nhận ra những tiến bộ không thể
chối cãi trong cách suy nghĩ, sống và hành động của mình.
Lịch
sử nói rằng đức Phật Thích Ca bỏ ra sáu năm của đời
mình cho sự thực hành khổ hạnh. Làm gương cho sự từ bỏ,
ngài đã bỏ những niềm vui của đời sống gia đình để
trở thành tu sĩ, những lạc thú thế gian để ẩn dật. Ngài
còn hoàn thành nhiều chuyện khác, tất cả để soi sáng cho
những đệ tử về những khó khăn mà họ phải chiến thắng
trong bước tiến lên trên con đường.
Làm
sao tưởng tượng rằng sự việc đòi hỏi những cố gắng
lâu dài và phi phàm ở đức Phật lại có thể được thực
hiện nhanh chóng và không khó khăn ? Không nên nghĩ như thế.
Khi
người ta đến giai đoạn ước muốn giác ngộ vì người
khác thì thường trực hiện diện trong một góc của tâm thức,
người ta thêm vào đó nghi thức phát nguyện làm cho ước
muốn đó trụ vững. Người ta cũng phải làm sự cần thiết
để cho sự thể nghiệm này không thể bị thương tổn trong
đời này hay những đời sau.
Chúng
ta không dừng ở đó : ước muốn vị tha, tốt lắm, nhưng
ý định thì chưa đủ. Chúng ta còn phải phát triển tâm thức
thực hành giác ngộ. Bây giờ phải tự tin tiến lên phía
trước để thu đạt những đức tính cần thiết cho sự thực
hiện mục tiêu, và bước tiếp theo cốt ở việc thực hành
sáu cái hoàn thiện (sáu ba la mật) : bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, định và trí huệ. Rồi khi có thể áp dụng
chúng, người ta giữ những lời nguyện của Bồ tát để
không bị hư hoại.
Khi
phát nguyện, nếu sự áp dụng sáu cái hoàn thiện tiến triển
tốt, chúng ta sẵn sàng cho sự quán đảnh nhập môn và sự
thực hành tantra.
Bây
giờ các bạn có một cái nhìn toàn thể về tiến trình đúng
và đầy đủ như đã được trình bày trong những đại luận
giải ; nên tiến hành khi thời gian và hoàn cảnh sẵn sàng
cho một con đường theo thứ tự này. Hay hơn nữa, như thông
lệ ngày nay, người ta có thể đi vào sự thực hành tantra
sau khi đã có được một sự hiểu biết nào đó về ba phương
diện chính của con đường (ý chí giải thoát khỏi vòng sanh
tử, ý định vị tha đạt đến giác ngộ, và cái nhìn đúng
đắn về tánh Không) và một sự nghiêm mật lớn cho phép
tự duy trì trong thái độ mong muốn.
Không
có một hiểu biết tối thiểu, không có một niềm tin sâu
xa vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), các bạn không thể thực
sự tự nhận mình là đã nhập môn tantra, ngay cả khi các
bạn đã tham dự một lễ ở mức độ này.
Tâm
Bồ Đề chính yếu dựa trên những phẩm tính của tấm lòng,
trên một tâm thức tích cực trong suốt mọi lúc, điều mà
mỗi người chỉ có thể tự thưởng thức lấy, trong khi tất
cả mọi người đều khổ đau vì sân hận, bạo lực, dèm
pha. Những người tự nhường cho những xung động này làm
thế vì lợi ích cho họ, nhưng thật ra, họ tạo ra vô số
sai lầm. Chúng ta hãy cố gắng cởi mở, tốt bụng, có lòng
và một trạng thái tâm thức tốt hơn nữa. Điều tôi nói
với các bạn không chỉ là lý thuyết : tôi cố gắng tự
thực hành hết sức mình, và mỗi người chúng ta phải làm
điều đó thành của mình, vì chúng ta càng cố gắng trong
chiều hướng này, chúng ta càng sống tốt thêm.
Khi
các bạn bắt đầu có vài kinh nghiệm trong con đường này,
cách sống và nhìn người khác của bạn chuyển hóa ; một
xung đột sắp bùng ra, và các bạn nhận ra rằng các bạn
không phản ứng nữa như trước đây thường làm. Dần dần
các bạn có khuynh hướng giảm nóng giận, bớt ray rứt với
những ý tưởng đen tối. Không có gì thay đổi ở bên ngoài,
các bạn không mọc thêm một cái mũi mới, cách hớt tóc của
bạn không thay đổi ; mà chính tâm thức của các bạn đã
thay đổi. Chúng ta đều biết nhiều hay ít thoát ra khỏi những
trường hợp khó khăn, một số người đạt đến chỗ ấy
tốt hơn những người khác. Đó chỉ là vấn đề thái độ
bên trong.
Sự
thực hành những lời dạy này tiến hành một cách êm ả
trong tâm thức. Sau một thời gian, có thể những người chung
quanh ghi nhận một sự thay đổi nơi các bạn. Đó là dấu
hiệu tốt, bạn đang tiến bộ và bạn không là một điều
gây phiền nhiễu cho người khác nữa. Bạn bắt đầu xử
sự như là một công dân tốt của thế giới. Có lẽ bạn
không cần phải bay lên, biểu lộ mọi thứ kỳ lạ ; những
khả năng như thế đều là thứ phụ. Nói cho đúng, chúng
còn đẩy đến hạnh kiểm ngược lại, nhất là nếu các
bạn làm gieo rắc sự lộn xộn trong tâm thức của người
khác. Trái lại, biết điều ngự tâm thức mình, bày tỏ lòng
tốt, đó là điều cốt yếu để học ; và nếu bạn áp dụng
nó, Niết Bàn sẽ càng lúc càng gần hơn ; nhưng mỗi lúc bạn
nhường bước cho sự cay đắng, cho giận dữ, các bạn quay
lưng lại với nó.
Con
đường Phật giáo nhấn mạnh vào hành giả và thái độ của
y sử dụng tốt giáo pháp. Giáo lý cho anh ta sự quy y vào Phật,
Pháp và Tăng, để anh ta rút ra từ đó sức mạnh để thực
hành có hiệu quả. Trong ba đối tượng quy y, cái chính là
giáo pháp ; không phải là giáo pháp được vay mượn ở ai
khác, mà là cái phải sanh ra trong dòng hiện sinh của chúng
ta. Không có sự tham dự, không có cố gắng, không có một
sự thực hành từ phía chúng ta, Tam Bảo không thể làm một
chỗ quy y cho chúng ta.
Như
thế chương này chấm dứt với ý định trở thành giác ngộ,
và bây giờ chúng ta đi đến phương diện chánh thứ ba của
con đường, cái thấy đúng đắn về tánh Không. Chúng ta sắp
hiểu lợi ích của trí huệ của chánh kiến khi trở lại
bản văn của Tsongkapa.
Bao
giờ trí huệ cho phép thấu hiểu cách thế hiện hữu của
các hiện tượng còn chưa có ở bạn,
Dù
bạn đã làm nảy sanh ý chí hoàn hảo muốn thoát ly sanh tử
và ý định vị tha,
Thì
gốc rễ vòng sanh tử vẫn chưa được cắt đứt.
Thế
nên, hãy tự thắng mình vào những phương tiện để chứng
ngộ duyên sanh.
Khi
nói đến “cách thế hiện hữu của những hiện tượng”,
Tsongkapa kéo sự chú ý của chúng ta về cách thức chúng tồn
tại trong chiều kích vi tế nhất của hiện hữu, ở mức
độ thực tại tối hậu. Không phải những cách thức hiện
hữu khác nhau một cách quy ước, mà là cái mà cái thấy đúng
đắn về tánh Không phát hiện trong phân tích rốt ráo. Trong
bối cảnh hai chân lý, đó là cái mà người ta gọi là chân
lý tối hậu.
Khi
nào chúng ta còn thiếu trí huệ bổn nhiên, những cố gắng
căng thẳng để đánh thức nguyện vọng thoát khỏi sanh tử
và ý định vị tha nhắm đến giác ngộ đều bất lực trong
việc gỡ chúng ta ra khỏi vòng sanh tử ; bởi vì chính vòng
sanh tử bắt rễ trong sự vô minh về thực tại này, trong
sự huyễn hoặc làm mù lòa chúng ta về con người mình và
phần còn lại của vũ trụ. Để chấm dứt vô minh này, chúng
ta phải đánh thức một tâm thức thâm nhập, nó trong khi vẫn
thấy biết cùng những chúng sanh, cùng những hiện tượng,
thấu hiểu được chúng trong một toàn cảnh hoàn toàn đối
nghịch với tri giác sai lầm. Hai phương diện chính đầu tiên
tham gia gián tiếp vào kết quả này, nhưng không tấn công
trực tiếp vào sự lầm lạc là chính gốc rễ của vòng sanh
tử. Thế nên trí huệ là không thể thiếu đối với chúng
ta.
Nếu
Tsongkapa cổ vũ chúng ta “tự thắng mình vào những phương
tiện để chứng ngộ duyên sanh” mà không phải “những
phương tiện để chứng ngộ tánh Không”, bởi vì ý nghĩa
của duyên sanh thì bao hàm trong ý nghĩa của tánh Không, và
ý nghĩa của tánh Không cũng ẩn chứa trong ý nghĩa của duyên
sanh. Nói cách khác, ngài hướng cái nhìn của chúng ta về
sự kiện rằng tánh Không là ý nghĩa của duyên sanh, và duyên
sanh là ý nghĩa của tánh Không. Thấu hiểu như vậy, người
ta tránh được những lỗi lầm của hai cái nhìn cực đoan,
từ đó là sự khuyên nhủ nên cố gắng trong chiều hướng
này.
Người
ta không nên hiểu tánh Không như là sự phủ định thuần
túy và đơn giản mọi sự, nhưng như là sự từ chối một
hiện hữu tự thân – sự phủ định hoàn toàn tương hợp
với nguyên lý duyên sanh. Nếu các bạn không thấy rằng tánh
Không và duyên sanh soi sáng lẫn nhau, các bạn có nguy cơ hiểu
lầm về tánh Không và giải thích nó như là chủ nghĩa hư
vô : đấy không chỉ là một sự trái nghĩa, mà còn là một
lỗi lầm trầm trọng, bởi vì thay vì làm phong phú chúng ta,
nó đẩy chúng ta rớt vào cái bẫy của cái nhìn cực đoan
của hư vô. Tsongkapa tiếp tục bằng cách làm rõ hơn nữa
tư tưởng duyên sanh :
Người
nào, nhìn thấy nhân và quả của mọi hiện tượng của vòng
sanh tử và của Niết Bàn như là một nguyên lý không sai chạy,
Gạt
bỏ hết ý tưởng sai lầm (hiện hữu tự thân) dính kết
với những sự vật này
Đã
bước đúng con đường làm Phật hoan hỷ.
Khi
sự phân tích cách thế hiện hữu tối hậu của những hiện
tượng cho phép chúng ta hiểu rằng những cá nhân (ngã) cũng
như những sự vật (pháp) đều không có tự tánh, điều ấy
không ngăn cản chúng ta chấp nhận một cách rõ ràng tính
nhân quả của chúng, đó là dấu hiệu chúng ta đang đi đúng
con đường làm Phật hoan hỷ. Sự thấu hiểu tánh Không không
bài trừ sự thấu hiểu nhân quả. Không thể chối cãi được
rằng những nguyên nhân và những kết quả ảnh hưởng một
cách có lợi hay bất lợi trên những hiện tượng thế gian
và siêu thế gian. Khi tánh Không được hiểu với ánh sáng
của tiến trình nhân quả không sai chạy, không đứt đoạn,
không vô trật tự, nghĩa là trong chính bối cảnh của duyên
sanh, chỉ sự kiện chứng ngộ này đủ để chặt phăng những
ý niệm sai lầm.
Khi
nào hai cái này : sự thấu hiểu những hình tướng
–
Sự hẳn nhiên của duyên sanh –
Và
sự thấu hiểu tánh Không – sự phủ định (của hiện hữu
tự thân) –
Còn
hình như tách lìa, tư tưởng của Phật Thích Ca còn chưa được
chứng ngộ.
Cái
thấy đúng không phải là sự thấu hiểu những hình tướng,
với tư cách là duyên sanh không hỗn loạn, và sự thấu hiểu
về tính vô tự tánh của chúng hình như bài trừ lẫn nhau.
Nói cách khác, nếu cái này không giúp các bạn thấu hiểu
cái kia hay làm cho cái kia không thể chấp nhận được, đó
là vì các bạn đã không nhận thức được tư tưởng của
Phật Thích Ca ; đến nỗi rằng khi các bạn cảm nhận tánh
Không, sự thấu hiểu về duyên sanh trở nên mờ mịt, và
ngược lại ; hai sự thấu hiểu chuyển đổi nhau như hai sự
vật không thể hòa giải ; đó là triệu chứng của một sự
thiếu vắng cái thấy đúng đắn.
Khi
(hai sự thấu hiểu) soi sáng lẫn nhau mà không thay thế,
Và
cùng cái thấy tính không sai chạy của duyên sanh
Một
trí thông minh sắc bén cắt đứt sự lầm lạc của tri giác
(về hiện hữu tự thân)
Đó
là dấu hiệu sự phân tích về cái thấy (thực tại) đã
hoàn thành.
Trí
thông minh có thể xuyên thủng sự sai lầm trong ý niệm về
hiện hữu tự thân được thức tỉnh khi hành giả vượt
qua sự gạn lọc của lý luận đối với một đối tượng
được chỉ định và nhận ra rằng danh hiệu của nó chẳng
che phủ một cái gì cả. Lý luận phán đoán trong bảy điểm[1]
là phương pháp thường dùng cho mục đích này, và thân thể
thường thường làm một đối tượng để nghiên cứu. Từng
điểm một, hành giả chứng minh rằng thân thể liên quan đến
những yếu tố khác, nó tất yếu tùy thuộc, vậy thì không
có khả năng hiện hữu bởi tự mình. Và người ấy đi đến
chỗ kết luận rằng đối tượng chỉ là duyên sanh, vô tự
tánh. Trong tiến trình này, trước tiên hành giả làm lộ ra
cái không hiện hữu, để tiếp theo có thể phát biểu cái
còn lại, tức là một hiện tượng sanh ra nhờ vào những
tương tác.
Khi
người ta dùng lý luận trong bảy điểm để tra hỏi song song
một bản chất một con người xuất hiện trong giấc mộng
và bản chất một con người trong trạng thái thức, người
ta không thấy trong cả hai trường hợp một thực thể tự
hiện hữu nào. Nhưng người ta không thể nói cả hai đồng
nhất, vì kinh nghiệm và sự hiểu biết quy ước về sự vật
khước từ khẳng định này. Ngược lại, khi người ta nêu
ra một con người thực sự là một con người, người ta không
bị một bác bỏ thuộc loại này.
Chúng
ta hãy tóm lại. Mặc dầu lý luận trong bảy điểm không cho
phép khám phá ra một con người, không nên nói nghịch lại
với sự hiểu biết đúng đắn của một quan điểm quy ước
mà cho rằng con người không hiện hữu. Biết rằng con người
không lộ ra từ lý luận, nhưng luôn luôn hiện hữu, vậy
chúng ta tiến đến chỗ con người không hiện hữu bởi khả
năng của chính nó, mà bởi tương quan với những yếu tố
khác mà nó tùy thuộc. Cũng như ý nghĩa của cái “không có
một khả năng tự hiện hữu” đi đến ý nghĩa “tùy thuộc
vào tương quan với những cái khác”. Để thiết lập chứng
cớ tánh Không của những hiện tượng, Nagarjuna và những
đệ tử đã dựa một cách thoải mái vào nguyên lý duyên
sanh, và đặc biệt, vào sự kiện những hiện tượng tùy
thuộc những nhân, duyên… chúng tham dự vào sự biểu lộ
của các hiện tượng. Chúng ta hãy nghe Nagarjuna trong Trung Đạo
luận :
Biết
rằng không có gì hiện hữu mà không là duyên sanh,
Nên
không có gì hiện hữu mà không là Không.
Và
trong Bốn Trăm, Aryadeva tuyên bố :
Không
có (hiện tượng nào) có quyền hiện hữu bởi tự nó.
Vậy
thì, không có tự ngã (của con người).
Không
có hiện tượng nào là tự hữu, vậy thì tất cả đều không
tự tánh và không có gì có thể tự lập bởi những đặc
tính cá nhân. Để chứng minh chúng trống không, những tác
giả của những câu kệ trên không nói rằng những đối tượng
không được thấy, được xúc chạm, được biểu lộ ; “không”
không có nghĩa là không tác động, không hiện hành, mà là
không có quyền hiện hữu tự mình. Hơn nữa, chúng không tự
sanh từ những nguyên nhân và điều kiện, chúng tùy thuộc
những nguyên nhân và điều kiện. Chúng xuất hiện theo cách
thức một ảo ảnh, do một nhà ảo thuật trình diễn. Khi
người ta hiểu tánh Không của đối tượng được khảo sát
và nguồn gốc tương duyên của nó, người ta chứng ngộ rằng
sự xuất hiện của nó là một hệ quả tất yếu, mạch lạc
và đồng thời không có tự tánh. Hai nguyên lý này không trái
ngược nhau chút nào, ngoài sự thấu hiểu này, các bạn sẽ
nghĩ rằng không thể áp dụng cho một đối tượng hai yếu
tố là thực tại không tạo tác của tánh Không và sự biểu
lộ tạo tác của duyên sanh.
Ngược
lại, khi các bạn xác định rằng những hiện tượng là trống
không bởi vì chúng đều là duyên sanh, sự thấu hiểu sự
biểu lộ của chúng và sự thấu hiểu tánh Không của chúng
thì không thể chia cách. Sự biến mất của ý tưởng có tự
tánh của đối tượng để lại trong tâm thức một khoảng
trống, nó là sự phủ nhận thuần túy cái mà người ta đã
rời bỏ ; một sự vắng mặt không phải lấp đầy bằng
một xác nhận nào đó. Vậy thì tánh Không chỉ xuất hiện
với sự loại bỏ đối tượng cần bác bỏ. Ví dụ, để
nhận ra sự vắng mặt của bó hoa trước mặt tôi, phải loại
bỏ sự hiện diện của nó. Khi chúng ta nói đến tánh Không
như một phủ định thuần túy sự tự hiện hữu, chúng ta
diễn tả rất rõ ràng cách thế mà nó biểu lộ cho tâm thức
thiền giả : chúng ta không nói rằng vào lúc đó không có
ý thức cũng như không có con người thấu hiểu tánh Không.
Vậy,
với tư cách là những duyên sanh do các tương tác, những hiện
tượng là không có tự tánh. Dùng duyên sanh như là sự chứng
minh cho tính trống không này, hành giả dễ dàng tránh được
hai cực đoan là hiện hữu tự thân và không hiện hữu tuyệt
đối.
Khi
tánh Không tức khắc được hòa hợp với đối tượng ngay
khi nó xuất hiện với tư cách là duyên sanh, người ta thấu
hiểu rất dễ dàng nó là gì. Và khi người ta không cần một
biện minh nào khác ngoài duyên sanh để bày tỏ tánh Không
thay vì nghi ngờ, thì cái này làm sáng tỏ cái kia. Bấy giờ
không còn nữa sự chập chờn qua lại giữa cái thấy những
hình tướng và cái thấy tánh Không làm chúng hình như dị
biệt ; đó là bằng chứng sự phân tích đã hoàn thành.
Như
Chandrakirti trong tác phẩm của ngài là Phụ Thích Trung Đạo
Luận (Madhyamakavatara), đã nhận xét :
Khi
thiền giả không tìm thấy hiện hữu của (cái xe) này,
Làm
sao người ta có thể xác nhận rằng cái không hiện hữu trong
bảy cách khác nhau có thể hiện hữu (tự thân) ?
Bởi
hướng đi này, thiền giả cũng thâm nhập tánh Như không khó
khăn.
Vậy,
ở đây, sự chứng minh về (cái xe) này phải được duy trì
trong các khuôn khổ ấy.
Đề
cập dưới bảy góc độ khác nhau, những hiện tượng không
tìm thấy được ; vậy mà sự hiện hữu của chúng được
ghi nhận. Vậy thì, chúng không hiện hữu một cách khách quan
tự chúng, mà một cách chủ quan và bởi một sự ý niệm
hóa. Từ đó là sự cần thiết có một nghiên cứu nghiêm
túc về cách thức hiện hữu quy ước của những hiện tượng
để đi đến sự thấu hiểu bản tánh tối hậu của chúng.
Nhưng
để đạt đến mức độ này, ngay khi các bạn có một ý
niệm nhỏ tánh Không là cái gì, thì hãy quan sát những cơ
chế của nhân quả, chủ thể, hành động và đối tượng,
và các bạn tự hỏi chúng có hợp với tánh Không hay chăng.
Khi suy nghĩ như vậy, các bạn hãy tự quy chiếu với hình
ảnh trong tấm gương : nó là sự phản ảnh đơn thuần, và
tuy nhiên, nó tự biểu lộ khi vài điều kiện được tập
họp và biến mất khi các điều kiện không có nữa. Đó là
một ví dụ về cái có thể hiện hành trong khi vẫn trống
không hiện hữu riêng mình.
Các
bạn cũng có thể, từ kinh nghiệm cá nhân bạn, quan sát sự
hiện hữu hay vắng mặt một vài điều kiện tán trợ hay
ngăn cản những tình huống ; các bạn sẽ thấy sự xác quyết
của bạn về duyên sanh được tăng mạnh thêm. Nếu các bạn
nghiêng về một sự chấp thực của hiện hữu, hãy hướng
qua tánh Không, và khi bạn xu hướng về một hư vô cực đoan,
hãy nhấn mạnh nhiều về duyên sanh ; khi một lần nữa, sự
tự hữu ép buộc các bạn, hãy trở về tánh Không. Khi phối
hợp khéo léo thiền chỉ và thiền quán, các bạn mỗi lúc
càng sâu vào sự thấu hiểu duyên khởi và tánh Không, cho
đến khi cả hai đều trở nên rõ ràng với các bạn.
Chúng
ta trở lại bản văn :
Lại
nữa, biên kiến cực đoan về hiện hữu (nội tại) bị loại
trừ
(bởi
sự hiểu biết bản chất) của những hình tướng
(chỉ
hiện hữu với tư cách là danh xưng tên gọi).
Và
biên kiến cực đoan về hiện hữu (tuyệt đối) bị loại
trừ (bởi sự hiểu biết bản chất) của tánh Không,
(không
có tự tánh và không thuộc hiện hữu danh xưng).
Bốn
trường phái tư tưởng Phật giáo, phái Samkhya và ngay cả
những nhà hư vô chủ nghĩa, chấp nhận một đồng ý chung
rằng vô hiện hữu tuyệt đối – phủ định cái hiện hữu
– bị quét sạch nhờ hình tướng, trong khi phái cực đoan
về hiện hữu – xác định sự hiện hữu của cái vô hiện
hữu – thì bị quét sạch nhờ vào tánh Không. Nhưng với
cái nhìn đặc biệt của phái Hệ Quả của phái Trung Đạo,
cái trái ngược lại thì cũng đúng : hướng về hình tướng,
cực đoan về hiện hữu được tránh khỏi, và tánh Không
xóa bỏ cái vô hiện hữu tuyệt đối. Trong luận đề này,
tất cả quay quanh trục chủ chốt rằng duyên sanh là ý nghĩa
của tánh Không và ngược lại.
Duyên
sanh được giải thích khác nhau theo các phái Duy Thức, phái
Tự Trị của Trung Đạo và phái Hệ Quả của Trung Đạo.
Phái Duy Thức định nghĩa nó chỉ bằng những hiện tượng
tổ hợp (hành : samskara), khởi lên từ những nguyên nhân và
điều kiện mà chúng tùy thuộc vào. Theo phái Tự Trị của
Trung Đạo, nó liên hệ với tất cả hiện tượng thường
và vô thường, tất cả tùy thuộc vào những thành phần của
chúng. Phái Hệ Quả của Trung Đạo đưa vào một yếu tố
mới, khi thấy trong duyên sanh tất cả những hiện tượng
mà sự thiết lập hay phô trương của chúng tùy thuộc vào
một danh xưng, được góp phần bởi khả năng ý niệm. Phải
hiểu rằng duyên sanh và tánh Không phù hợp với nhau. Cái
này phản ảnh cái kia. Bản văn tiếp tục trong cùng một mạch
nghĩa :
Nếu,
ngay trong lòng của tánh Không,
Sự
xuất hiện của nhân và quả được nhận biết,
Bạn
sẽ không rơi vào cạm bẫy của những cái nhìn cực đoan.
Khi
trong lòng của tánh Không người ta thấy rằng nhân và quả
tùy thuộc vào tánh Không, bởi vì chính do tánh Không mà những
duyên sanh hoạt động, bấy giờ tất cả đều phát khởi
từ nó. Thấy được sự hỗ tương của chúng, người ta tránh
khỏi hai biên kiến cực đoan.
Chính
như thế mà sự thấu hiểu tánh Không tránh cho các bạn khỏi
rơi vào hư vô chủ nghĩa. Và khi phân biệt rõ ràng rằng cái
tùy thuộc vào những nguyên nhân, những điều kiện, những
phần tử, và vào một tâm thức đặt tên nó chính là cái
trái ngược với sự tự hiện hữu, sự thông minh của các
bạn về duyên sanh tránh cho bạn khỏi một sự chấp hữu
cực đoan.
Nếu
các bạn thực hành cái thấy tánh Không trong khi làm mạnh
mẽ ý chí giải thoát khỏi vòng sanh tử, sự thực hành này
sẽ là cái đòn bẩy cho việc giải thoát của bạn. Và nếu
các bạn phối hợp nó với ý định vị tha trở thành giác
ngộ, đòn bẩy này sẽ tạo ra những vận động làm cho bạn
thành một vị Phật toàn giác. Chánh kiến được ví với
một bà mẹ (Phật mẫu), vì sự chứng ngộ tánh Không được
xem như là một tác nhân cho giác ngộ ở trong cả ba thừa
Phật giáo là Thanh Văn, Độc Giác và Bồ Tát.
Những
người mượn con đường đặc biệt của Mật thừa truyền
khẩu, thích chọn góc nhìn của phái Hệ Quả của Trung Đạo,
mặc dầu không phải là một bắt buộc. Những hệ thống
triết học Duy Thức và Tự Trị của Trung Đạo cũng thích
hợp, nhưng so với Mật thừa, người ta không thể tự bằng
lòng. Cái nhìn thô sơ giới hạn trong vô ngã của con người,
như những phái Đại Giảng Luận và Kinh thừa, thì không đủ
cho hướng tiến này.
Như
thế là hoàn thành buổi nói chuyện của chúng ta về ba phương
diện chánh của con đường giác ngộ : ý chí thoát khỏi sanh
tử, ý định vị tha thành tựu giác ngộ và chánh kiến về
tánh Không. Chiều kích đặc biệt sâu xa và hiệu lực của
Mật thừa trở nên có thể thâm nhập đối với chúng ta trong
thực hành định tâm, trí huệ xuyên thấu và ba phương diện
này. Tất cả tiến trình tiến bộ khởi từ ý định tha hoàn
thành giác ngộ và trải qua bởi ý chí giải thoát khỏi vòng
sanh tử là sự chuẩn bị mở đầu. Sáu đức tính ba la mật
là những dụng cụ của sự hoàn thiện cho những bồ tát,
mà hàng đầu là thiền định và trí huệ đáp ứng những
đòi hỏi của Mật thừa.
Toàn
bộ phương pháp luận của ba thừa – Tiểu, Đại và trong
Đại thừa có hệ thống đại thừa Kinh điển và hệ thống
Tantra – đều theo thì được chứa đựng trong : 1/ những
sơ bộ ; 2/ phần chánh với những thực hành của Bồ tát
; 3/ và những phần phụ bổ sung.
Để
kết luận, Tsongkapa khuyên chúng ta nghiên cứu, rồi đồng
hóa ba điểm chánh này đến mức chúng được gieo vào dòng
hiện sinh của chúng ta và mang lại kết quả :
Sau
khi đã hiểu đúng đắn chúng như thế nào
Ba
phương diện chánh này của con đường trong tinh túy của chúng
Hãy
tìm kiếm sự ẩn cư và làm nảy sanh một sự chuyên cần
dũng mãnh.
Hãy
nhanh chóng đạt đến mục đích cuối cùng của bạn
Sự
thành tựu mục đích trước tiên do bởi nghe những lời dạy,
rồi bởi sự tư duy nó quét sạch mọi ý tưởng sai lầm thành
kiến về những đề mục cần nghiên cứu và dẫn đến chỗ
đồng hóa chúng trọn vẹn ; và cuối cùng, bởi thiền định,
nó loại trừ những loạn tâm và cho phép được nhất tâm.
Đó là tiến trình trong đó ba phương diện chánh của con đường
được hoàn thành và kết quả của nó là sự nhận biết
hoàn toàn Phật tánh.
Đến
đây chấm dứt sự luận giải của chúng ta về bản văn của
Tsongkapa. Giá trị của nó nằm trong sự phong phú của những
kỹ thuật và trong những lời dạy hướng dẫn tuyệt hảo.
Nghe bản văn cũng là một nguồn cảm hứng. Nếu các bạn
giữ gìn ba thái độ này thường trực trong bạn, các bạn
sẽ không biết đến thất bại.
Hãy
quan tâm trau dồi những khuynh hướng tốt. Hãy làm tất cả
để đánh thức tâm hồn bạn. Hạnh phúc của bạn và hạnh
phúc của tất cả, hiện tại và tương lai của chúng ta tùy
thuộc vào đó.
NHỮNG
HÓA THẦN :
ĐÂU
LÀ SỰ BÍ MẬT CỦA CÁC VỊ ? **
Tây
Tạng là một xứ sở có truyền thống văn hóa hoàn toàn đặc
biệt. Về vật chất, chúng tôi nghèo, nhưng gia sản tâm linh
và văn hóa chúng tôi giàu có. Chúng tôi có nhiều để dâng
tặng cho thế giới. Ví dụ, tôi biết vì chính tôi đã thử,
rằng trong lãnh vực sức khỏe, y học của chúng tôi hoàn
toàn hiệu quả, đặc biệt trong trường hợp những bệnh
kinh niên. Vả lại, người Hoa đã không lầm ; mặc dầu họ
đã cố ý xóa bỏ văn hóa Tây Tạng, họ cũng giữ gìn toàn
bộ y học của nó ; chắc chắn y học đó khá có ích để
họ quyết định bảo tồn và phổ biến sự sử dụng.
Những
đồ vật nghệ thuật là biểu trưng một văn hoá, nhưng đó
chỉ là một phương diện. Cái quan trọng nhất không ở trong
hội họa hay những diễn tả nghệ thuật khác, mà ở trong
tâm thức con người. Khi một văn hóa làm sống động tâm
thức của cả một dân tộc trong đời sống hàng ngày của
họ, đó là bằng chứng nó hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ,
những người Tây Tạng nổi tiếng về sự vui vẻ của họ,
đó là một trong những tính cách của chúng tôi. Chúng tôi
không biết điều đó, nhưng nhiều người ngoại quốc đến
thăm chúng tôi ở Ấn Độ thường nhận xét chúng tôi như
vậy. “Đâu là sự bí mật của các vị ?” Đó là câu hỏi
thường xuyên lập lại về tính khí tốt đẹp của chúng
tôi.
Tôi
đã nghĩ rằng nó liên hệ với lý tưởng đại bi của một
bồ tát, mà văn hóa Phật giáo của chúng tôi cho chúng tôi
nhiều kiểu mẫu. Dù có học hay không học, chúng tôi có thói
quen gọi mọi sinh vật là những mẹ những cha của mình :
những từ này chúng tôi luôn nghe được ở xứ sở Tây Tạng.
Ở đó, ngay cả người mà chúng tôi xem là một kẻ vô lại
cũng chỉ có những chữ này trên miệng : “Mọi sinh vật,
mẹ của tôi.” Tôi có cảm tưởng rằng sự đồng hóa này
với với một lý tưởng đại bi là nguồn mạch ch