1
Bản
tánh sáng ngời của tâm thức
Bốn
chân lý cao cả
Nghiệp
Ngã
và vô ngã
Hai
thứ chân lý
Trí
Huệ và Đại Bi : y khoa của đức Phật
Lòng
vị tha và sáu ba la mật
Quyền
hạnh phúc
BẢN
TÁNH SÁNG NGỜI
CỦA
TÂM THỨC *
Thật
là một ích lợi lớn khi có thể đối diện với cuộc sống
bằng một tâm thức tích cực và khá quân bình. Chúng ta hoàn
toàn có lợi khi quen với một tâm thái đúng đắn, nhưng thói
quen nhường bước cho những xúc động xung đột như giận
dữ dựng lên những chướng ngại có tầm cỡ. Tuy nhiên, có
thể vượt khỏi chúng. Chúng ta đạt đến đó bằng cách
chánh niệm nhận ra mỗi một phiền não này ngay khi chúng biểu
lộ và chữa lành nó tức thì. Khi người ta nắm lấy mọi
cơ hội để thực tập như vậy, những phiền não thôi ngự
trị chúng ta trong vòng vài năm. Về lâu về dài, ngay người
dễ nổi giận nhất cũng đạt được sự gìn giữ tính bình
thản.
Vài
người tỏ ra dè dặt : nếu tâm thức không tự do để đi
rông đây đó, chẳng phải người ta đã mất đi sự tự do
mà người ta đã có khi tự điều phục sao ? Không. Sự việc
không xảy ra như vậy. Nếu tâm thức bạn quân bình một cách
đúng đắn, bạn tự do ngay lúc này, và nếu nó cư xử sai,
bạn bắt buộc phải thuần phục nó.
Những
người khác tự hỏi : người ta có thể hoàn toàn chấm dứt
những phiền não hay chỉ có thể đè nén chúng ?
Đối
với Phật giáo, tính cách quy ước của tâm thức biểu lộ
từ một sự sáng ngời trong trẻo. Những khuyết điểm làm
ô uế nó không nội tại nơi bản chất của nó mà chỉ là
ngoại sanh. Chúng can thiệp một cách có chừng mực và như
vậy có thể tách khỏi tâm thức. Nhưng bản tánh tối hậu
nội tại ở tâm thức chính là tánh Không của nó.
Nếu
những tình cảm như ghét thuộc về bản tánh của nó, tâm
thức bắt buộc phải ghét một cách tiên thiên. Rõ ràng không
phải là như vậy. Chúng ta chỉ hình thành giận dữ trong một
vài trường hợp, ngoài ra nó không hiện hữu. Sự thù ghét
và tâm thức quả thật là hai thứ khác biệt – dù cho ở
trong nền tảng, cái này và cái kia đều là bản tánh sáng
tỏ và thông hiểu bởi vì chúng đều thuộc về nguồn cội
của tâm.
Thật
ra, sự thù ghét căn cứ trên cái gì ? Trên những quá khích,
phóng đại làm méo mó thực tại : chúng ta phải phủ lên
những hiện tượng một lớp vẹc ni làm cho chúng ta thấy
chúng xấu hay đáng ghét. Từ đó, chúng ta hình thành cơn giận
đối với tất cả thứ gì dựng lên giữa chúng ta và ham
muốn của chúng ta. Vậy thì tâm thức không có lý do gì để
nâng đỡ cho sự thù ghét đó. Trái lại, rất đỗi hợp lý
để mà thương yêu. Khi ác ý chống đối lại thiện tâm,
cái này thế nào rồi cũng lôi cuốn nó theo mình.
Nếu
chúng ta kiên trì trong một cách cư xử đúng đắn, nghiêm
nhặt, với thời gian những phản ứng tai hại và vô căn cứ
sẽ càng ngày càng hiếm. Những thái độ đúng đắn, đặt
nền trên cái chân thực sẽ đến với chúng ta một cách tự
nhiên. Khi các bạn tập nhảy xa, thành tích của các bạn tùy
thuộc vào thân thể các bạn. Nó tuân theo những bó buộc
của vật chất ; vật chất đặt ra những hạn chế cho sự
mềm dẻo của thân. Tâm thức, tự nó, chỉ là sự sáng sủa
và hiểu biết. Nó không chỉ không biết đến những giới
hạn thuộc loại này, mà với một sự tập luyện dần dà,
mọi phẩm tính quy định sự quân bình của nó chỉ có cách
là nở bừng nơi tâm thức.
Ai
cũng biết khả năng bao la của mình trong việc ghi nhớ, số
thông tin khó tin nổi mà họ có khả năng cất chứa trong một
tiến trình có phương pháp. Bây giờ, bạn chỉ nhớ giữ được
ít bởi vì bạn chỉ dùng những mức độ sơ khai nhất của
tâm thức. Nhưng khi bạn biết tìm kiếm chiều kích vi tế
nhất của nó, các bạn sẽ nhớ được rất nhiều.
Những
yếu tố quân bình có một tiềm năng phát triển vô tận.
Chỉ cần chúng ta biết rút ra sự lợi lạc. Chúng ta càng
đặt mình vào phía những thái độ tốt lành, chúng là những
đối trọng chống lại sự độc hại của những phiền não,
thì những cái này càng ít có thể làm hại chúng ta. Và nếu
chúng ta kiên trì, chúng sẽ hoàn toàn thôi tác hại đến chúng
ta.
Thế
nên, phải nói rằng : tâm thức của chúng ta chỉ là quang
minh và hiểu biết, với nó tất cả chúng ta đều có chất
thể căn bản quyết định cho sự đạt được Phật tánh.
Tư
tưởng Phật giáo đặt nền trên yếu tố này, nó bày tỏ
khả năng toàn giác tiềm ẩn trong tâm thức, khả năng đó
được tỏ rõ bởi bản tánh quang minh và hiểu biết của
tâm thức. Luận đề này cho phép đề xướng rằng những
thái độ hài hòa có thể nhân lên đến vô tận.
Vậy
thì cực kỳ quan trọng nên chăm chú hàng ngày vào sự tìm
kiếm bản chất quy ước của tâm thức, để học cách nhận
ra nó và tập trung vào nó.
Các
bạn chớ chán nản vì khó khăn. Những tư tưởng đến như
hơi nước làm mờ sự trong sáng tự nhiên của gương tâm
và tấm màn tạo bằng những tư tưởng ấy ngăn cản các
bạn nhận ra nó.
Để
bắt đầu, chớ bằng lòng đi theo trí nhớ trong những hồi
ức của nó. Chớ phóng mình theo những chuyện tương lai. Hãy
để cho tâm thức trôi chảy trong sắc độ riêng của nó,
không khoác vào ý niệm. Hãy quan sát nó trong trạng thái yên
nghỉ, trần truồng, trinh bạch với mọi tư tưởng.
Nếu
các bạn còn chưa quen với sự thực hành này, ban đầu hình
như với các bạn có đôi chút khó khăn ; nhưng đến một
lúc tâm thức được nhìn thấy như nước trong trẻo. Hãy
ở như thế. Quan sát dòng tư tưởng không có hình thể này
mà không tưởng tượng gì cả.
Sự
thiền định này được yêu cầu làm vào sáng sớm, khi tâm
thức tỉnh thức và trong sáng. Lúc này là tốt nhất vì các
giác quan chưa hoàn toàn hoạt động. Nếu bạn ăn ít vào tối
hôm trước và không ngủ quá nhiều, tâm thức sẽ thanh nhẹ
và sắc bén hơn vào lúc thức giấc. Dần dần, nó sẽ có
được sự an định vững vàng, sự chú ý và trí nhớ sáng
tỏ và chính xác.
Sự
thực hành này có thể làm cho các tri giác của bạn thêm sắc
bén. Hãy tỉnh giác trong sự thực hành đó suốt cả ngày.
Trong thời gian không lâu, các bạn sẽ nhận thấy những tư
tưởng thanh thản và êm ả hơn. Khả năng trí nhớ của các
bạn khi mở rộng sẽ kích thích khả năng thấu thị phát
sanh từ một sự chú tâm rất tinh tế. Về lâu dài, tâm thức
các bạn sẽ có một sự sắc bén và sống động khiến nó
tỏ ra có hiệu quả trong vài lãnh vực nào đó.
Nếu
các bạn chỉ làm một thời thiền định ngắn trong mỗi ngày,
tâm thức các bạn sẽ mất thói quen phân tán. Nó sẽ trầm
mình trong sự quan sát chỉ một đối tượng. Các bạn sẽ
phong phú đáng kể nhờ đó.
Trí
tưởng tượng làm các bạn xoay vòng vô tận, mong ước điều
thích, chối bỏ điều không thích, và tất cả những thứ
theo đó cuối cùng sẽ có thể êm dịu trở lại. Một khoảng
lặng nhỏ trong cái vô niệm, đó là một chút an nghỉ. Đấy
đã là những khoảng trống vắng để nghỉ ngơi…
BỐN
CHÂN LÝ CAO CẢ *
Trong
tổng thể, mọi tôn giáo có một động cơ tương tự, chúng
được phấn kích bởi tình thương và bi mẫn, và nếu quan
điểm triết lý của chúng bao gồm những khác biệt rộng
lớn, chúng có ít ra là một mục tiêu chung : làm cho con người
tiến bộ. Tuy nhiên, mỗi tôn giáo có những phương pháp riêng
để đạt được điều đó. Thế kỷ chúng ta đã làm một
bước nhảy khổng lồ trong sự truyền thông, và vì thế,
hành tinh chúng ta trở nên càng ngày càng nhỏ hơn, nhưng chính
đó là một dịp quý giá để chúng ta đến gần nhau, khám
phá lẫn nhau trong những khác biệt văn hóa của chúng ta, trao
đổi những quan điểm của chúng ta. Chúng ta có biết bao điều
để học hỏi lẫn nhau, để rút tỉa ra từ đó.
Chẳng
hạn những người Thiên Chúa giáo đã biết đem những phương
tiện hoàn toàn hiệu quả để phụng sự nhân loại mà những
người Phật giáo có thể mô phỏng, đặc biệt là trong những
lãnh vực giáo dục và sức khỏe. Đồng thời, người ta tìm
thấy trong Phật giáo những phương pháp tinh vi về thiền định
sâu xa và một biện chứng pháp chặt chẽ có thể có lợi
cho những người Thiên Chúa giáo. Chính như thế mà ở Ấn
độ cổ thời, những người Ấn giáo và Phật giáo đã làm
phong phú lẫn nhau nhiều.
Chúng
ta không có nguy cơ gì khi trao đổi những hiểu biết của
chúng ta, điều ấy chỉ có thể giúp chúng ta phát triển một
sự kính trọng lẫn nhau, bao giờ mà phía này và phía kia,
chúng ta chỉ mong muốn điều tốt đẹp cho nhân loại. Chính
trong tinh thần này mà bây giờ tôi sắp trình bày một vài
nét của tư tưởng Phật giáo.
Giáo
lý của Phật hoàn toàn được xây dựng trên bốn Chân Lý
Cao Cả : những chân lý về những sự khổ, về những nguồn
gốc, về những sự dừng dứt và về những con đường. Bốn
Chân lý Cao cả tạo thành hai nhóm quả và nhân :
–
¬Những khổ đau và những nguyên nhân của chúng.
–
–
Những sự dừng dứt khổ và những con đường để thực
hiện sự dừng dứt chúng.
–
Khổ
thì giống như một cơn bệnh : những điều kiện bên ngoài
và bên trong chịu trách nhiệm về cơn bệnh đó là những
nguồn gốc, sự dừng dứt khổ cùng những nguyên nhân của
khổ là sự lành bệnh. Những con đường đích thực là những
phương thuốc.
Thứ
tự những hậu quả (khổ và diệt khổ) đứng trước những
nguyên nhân (nguồn gốc của khổ và những con đường) có
lý do của nó. Trước hết cần biết rằng người ta đã mắc
một cơn đau bệnh, nghĩa là tin vào sự có mặt của khổ
(Chân lý cao cả thứ nhất). Nhưng điều đó chưa đủ ; còn
phải biết rõ những nguyên nhân gây bệnh để tìm ra thuốc
chữa. Những nguyên nhân ấy sáng tỏ khi nghiên cứu cái thứ
hai của bốn Chân lý, Chân lý về những nguyên nhân. Nếu
điều quan trọng là tìm ra gốc gác của căn bệnh, thì cũng
chính yếu không kém khi biết có thể chữa lành được không.
Sự tin tưởng có phương thuốc liên hệ đến mức độ thứ
ba trong đó sự có thật của sự diệt dứt và những nguyên
nhân kèm theo được bày tỏ.
Một
khi chúng ta đã nhận ra bệnh, hiểu rõ những nguyên nhân của
nó, có được sự xác tín rằng có thể chữa lành, chúng
ta chỉ còn phải dùng những phương thuốc và theo cách sử
dụng để chấm dứt nó. Phải tin tưởng vào thứ tự này
để mượn những con đường trên đó người ta gặp được
trạng thái thoát khỏi mọi khổ đau.
Bước
đầu tiên không thể sai chạy cốt ở nhận ra sự khổ. Nó
biểu lộ một cách tổng quát dưới ba hình thức chính : khổ
của khổ (khổ khổ), khổ của sự biến dịch (hoại khổ),
khổ nội tại và cấu tạo nên thân phận con người (hành
khổ).
Ở
mức độ đầu tiên, có sự khổ mà chúng ta thường gọi
là đau đớn thể xác hay tinh thần, ví dụ đau đầu. Ước
mong thoát khỏi nó không riêng với con người ; con vật cũng
muốn thế. Có những phương tiện để ngăn trừ nó, như dùng
một thứ thuốc, mặc ấm hơn hay tránh xa nguồn gốc của
nó.
Mức
dộ thứ hai, khổ của sự biến hoại, gồm những hình thức
bề ngoài của lạc thú mà khi phân tích kỹ càng, chúng phát
lộ bản chất khổ của chúng. Đây là một ví dụ : thường
thường, mua một chiếc xe hơi mới được xem như một biến
cố dễ chịu, và ban đầu các bạn tìm thấy một lạc thú
bao la khi lái nó. Nhưng càng dùng nó bao nhiêu, nó càng đặt
ra cho các bạn những vấn đề. Nếu vật là một nguồn thỏa
mãn tự thân, hiệu quả lạc thú phải tăng lên tỷ lệ với
sự dùng nó. Vậy mà điều ngược lại đã xảy ra. Càng dùng
nó bao nhiêu, chiếc xe của bạn càng gây cho bạn nhiều mối
phiền não. Sự biến hoại ở đây phát lộ bản chất khổ
sở của nó, do đó mà có tên khổ của sự biến hoại.
Phương
diện thứ ba của khổ là cái căn cứ từ đó phát xuất ra
hai cái kia, và những hợp thể (các uẩn) nhiễm ô của thân
và tâm là đại diện cho cái khổ này. Người ta gọi nó là
sự khổ nội tại và cấu tạo nên tình trạng hiện hữu.
Bởi vì mọi chúng sanh đang lưu chuyển đều thấm nhuần cái
khổ này, người ta gọi nó là “nội tại”. “Cấu tạo”
chỉ ra rằng nó không chỉ nằm ở nền tảng của khổ đau
hiện tại, mà còn khởi dẫn cái khổ sắp đến. Nó là không
lối thoát, trừ khi người ta chấm dứt dòng tái sanh.
Bắt
đầu, nên nhận biết ba hình thức khổ não này, biết rằng
danh từ khổ này không độc nhất để chỉ cảm xúc khổ,
mà còn chỉ những tiến trình bên ngoài và bên trong chúng
xác định cái khổ và cả những trạng thái tâm thức và
những yếu tố tâm thức đi theo. Đó là tất cả những gì
cái khổ bao trùm.
Đâu
là những nguyên nhân của nó ? Nó nảy sanh thế nào ? Nó phát
xuất từ hai nguồn : nghiệp – hành động – và những phiền
não. Đó là điều chúng ta học được từ Chân lý cao cả
thứ hai về những nguyên nhân thực sự của nó. Nghiệp trả
lại những hành động nhiễm ô của thân, ngữ, ý ; nó có
loại tốt, loại không tốt và loại trung tính. Loại tốt
kéo theo những kết quả vui hay tích cực ; loại xấu, những
kết quả khổ hay tiêu cực.
Ba
phiền não chính là biết lầm, tham lam và sân hận, từ đó
ghen ghét, ác cảm và nhiều cái khác phát sanh thêm. Để chấm
dứt những hành động làm phát khởi khổ đau, phải làm khô
cạn những yếu tố rối loạn là những nguồn sanh sống và
là những nguyên nhân chính của chúng. Ở giai đoạn này, người
ta tự hỏi : có thể chấm dứt nó không ? Với câu hỏi này,
người ta lập tức đi vào trung tâm của Chân lý cao cả thứ
ba, sự thực của sự diệt dứt.
Nếu
những phiền não là nội tại, sẵn có nơi bản tánh của
tâm thức, thì chữa lành là vô phương, bởi vì, trong một
giả thiết như vậy, sân giận chẳng hạn, sẽ thường hằng
hiện hữu nơi chúng ta. Nó chỉ tắt mất với tâm thức chúng
ta, và cũng thế đối với tham. Rõ ràng không phải như vậy.
Điều đó chứng minh rằng bản tánh của tâm thức không bị
ô nhiễm bởi các khuyết điểm ; vậy thì không có gì ngăn
cản chúng ta nhổ tuyệt chúng bởi vì chúng thì tách biệt
với tâm thức bổn nguyên.
Hiển
nhiên, những vận động tích cực và những vận động tiêu
cực không tương hợp với nhau : tình thương và giận dữ
không thể hiện hữu cùng một lúc. Ngay lúc các bạn giận
dữ với ai, bạn không cảm thấy tình thương dành cho nó và
ngược lại. Đó là dấu hiệu hai trạng thái này của tâm
thức ngược lại với nhau, khai trừ lẫn nhau. Khi người ta
chọn một loại tâm thái nào, những cái khác yếu đi một
cách hoàn toàn tự nhiên. Thế nên khi người ta gắn bó với
tình thương và lòng tốt, người ta phát triển mặt tích cực
của tư tưởng, và cái đối ngịch với nó dần biến mất.
Đó là những chứng cớ chứng tỏ rằng những nguồn mạch
của khổ có thể dần dần khô cạn. Sau khi tắt hết mọi
nguyên nhân của khổ, đó là sự diệt độ thực sự, sự
giải thoát tối hậu, sự thanh bình đích thực miên viễn,
sự cứu độ : đó là cái thứ ba của Bốn Chân lý Cao cả.
Đâu
là con đường người ta cần mượn, người ta thực hành thế
nào để đạt đến đó ? Những bất toàn chủ yếu đến
từ tâm thức chúng ta, cũng chính từ tâm thức mà cái nghịch
lại sẽ đến. Vậy thì, nếu quan trọng là khám phá cách
thế hiện hữu rốt ráo của tất cả hiện tượng, thì cách
thế nền tảng tối hậu của tâm thức sẽ là sự quan tâm
hàng đầu của chúng ta.
Cần
phải tìm hiểu nó một cách mới mẻ, trực tiếp, hoàn toàn
vượt khỏi nhị nguyên, giải mã bản tánh rốt ráo của nó,
thực sự nó là gì ; đó là điều người ta gọi là Con đường
của Cái Thấy (Kiến Đạo vị). Giai đoạn sau, người ta làm
quen với cách thức tri giác này, và đó là Con đường của
Thiền Định (Tu Tập vị).
Nhưng
trong một thời gian đầu, người ta phải đạt đến chỗ
làm an định tâm thức trong một trạng thái định gồm hai,
bằng cách kết hợp định tâm và cái thấy xuyên thấu. Trên
nguyên tắc, để có được một năng lực mạnh mẽ để thấu
hiểu cái thật, cần thiết phải phát triển trước sự an
định tâm thức này mà người ta gọi là “định”.
Đây
là những giai đoạn của con đường (Chân Lý Cao Cả thứ
tư), cho phép thành tựu, hiện thực hóa sự diệt dứt (Chân
Lý Cao Cả thứ ba) và chấm dứt cho khổ đau và cho những
nguồn gốc của chúng (Chân Lý Cao Cả thứ nhất và thứ nhì).
Bốn chân lý này cấu thành toàn bộ tư tưởng và thực hành
của đạo Phật.
Câu
hỏi : Thoạt nhìn, hình như khó hòa giải nguyên lý Phật giáo
về sự diệt dứt của ham muốn với tham vọng, được Tây
phương xem như một phẩm tính đi đôi với ham muốn.
Trả
lời : Có hai loại ham muốn, một thứ thì phi lý và đầy
những kích thích bi thảm, trong khi nhờ vào cái kia mà các
bạn nhận ra cái gì tốt như là tốt và các bạn cố gắng
đạt đến nó. Cái sau thì đáng giá, vả lại chính nhờ nó
mà người ta đi tìm chân lý dấn thân vào thực hành. Cũng
thế, sự tìm kiếm tiến bộ vật chất cho điều tốt đẹp
của nhân loại là đúng đắn.
NGHIỆP
*
Sướng
và khổ lưu xuất từ những hành động quá khứ của chúng
ta. Để định nghĩa nghiệp (karma) trong vài chữ, người ta
có thể nói : hãy làm tốt, tất cả sẽ tốt ; nếu làm xấu,
tất cả sẽ xấu.
Karma,
nghiệp có nghĩa là “hành động”. Nó hoạt động theo ba
mặt : thân, lời và ý. Nó sản sinh ra ba loại hậu quả :
xấu, không xấu và trung tính, và diễn ra trong hai thời : trước
tiên người ta nghĩ đến điều sắp làm, đó là hành động
ý định, rồi những động lực tâm thức hiện thực thành
một hành vi thân xác hay lời nói, đó là hành động cố ý.
Ví
dụ, trong lúc này ; khi phát biểu với một ý định nào đó,
tôi hoàn thành một hành động thuộc về lời nói, vậy thì
tôi cất chứa nghiệp. Với những cử chỉ của hai tay tôi,
tôi làm sanh ra nghiệp về thân xác. Tính chất tích cực hay
tiêu cực của những hoạt động này tùy thuộc động lực
kích động tôi. Nếu động lực là trong sạch, nghĩa là nếu
tôi nói với các bạn với sự thành thật, tôn trọng, trong
một tinh thần vị tha, thì những hành vi của tôi sẽ tốt.
Nếu tôi bị thúc đẩy bởi kiêu căng, thù hận, nói ác…
những hành động thân và lời của tôi sẽ trở nên không
tốt.
Những
hành vi thường xuyên được sản sinh ra như vậy. Khi lời
nói là sự biểu lộ của những động lực tốt đẹp, một
không khí thân ái được thiết lập, nhưng vượt qua khỏi
kết quả tức thời này, hành động để lại một dấu vết
trong tâm thức diễn giả, dẫn khởi những hậu quả vui sướng
trong
tương lai. Nếu những lời nói của diễn giả che dấu một
hậu ý gây tác hại, một không khí thù ngịch được thiết
lập tức thì, với những hậu quả buồn thảm mai sau.
Khi
đức Phật dạy rằng người ta là chủ nhân của chính mình,
rằng tất cả tùy thuộc vào mình, có nghĩa là sung sướng
và khổ sở đến từ những hành vi tốt và không tốt, rằng
chúng hun đúc thành không phải từ bên ngoài mà ở nơi sâu
xa nhất của chính mình. Cái nhìn này cho một cảnh trạng
thực tiễn trong việc hàng ngày : khi tương quan giữa nhân
và quả được thiết lập, người ta không cần nữa một
ông cảnh sát nào để bắt buộc chúng ta phải cẩn trọng,
lương tri sẽ thay thế chỗ ấy. Ví dụ, hãy giả thiết ở
đây có một mớ tiền hay một viên ngọc quý và không có
ai cả ở chung quanh, các bạn có thể dễ dàng chiếm lấy
nó. Nhưng nếu các bạn biết rằng toàn bộ trách nhiệm về
tương lai của các bạn đang nằm trong tay của các bạn, các
bạn sẽ không làm thế.
Trong
xã hội hiện đại, mặc dù những hệ thống cảnh sát rất
phức tạp và kỹ thuật chúng ta rất cao, những hành vi khủng
bố xảy ra cũng không kém. Một mặt, những người này dùng
những phương tiện an ninh tối tân nhất để làm thất bại
những kẻ mà ở mặt kia lại trở nên còn sáng tạo hơn trong
việc thực hiện những trọng tội của họ. Người gìn giữ
hòa bình thực sự duy nhất là nơi chính mình. Chính đó là
“người canh đêm” ý thức về trách nhiệm của mình trong
cái liên hệ đến tương lai của nó và nó quên chính mình
cho hạnh phúc của tất cả.
Về
phương diện thực hành, sự kiểm soát tốt nhất tội phạm
là sự kiểm soát mà mỗi người thi hành trên chính mình.
Sự thay đổi bên trong là cái có thể chấm dứt cho sự phạm
tội và thiết lập hòa bình xã hội, nhưng nó đòi hỏi tự
hiểu biết chính mình. Lý thuyết Phật giáo về sự tự trách
nhiệm là đặc biệt thích đáng ; nó dẫn đến tự hỏi và
tự chế phục đồng thời trong lợi ích của riêng mình và
trong lợi ích của người khác.
Về
những hệ quả khác nhau của hành động, chúng cũng cần được
nghiên cứu sâu. Một trong số đó được gọi là “quả của
sự kết trái”. Giả thử, sau một hành vi xấu, một người
nào đó chuyển đến trong một hóa thân xấu, dưới hình thức
thú vật chẳng hạn ; sự tái sanh này là một kết quả của
sự kết trái mà nguyên nhân ngược về một đời nào trước
đó. Cũng có cái mà người ta gọi là “kinh nghiệm về quả
tương tự với nhân”. Đây là một trường hợp : hãy tưởng
tượng rằng, sau khi di chuyển vào một tái sanh không may mắn
sau một tội lỗi, các bạn tái sanh làm người, cuộc đời
của các bạn sẽ ngắn ngủi : quả (một cuộc đời ngắn
ngủi) với tư cách là cái được kinh nghiệm, tương tự với
nhân (sự kiện đã rút ngắn cuộc đời người khác). Cũng
có một hiện tượng gọi là “quả của sự hồi sinh bị
điều kiện hóa” để có thể làm sáng tỏ sự kiện tự
nhiên có khuynh hướng làm lại cùng loại hành động xấu
như giết chẳng hạn.
Nhưng
ví dụ này cũng áp dụng – trong những hậu quả ngược lại
– cho kết quả của những hành vi tốt. Còn phải kể những
hành động làm tập thể, mà những hệ quả của chúng được
mọi thành viên kinh nghiệm. Trong trường hợp này, một toàn
bộ những cá nhân có thể cùng được chuyển sanh để chia
xẻ với nhau cùng một môi trường, cảnh giới nào đó.
Nhưng,
tựu trung, mọi chỉ dẫn này về nhân quả của hành vi chỉ
có ích lợi trong mức độ chúng góp phần vào việc cải thiện
đời sống xã hội. Dầu chúng ta là tín đồ hay không, tôi
hy vọng rằng chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu những văn
hóa riêng khác của chúng ta để đem làm của chung cái gì
trong mỗi nền văn hóa có thể lợi lạc cho tất cả.
NGÃ
VÀ VÔ NGÃ *
Lịch
sự, lịch thiệp, ngoại giao là những phẩm chất đáng biểu
dương thật, nhưng chúng nằm ở bề ngoài. Trong khi một tâm
hồn cởi mở, thẳng thắn và thành thật cho phép chúng ta
đi sâu rất nhiều trong những mối liên lạc của chúng ta.
Để những mối dây tình bạn có thể kết chặt, trước hết
cần phải hiểu nhau. Không vậy thì khó mà thiết lập một
không khí tin cậy, trở nên gần gũi và còn nan giải hơn là
duy trì hòa bình. Những phẩm chất của tấm lòng thì thiết
yếu để tiếp thông tốt đẹp. Ngày nay, những mối tương
quan đã phi nhân bản thêm đôi chút. Điều này kéo theo một
sự thiếu tôn trọng đối với con người, và người ta đi
đến chỗ nhìn con người như họ không hơn gì bánh xe trong
bộ máy.
Nếu
chúng ta đến chỗ mất đi ý nghĩa về giá trị con người,
đó sẽ là một thảm họa thật sự. Không có một tài sản
nào có thể so sánh với một con người. Tiền bạc được
tạo ra để phụng sự con người, ngược lại là không đúng.
Nếu chúng ta chỉ mong mỏi sự phát triển vật chất mà không
để ý đến những giá trị và phẩm giá con người, chúng
ta chỉ rút ra được sự phiền muộn, stress, khổ tâm và tuyệt
vọng.
Chúng
ta hãy ý thức hơn sự kiện làm người có nghĩa là gì. Chúng
ta hãy nhớ rằng điều ấy nói lên vô số khả tính. Sự
cương quyết, can đảm, tự tin là những yếu tố mạnh mẽ
của thành công. Không có chúng, công việc đơn giản nhất
cũng thất bại. Với sự can đảm, nghiêm túc và chăm chỉ,
các bạn có thể thực hiện những điều vượt quá tưởng
tượng, cái không thể trở thành cái có thể. Ý chí thì vô
cùng quan trọng.
Làm
thế nào phát triển nó ? Trong lãnh vực này, kỹ thuật cơ
khí thì bất lực, tiền bạc cũng thế. Người ta chỉ có
thể trông chờ vào năng lực bên trong của mình đặt nền
tảng trên một ý thức rõ ràng về giá trị và phẩm giá
của con người. Khi người ta hiểu đàn ông và đàn bà thì
quý giá hơn bất cứ thứ tài sản vật chất nào ra sao, người
ta biết được giá trị của đời người. Lòng bi và lòng
tốt với tất cả ý nghĩa của chúng khởi từ đó.
Bản
chất con người là hướng về hạnh phúc và từ chối khổ
đau. Mỗi người làm tất cả những gì có thể làm để đạt
đến đó và điều ấy là hoàn toàn chính đáng. Về mặt
này, dù chúng ta giàu hay nghèo, thông thái hay ít học, Tây
phương hay Đông phương, có tôn giáo hay không tôn giáo, Phật
giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo hay Hồi giáo… chúng ta
không khác biệt, chúng ta đều như nhau.
Ví
dụ, về phần tôi, tôi đến từ Đông phương và chính xác
hơn là từ Tây Tạng. Trong xứ ấy, những hoàn cảnh sống
rất khác với các bạn ở Tây phương. Nhưng tự trong nền
tảng của tôi, tôi là một người ; các bạn cũng thế ; chúng
ta giống nhau. Nếu nhìn trái đất nhỏ bé này từ không gian,
chúng ta sẽ không thấy có biên giới nào. Mọi hàng rào hoàn
toàn là nhân tạo. Chúng ta tạo ra những phân biệt từ màu
da, từ nơi chốn địa lý… và từ đó chúng ta có cảm giác
bị chia cách. Vì thế mà có những xung đột, tranh cãi, cả
đến những cuộc chiến tranh. Trong một cái nhìn rộng lớn
hơn, tất cả chúng ta là anh chị em của nhau.
Khi
sống với đồng loại, cần có một thái độ anh em đối
với những người khác ; đó là một điều tốt đẹp cho
họ và cho chính chúng ta. Đời sống hàng ngày trôi chảy thanh
bình hơn, chúng ta cũng duy trì sự bình an của mình. Nói thế
không phải là chúng ta thành công trong mọi sự ; tự nhiên
phải có nếm mùi thất bại, nhưng sự thanh thản của chúng
ta sẽ không bị chao động. Khi người ta thiết yếu quan tâm
đến số phận của những người khác, thất bại không thể
làm chúng ta mất vững chãi, những vấn đề không bao giờ
là không thể vượt qua được. Các bạn không mất sự bình
tĩnh trước các trở ngại và những gì tham dự vào đời
sống hàng ngày của các bạn tự để cho sự bình an và không
khí thanh bình toát ra từ các bạn xâm chiếm lấy.
Trái
lại, nếu các bạn nhường chỗ cho căng thẳng và giận dữ,
sự yên bình của bạn sẽ chấm dứt. Những tình cảm xung
đột cháy bùng, ham muốn và tức giận quấy rầy giấc ngủ
các bạn, bạn không thể ăn gì ngay trước những món ăn sở
thích. Các bạn muốn thỏa mãn sự giận dữ của mình. Những
người thân, những con mèo, những con chó của bạn cũng phải
chịu đựng việc đó. Thậm chí bạn sẵn sàng tống bạn
bè ra khỏi cửa. Thanh bình bị hủy hoại. Đó là kết quả
của giận dữ. Chúng ta biết tất cả những điều đó. Tất
cả đều nặng nề, những sự bùng nổ của sân hận, không
mang lại cho chúng ta một cởi mở nhẹ nhàng nào, lại làm
cho hỗn loạn. Những bạn bè, người chung quanh, người thân
cũng tránh chúng ta.
Thái
độ bên trong là cái quyết định trong đời sống cá nhân
cũng như trong đời sống xã hội.
Những
tiến bộ của khoa học và kỹ thuật mở cho chúng ta không
gian. Kỳ diệu biết bao ! Những lãnh vực này đã làm tôi
say mê từ tuổi thơ ấu, chúng đầy sự bổ ích cho nhân loại.
Nhưng sự khám phá bên trong cũng xứng đáng cho những cố
gắng của chúng ta. Trong lãnh vực tâm thức, còn những khoảng
không gian bao la để khám phá, thám hiểm. “Tôi là ai ? Bản
chất của tâm thức tôi là gì ? Một ý tưởng tốt lành tử
tế có lợi ra sao ? Một tư tưởng ác tâm có lợi ích gì
?” Hãy thường trực sự đối thoại này với chính các bạn.
Chớ bỏ qua những câu hỏi này.
Sự
suy nghĩ này sẽ làm rõ chiều kích của tâm thức các bạn,
nó thật sự là một kẻ phá đám và cần thiết phải làm
chủ nó. Các bạn sẽ nhận ra rằng chiều kích kia là lợi
lạc cho các bạn, cho những người khác, và nó xứng đáng
được phát triển rộng rãi hơn nữa. Tự kiểm nghiệm theo
cách ấy thì hoàn toàn thú vị. Tôi chỉ là một nhà sư Phật
giáo, và mặc dầu kinh nghiệm của tôi không phải là đặc
biệt, tôi có thể thưởng thức những lợi lạc của một
thái độ từ bi, kính mến đối với những con người. Đã
nhiều năm, tôi thử trau dồi những đức tính này và mặc
dầu những hoàn cảnh khó khăn, tôi thấy rằng con đường
đi ấy đã làm tôi thành một người sung sướng. Nếu tôi
để thì giờ để thở than cho số phận mình, điều ấy không
mấy hiệu quả. Một người trĩu nặng buồn phiền không có
sức mạnh nào đối với thực tại. Nhưng biết chấp nhận
những cú của số phận không có nghĩa là buông tay. Chúng
ta làm mọi cách để vượt lên bi kịch của chúng ta bằng
cách hoàn toàn bình an và vững vàng. Tôi nói với các bạn
kinh nghiệm của tôi như tôi đã làm thế khắp nơi chỗ nào
tôi đã đến. Với tất cả các bạn của tôi, tôi nói sự
quan trọng của từ và bi. Những từ này có thể đã bị làm
ô danh, nhưng cái mà chúng chứa đựng thì đầy giá trị.
Vả lại, nói đến tình thương, lòng bi mẫn và lòng tốt
thì dễ dàng. Nhưng đó không phải là những danh từ. Chúng
chỉ có ý nghĩa thật sự khi chúng diễn dịch ra trong mỗi
một cử chỉ của đời sống thường nhật. Lúc đó người
ta mới biết tất cả giá trị của chúng. Hãy thử áp dụng
chúng nếu bạn muốn, còn không thì chớ nghĩ đến nữa.
Ban
đầu khi đến Tây phương, tôi không có mục tiêu rõ ràng
nào, nếu không nói là để thay đổi cảnh quan. Dần dần,
tôi đi đến chỗ khuyến khích sự thực hành từ bi và cổ
vũ cho những trao đổi giữa các tôn giáo để có một sự
hiểu biết lẫn nhau tốt hơn. Thời gian sau này, tôi đã gặp
những đại diện của các tôn giáo khác nhau. Những điểm
căn bản chung đã kết nối họ : tình thương và tình anh em.
Tất cả hướng về cùng một mục đích : hạnh phúc của
nhân loại. Dầu có những sự khác biệt triết lý, tôi thành
thật kính trọng tất cả tôn giáo khi chúng truyền vào cho
các tín đồ của mình những phương pháp để đạt được
bình an.
Khi
người ta tham thiền về lòng bi, cần phải nhờ đến trí
huệ. Trí huệ có khả năng phát triển lòng bi đến vô biên,
vì khi làm cho chúng ta thâm nhập bản tánh của những hiện
tượng, nó cho phép chúng ta chấm dứt những phiền não ngăn
chận sự phát triển của lòng bi. Thật vậy, những phiền
não làm biến dạng thực tại bằng cách che phủ thực tại
bằng những ý niệm tốt, xấu thái quá so với cái thực sự
là. Tóm lại, một khi bạo lực của tham muốn hay thù hận
đã qua đi, chúng ta lại thấy cái đã gây ra mối kích động
rõ ràng khác hẳn đến nỗi chúng ta tự cười mình. Phương
tiện để đoạn tuyệt với cái thấy sai lầm này và để
tránh những phản ứng xấu mà nó gây ra cốt ở hiểu thấu
thực tại tối hậu của những hiện tượng và khám phá rằng
tất cả đều không có tự ngã.
Khi
người ta tìm cách thâm nhập thực tại tối hậu của những
hiện tượng, sự tìm kiếm liên quan đến hai mặt : con người
(ngã) và hiện tượng (pháp). Bản tánh tối hậu thì rất
khó chứng nghiệm đối với những hiện tượng, trước tiên
chúng ta quan tâm đến sự khám phá bản chất thật của con
người.
Để
đến đó, câu hỏi đầu tiên đặt ra là : cái gì là con người
? Cái gì là cái ngã ? Triết học Phật giáo chủ trương luận
đề vô ngã. Nghĩa là cái ngã không hiện hữu chăng ? Trong
trường hợp đó, những cá nhân thì không hiện hữu, và cũng
không có người nào để tư duy về vô ngã và cũng không có
ai để gởi đến lòng bi. Vậy mà kinh nghiệm lại cho chúng
ta một sự cải chính thường trực : có những con người,
và họ có một cái ngã. Thế thì, lý thuyết vô ngã này có
nghĩa gì ? Chẳng phải đấy là một mâu thuẫn khổng lồ
sao ? Hoàn toàn không. Hãy tham thảo kinh nghiệm riêng của các
bạn, hãy quan sát cái ngã của các bạn và các bạn sẽ hiểu
tại sao đấy không là mâu thuẫn.
Bạn
cảm thấy cái ngã của bạn thế nào khi bạn thư giãn ? Bạn
có nhận thấy nó như khi đang căng thẳng nóng nảy hay là
khác ? Hãy giả thiết, ví dụ người ta đến tố cáo bạn
một trọng tội mà bạn không có : “Chính anh đã phạm vào
việc ấy !” Bạn thấy gì trong nội tâm khi bạn nghĩ : “Tôi
! Nhưng điều đó không đúng !” Cái ngã này xuất hiện với
bạn như thế nào ? Một cách khác để vạch ra cái ngã là
gợi lại kỷ niệm về một kẻ thù và nghĩ đến sự sai
trái người đó đã làm cho bạn. Lúc ấy kẻ thù hiện ra
trong tâm thức bạn rõ ràng như nó hiện hữu thật sự, cụ
thể đến nỗi bạn có thể dùng ngón tay để chỉ ra nó.
Tất cả những hiện tượng khác cũng như vậy : chúng dường
như hiện hữu tự chúng, nhưng chẳng có gì cả. Cái hình
như hiện diện tự nó được gọi là “ngã”, và sự không
hiện diện của một cái ngã như thế là cái chúng ta hiểu
là “vô ngã”, dầu nó thuộc về chủ thể hay hiện tượng
khác.
Chúng
ta có cái ngã – hay là con người mình – với rất nhiều
hình ảnh. Dưới một góc độ, nó hình như thường hằng,
nhất tính, hiện hữu bởi những phương tiện riêng của nó
; trong trường hợp này, nó xuất hiện như một thực thể
phân biệt với tâm thức và thân thể, như người sử dụng
hay người sở hữu tâm thức và thân thể. Hai thứ này bấy
giờ được xem là những dụng cụ hay tài sản của nó. Không
có luận đề Phật giáo nào chấp nhận thực tại của một
cái ngã như thế. Một hay hai phụ phái của trường phái Đại
Giảng Luận (Vaibhashika) có vài điểm khác biệt, nhưng đó
chỉ là những ngoại lệ.
Dưới
một phương diện khác, cái ngã giống như một thực thể
có chất thể và tự chủ, nhưng trong trường hợp này nó
cũng cùng bản chất với thân và tâm. Quan niệm này đáp ứng
đồng thời cho những hình thức của ý thức bẩm sinh và
sở đắc.
Người
ta có thể nghĩ rằng cái ngã rốt ráo là không thực hữu,
nhưng nó hiện hữu bởi tính cách quy ước của nó. Và cuối
cùng, có quan niệm bẩm sinh có cái ngã. Quan niệm sai lầm
này cho chúng ta thấy cái ngã theo cách rất cụ thể. Cái nhìn
sai lầm này không do từ giáo dục cũng không do một hệ thống
tư tưởng đặc biệt nào, nó tác động với tất cả mọi
người.
Đấy
là những hình ảnh chúng ta có về cái ngã, nhưng, theo những
luận đề khác nhau của đạo Phật, không có một cái ngã
nào như vậy, từ những mức độ thô sơ nhất đến những
mức độ tinh tế nhất. Huyền thoại tưởng tượng về sự
hiện hữu của nó là điều mà chúng ta gọi là vô ngã.
Thế
thì cái tôi được chấp nhận một cách quy ước và cảm
thức về nó khi tôi được thuận lợi hay khó khăn do những
biến cố là cái gì ? Những học phái tư tưởng Phật giáo
trả lời khác nhau cho câu hỏi này. Với một số phái, đó
là ý thức ; với số khác, đó là những khả năng tâm thức
; một số xem thấy trong cái ngã một “tâm thức làm nền
tảng cho mọi sự” (a lại gia thức), phân biệt với những
khả năng tâm thức.
Những
tư tưởng sâu xa nhất nằm trong Trung Đạo của những nhà
Hệ Quả Luận (Prasangika-Madhyamika). Theo phái này, con người
hay cái ngã là một sự gọi tên, đặt tên suông cho các uẩn
của tâm và thân. Hiểu rằng tâm thức là vi tế hơn và tồn
tại vượt qua cuộc sống của thân thể, thì cái ngã hay con
người chỉ là một sự đặt tên suông cho dòng liên tục
của tâm thức.
Cái
tôi lập tức đến trong tâm thức ngoài mọi phân tích, khi
chúng ta nói : “Tôi đi, tôi ở lại…” không gì khác hơn
là cái tôi tương đối, tùy thuộc theo danh xưng này, và đó
là tất cả những gì người ta có thể chấp nhận. Bởi vì
nó được đặt tên theo những hợp thể tâm và thân, cho nên
cái tôi là tùy thuộc. Vậy thì tùy thuộc và độc lập tạo
thành một sự phân hai và rõ ràng là mâu thuẫn nhau. Ví dụ,
ngựa và người loại trừ lẫn nhau, nhưng không phân hai cũng
không rõ ràng mâu thuẫn, như trong trường hợp người chẳng
phải là người. Cũng thế, tùy thuộc và độc lập loại
trừ lẫn nhau, bởi vì mọi sự được quan sát hoặc là cái
này, hoặc là cái kia, và không có một khả năng thứ ba nào.
Cái
tôi thì tùy thuộc một cách danh xưng, nó được nhận thấy
như một bản ngã độc lập hiện hữu bởi những phương
tiện riêng của nó, cái tôi ấy thì không hiện hữu ở bất
cứ phương diện nào, bởi thế chúng ta gọi nó là vô ngã
của cá thể con người. Nhưng chính từ một nền tảng hiện
hữu – cái tôi tương đối – mà chúng ta có thể nói đến
một cái vô ngã. Khi người ta đã hiểu rõ vô ngã là cái
gì, người ta đương nhiên hiểu sự hiện hữu của nền tảng
của nó. Bởi vì tính chất tùy thuộc của một nền tảng
hiện hữu như vậy được nêu ra để giải thích nền tảng
ấy là không có một hiện hữu riêng biệt, là vô tự tánh,
đã rõ ràng tánh Không không thể nhầm lẫn với hư vô.
Khi
tánh Không của vô tự tánh sáng tỏ trong bối cảnh của duyên
sanh, người ta tránh khỏi quan điểm cực đoan về một sự
không hiện hữu. Và khi người ta hiểu rằng một sự vật
là không có tự tánh bởi vì nó là một duyên sanh, quan điểm
cực đoan chấp hữu được tránh thoát. Người ta phải vượt
cả hai nhị biên cực đoan này để có thể có một cái nhìn
Trung Đạo. Chính như thế mà những trường phái Phật giáo
khác nhau nhận ra bản ngã trong những phương diện thô cũng
như tế nhất của nó và dùng nó như một căn bản – hay
một cơ sở – để hiểu rõ thực tại. Tất cả những cách
thức cảm thấy một cái tôi giả tạo này mà không căn cứ
trên tìm tòi hay phân tích là kết quả của tiến trình bẩm
sinh từ hồi rất thơ ấu. Những quan niệm sai lầm thô sơ
nhất, do bẩm sinh hay do sở đắc về cái tôi thì phân biệt
với những quan niệm sai lầm vi tế nhất, bởi vì những cái
này vẫn dai dẳng tồn tại trong những lúc mà các bạn biết
– khi tri giác về cái đúng không bị thoái hóa – rằng những
quan niệm thô sơ nhất là sai lầm. Trái lại, khi các bạn
ý thức cái ngã tưởng tượng ở một mức độ rất vi tế
và các bạn trụ trong ấy, những mức độ ý thức thô hơn
luôn hướng về sai lầm sẽ không hiện hành nữa.
Tổng
quát, sự thiền định phân tích, sự tư duy và phán đoán
là những phương tiện bạn có để khám phá vô ngã. Trong
Trung Đạo Luận, Nagarjuna trình bày vài kiểu phán đoán quyết
trạch cho phép khởi từ những quan điểm khác nhau để chứng
minh rằng tất cả các pháp đều vô tự tánh. Trong Chương
Những Câu Hỏi của Kashyapa, trích từ Kinh Đống Ngọc (Ratnakuta),
ngài nói, trong bối cảnh ba cửa giải thoát, rằng các sắc
(các hình tướng) không phải không vì tánh Không mà vì chính
chúng là Không. Vậy thì, những hiện tượng không phải trống
không các vật gì khác, mà trống không tự ngã.
Tâm
kinh cũng tuyên thuyết “Sắc tức là Không ; Không tức là
sắc”. “Sắc tức là Không” nghĩa là cách thế hiện hữu
tối hậu của các sắc là một trống không mọi tự tánh
một cách tự nhiên. Biết rằng các sắc là duyên sanh, chúng
không tự hữu, tức là tùy thuộc.
Không
tức là sắc nghĩa là tính chất tối hậu của tánh Không
liên hệ với sự thiếu vắng tự hữu, tự trị của tất
cả những gì hiện hữu nhờ vào những yếu tố khác. Nói
cách khác, cái Không bổn nhiên vô tự tánh này làm cho các
sắc có thể có được, và những sắc là trò chơi của tánh
Không bởi vì chúng lập nên từ nó và tùy thuộc vào những
nhân duyên. Biết rằng các sắc thật sự là cái không có
nền tảng đích thật, Không tức là sắc ; và các sắc xuất
hiện như là những phóng tưởng của tánh Không.
Bởi
vì các sắc có tính chất là không có độc lập, chúng rốt
ráo trống không mọi độc lập, vậy thì chúng là trò chơi
của tánh Không. Đấy cũng như lưng và lòng bàn tay. Khi nhìn
một phía, có cái Không vô tự tánh, bản tánh tối hậu, khi
lật lại, có hình tướng, chất thể của tánh Không. Cả
hai chỉ là một thực tại. Vậy thì, sắc tức là Không và
Không tức là sắc. Khi thiền quán ý nghĩa của tánh Không
theo cách này, người ta tiến từng bước trên những con đường.
Trong Tâm Kinh, sự tiến bộ biểu lộ trong thần chú : “Gate
gate paragate parasamgate bodhi svaha” (Vượt qua, vượt qua, vượt
qua bên kia, hoàn toàn vượt qua bên kia, hãy ở như thế trong
giác ngộ).
Chữ
gate đầu tiên liên hệ đến con đường tích tập ; chữ thứ
hai, con đường sửa soạn. Trong hai giai đoạn này, sự tiếp
cận tánh Không còn mang dấu vết nhị nguyên : có trí huệ,
cái soi thấu tánh Không và có tánh Không được soi chiếu.
Paragate : “vượt qua bên kia”, chỉ ra sự băng qua từ mức
độ thế gian đến mức độ siêu thế gian của con đường
thấy (kiến đạo vị). Khi vượt qua giai đoạn này, tri giác
nhị nguyên tan biến. Parasamgate : “hoàn toàn vượt qua bên
kia” chỉ ra con đường thiền định suốt trong đó các bạn
thực hành để làm quen càng ngày càng nhiều với tánh Không
mà các bạn đã có một tiếp cận trực tiếp đầu tiên trên
con đường thấy. Để kết thúc, cái nhìn chính đáng (chánh
kiến) cho phép các bạn siêu vượt vòng sanh tử luân hồi
và thực hiện giác ngộ (bodhi), cái trạng thái biến bạn
thành một nguồn an lạc và giải thoát cho tất cả.
Câu
hỏi : Nếu cái ngã không có, ai là người chuyển di từ đời
này sang đời khác ?
Trả
lời : Cái ngã đơn thuần, hay cái tôi đơn thuần thì không
có tự tánh. Mặc dầu tâm thức liên kết chặt chẽ với
vật chất, nhưng vật chất không có đặc tính sinh ra một
hiện tượng thuần quang minh và hiểu biết. Phải tìm kiếm
nguyên nhân của tâm thức trong cái hiện hữu trước nó, trong
một chuỗi thuần quang minh và hiểu biết ở trước. Vậy
dòng tâm thức chính nó cũng không có bắt đầu không có chấm
dứt. Và chính trên dòng tương tục này mà cái tôi được
đặt tên. Cái bị bác bỏ là cái hiện hữu tự nó, cái tự
tánh của nó.
Câu
hỏi : Ham muốn đóng vai trò gì trong bản chất của cái ngã
?
Trả
lời : Chúng ta biết hai loại ham muốn : những ham muốn ảo
vọng khởi từ huyễn hóa không liên quan gì với thực tại,
và những ham muốn căn cứ trên lý trí và thông minh về cái
đang hiện hữu.
Ham
muốn nảy sanh từ đam mê đem lại cho chúng ta một số phiền
não, còn cái ham muốn do lý trí sinh ra dẫn chúng ta đến giải
thoát và toàn giác. Để sống hàng ngày, chúng ta cần đến
cái ham muốn có lý trí. Nhưng chúng ta phải học cách kiểm
soát những ham muốn phi lý đặt nền tảng trên đam mê.
Câu
hỏi : Ngài có nằm mơ lúc ban đêm không ?
Trả
lời : Hẳn nhiên có. Vả lại, khi người ta thực hành thiền
định, trong trạng thái mộng người ta phải học nhận biết
đó chính là giấc mộng.
Để
kết luận, tôi muốn nói với các bạn sinh viên mà tương
lai sẽ dựa vào họ, rằng nếu sự thu hoạch kiến thức là
một điều tốt đẹp lớn lao, thì tâm thức áp dụng kiến
thức đó lại còn quan trọng hơn. Nếu chúng ta dùng trí thông
minh của mình mà không đặt tấm lòng vào đấy, tất cả
khoa học của chúng ta chỉ phụng sự cho việc làm tăng thêm
khổ đau. Cần thiết giữ gìn một sự thăng bằng hòa điệu
giữa trí thông minh và tính mẫn cảm.
HAI
THỨ CHÂN LÝ *
(NHị
Đế)
Trong
những cách thức khác nhau để trình bày Phật giáo, cái đặt
nền tảng trên hai chân lý là một trong những cách thức quan
trọng nhất. Nó đặt trên hai nền tảng : chân lý quy ước
(tục đế) và chân lý tối hậu (chân đế) ; nó đề nghị
như đường đi : phương tiện (phương pháp) và trí huệ ;
và nó xét đến những kết quả chúng là quả của con đường
: hai thân của một vị Phật. Sắc thân là vì lợi lạc của
tất cả chúng sanh, Pháp thân là sự tự thành tựu. Trong ghi
nhớ của Phật giáo, người ta không bao giờ biết hết những
vị Phật giác ngộ từ xa xưa. Trước khi giác ngộ, tất cả
các ngài cũng như chúng ta, phiền muộn bởi một tâm thức
đầy bất toàn. Dần dần, các ngài xóa đi những khuyết điểm
cho đến khi biến chính mình thành những con người hoàn toàn,
hài hòa tuyệt đối, không dấu vết nhiễm ô nào. Khả năng
chuyển hóa này nhờ vào bản tánh thuần túy trong sáng và
tỏ biết của tâm thức. Tâm thức có thể tùy duyên theo bất
kỳ hình thức nào, nhờ vào các hình ảnh và ấn tượng có
trên tâm thức ; nhưng, tự nền tảng, đó là một thực thể
thuần túy sáng tỏ và hiểu biết và có tính cách trải nghiệm.
Nó tự biến đổi từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác
và dựa vào những nguyên nhân khác nhau ; có những thứ là
chất thể, những thứ khác là duyên phụ vào. Nhưng với tư
cách là người trải nghiệm, nguồn gốc chất thể của nó
chỉ có thể tìm thấy trong một nguyên nhân trực tiếp hiện
hữu trước đó, nghĩa là một khoảnh khắc của tâm thức
(một niệm) trước đó. Cái biểu lộ một tính chất sáng
chiếu và thông tỏ không thể có nguyên nhân chất thể trong
những yếu tố vật chất bên ngoài, những yếu tố bên ngoài
này chỉ có thể tìm thấy nguyên nhân chất thể của chúng
từ cái ở bên trong và thuộc tâm thức. Bởi vì mỗi niệm
ẩn chứa một niệm có trước là nguyên nhân chất thể của
nó, phải kết luận rằng dòng căn bản của tâm thức thì
không có sự bắt đầu. Một vài lược đồ tâm thức có
một bắt đầu và một chấm dứt (ví dụ như ý muốn mua
một chiếc xe hơi) ; những cái khác thì không có nguồn gốc,
nhưng có thể có lúc chấm dứt (ý niệm sai lầm về tự ngã).
Vậy thì, mặc dầu biến đổi trong mỗi khoảnh khắc, dòng
tâm thức thì không có bắt đầu, từ đó là tính cách sáng
chiếu và hiểu biết của nó.
Thế
thì làm sao tâm thức có thể chuyển hóa ? Những trạng thái
tiêu cực của nó là do vô minh của nó : một sự lờ mờ
che ám khả năng thấu hiểu của nó về cách thức hiện hữu
của những hiện tượng. Để cái vô minh này tan biến, phải
hiểu những hiện tượng hiện hữu như thế nào ; và để
điều này có thể được, chúng ta phải khám phá những gì
chúng ta không biết về chúng. Chúng tự trình bày theo hai quy
cách, một cách quy ước – tức là những hình tướng bề
ngoài đơn giản – và một cách hiện hữu tối hậu. Những
hiện tượng do tâm thức phân biệt các quy ước nhận thấy,
được gọi là những chân lý quy ước (samvrtisatya) ; và những
chân lý tối hậu (paramarthasatya) là những hiện tượng mà
tâm thức khám phá khi nhận thấy cách hiện hữu tối hậu
của chúng.
Nguyên
tắc hai chân lý biểu lộ những cách khác nhau trong những
lý thuyết không phải Phật giáo ; đó cũng là trường hợp
của các trường phái tư tưởng Phật giáo, trong đó người
ta tìm thấy những luận đề cao hơn những luận đề khác.
Một số không chấp nhận tính cách vô ngã của các hiện
tượng ; như học phái Đại Giảng Luận hay phái Kinh Điển.
Chúng ta để những phái ấy qua một bên, để có một khái
lược những quan điểm của phái Duy Thức và Trung Đạo, chủ
trương tính cách vô ngã của các pháp.
Trong
sự tiếp cận hai chân lý, phái Duy Thức trình bày cái mà
phái này gọi là ba tính cách : sự lệ thuộc hay là những
tính cách tùy thuộc lẫn nhau, duyên sanh (paratantrasvabhava :
y tha khởi tánh) của những cơ sở ; những tính cách quy vào,
kê thêm (parikalpitasvabhava : biến kế sở chấp tánh), bị những
tính cách tùy thuộc lẫn nhau bác bỏ ; và cuối cùng là những
tính cách hoàn toàn chính đúng (parinishpannasvabhava : viên thành
thật tánh), sự trống không của quy kết, thêm thắt nằm
trong những tính cách tùy thuộc lẫn nhau ; nói cách khác, đó
là sự vô phân biệt của chủ thể và đối tượng. Những
tính cách hoàn toàn chính đúng là những chân lý tối hậu.
Theo
phái này, tất cả cái gì được nhận biết và tâm thức
nhận biết tạo thành một thực thể độc nhất và đồng
nhất. Không có một hiện tượng nào, một pháp nào nằm ngoài
tâm thức chứng kiến.
Vậy
thì, về vấn đề vô ngã trong lý thuyết này, sự phủ định
nhằm vào sự hiện hữu cá thể của những đối tượng bên
ngoài với tư cách là những thực thể biệt lập với tâm
thức và với sự nhận biết của nó. Tính cách thêm thắt,
quy kết là cái mà chúng không có, trong khi sự không có tự
tánh chính là tính cách hoàn toàn chính đúng. Nếu người
ta tin vào hệ thống tư tưởng này, những hiện tượng sẽ
là những phóng xuất của tâm thức.
Những
nhà thông thái của phái Trung Đạo chọn những góc nhìn khác
để giải thích hai chân lý, nhưng tôi sẽ chỉ dựa trên những
xác quyết của Buddhapalita. Ngài chứng minh rằng, trái với
điều phái Duy Thức khẳng định, không những sắc, thanh…
là những thực thể phân biệt với tâm thức, mà luận đề
của phái này về cách thế hiện hữu của các pháp là không
đúng : thật vậy, các pháp thì không hiện hữu tự chúng,
chúng không thật.
Chúng
ta sẽ thấy Buddhapalita hiểu “không hiện hữu tự chúng”
hay “không thực” là như thế nào. Nhưng trước tiên, chúng
ta hãy xem xét cái hiện hữu tự nó là gì.
Khi
tri giác một hiện tượng, hình như với chúng ta nó hiện
hữu một cách khách quan, từ chủ quyền của nó, tự chính
nó và bởi chính nó. Nhưng khi phân tích nó vượt qua sự xuất
hiện hình tướng của nó để tìm xem có thực tại của nó
mà chúng ta nhận biết hay không, thì chúng ta không tìm thấy
gì cả. Nếu chúng ta phân chia nó thành những yếu tố, cái
toàn thể chẳng hiện ra. Dầu chúng ta làm gì, cái tổng thể
vẫn không thấy được và không thể tìm ra.
Vả
lại, chúng ta không biết cái gì mà không tạo thành từ những
phần tử. Mọi hiện tượng đều có nhưng phần tử có mặt,
cạnh. Ví dụ, nếu chúng ta xem xét những hạt quark nằm trong
những proton trong hạt nhân của một nguyên tử, những hạt
này dầu nhỏ đến đâu cũng phải chiếm một khoảng không
gian và do vậy phải có những phần tử có mặt, cạnh. Trong
Hai mươi Đoạn Kệ, Vasubandhu, một nhà thông thái vĩ đại
của phái Duy Thức, đã nói nhiều về chủ đề này. Ngài
làm cho chúng ta thấy rằng phần tử nhỏ nhất tất yếu phải
có những phần mà hướng của chúng phù hợp với hướng
của những phần tử khác ở chung quanh. Như thế, ngài chứng
minh rằng không có gì không thể phân chia nữa được. Rồi,
từ chứng cớ này và từ luận cứ rằng những đối tượng
không xuất hiện trong sự phân tích rốt ráo, ngài kết luận
chúng không hiện hữu. Nhưng mặc dù phái Trung Đạo công nhận
rằng không có một phần tử nào không thể phân chia nữa
được, sự kiện những sự vật bên ngoài khi phân tích rốt
ráo không xuất hiện ra chỉ có nghĩa đơn giản rằng thực
tại của chúng không thể chỉ ra mà không phải là chúng không
hiện hữu. Phái này quan niệm rằng chúng không phải hiện
hữu cũng không phải không hiện hữu.
Những
hiện tượng hiện hữu. Sự giúp đỡ và sự làm hại mà
chúng gây ra là chứng cớ cho sự hiện hữu đó. Nhưng chúng
không hiện hữu như cách chúng đang xuất hiện với chúng
ta. Sự kiện công cuộc tìm kiếm phân tích trở nên vô ích
chứng tỏ rằng chúng không có sự hiện hữu tự chúng, chúng
vô tự tánh. Các hiện tượng trống không mọi hiện hữu
cụ thể mà chúng dường như có, tất cả đều hiện hữu
trong bối cảnh không tự tánh và có tính chất là tánh Không.
Hãy lấy ví dụ cuốn sách chúng ta có trong tay. Khi chúng ta
dùng nó mà không tự hỏi, chỉ nghĩ rằng “Đây là một
cuốn sách”, lúc đó chính tâm thức quy ước của chúng ta
hoạt động ; về phần đối tượng của loại tri giác ý
thức này, tức là cuốn sách, nó thuộc về thực tại quy
ước.
Nhưng
nếu chúng ta tìm cách muốn biết nó hiện hữu như thế nào
và nó có bản chất gì vượt ngoài hình tướng của nó, chúng
ta không tìm thấy. Chúng ta tha hồ phân tích mỗi một yếu
tố của nó, từng cái một, màu sắc, hình dạng… tất cả
cái gì tạo nên nền tảng của nó, chúng ta không thể minh
định được. Một tâm thức khao khát chân lý không bằng
lòng với những hình tướng bên ngoài và những quy ước ;
nó thăm dò, tra hỏi và phân tích rốt ráo, nó chấp nhận
cuốn sách là cái gì không thể tìm thấy. Nó kết luận rằng
thực tại cuối cùng của cuốn sách là rốt ráo không thể
tìm thấy.
Khi
kiến lập lý thuyết tánh Không, Buddhapalita không nói với
chúng ta rằng những hiện tượng thì “trống không” mọi
khả năng tác dụng, mà rằng, với tư cách duyên sanh, chúng
là vô tự tánh. Vậy thì tương thuộc và độc lập là hai
cách thế rõ ràng trái ngược và phân hai : vật nào không
nằm trong loại này đều tự động xếp trong loại kia. Khi
cái này đã được biết, tất yếu nó loại trừ cái kia.
Lấy một ví dụ điển hình : là người hoặc không phải
là người. Tất cả mọi hiện tượng tất yếu nằm trong
phạm trù này hay phạm trù kia, nhưng không có cái nào nằm
trong hai phạm trù cùng một lúc, và không có cái gì cho phép
một khả năng thứ ba là một hiện tượng không là cái này
mà cũng không là cái kia. Những trường hợp khác, như người
và ngựa, thì trái ngược mâu thuẫn nhau, nhưng không rõ ràng,
đấy cũng không phải là một sự phân hai. Vậy thì, chấp
nhận một sự vật là tương thuộc, duyên sanh, nghĩa là nhận
rằng nó trống không tính độc lập.
Để
làm sáng tỏ cho các kinh nghiệm về tánh Không biểu lộ như
thế nào, một vài xác định là cần thiết cho tâm thức.
Tất cả những gì biết được đều gồm trong hai chân lý,
và chúng ta nhờ vào đó để hiểu chúng theo những mức độ
tâm thức khác nhau : cái chúng ta gọi là những khả năng của
tri giác trực tiếp nằm ở mức độ nơi đó những sự vật
được chấp nhận như những sự rõ ràng đương nhiên, không
cần đến chỉ dẫn hay phán đoán. Trên một bình diện khác
có những khả năng do diễn dịch, nó hiểu một hiện tượng
không rõ ràng bằng cách dựa vào những chỉ dẫn và phán
đoán. Những khả năng này được Dharmakirti xếp thành ba loại
chính : những chỉ dẫn từ hậu quả, từ tính chất và từ
xét nghiệm mà không có. Phạm trù thứ ba này có hai phương
diện : xét nghiệm mà không có của những hiện tượng không
rõ ràng, và xét nghiệm mà không có của cái đáng lẽ phải
được thấy (nếu nó hiện hữu). Trong trường hợp sau cùng
này là những dấu hiệu chứng tỏ sự vô tự tánh : ví dụ,
không thể tìm ra một hiện tượng khi được phân tích dù
trong những nét đặc trưng – những nền tảng của chính
nó – hay ở ngoài những nét đặc trưng ấy. Chính như vậy
mà người ta quy ra sự hiểu biết trực tiếp về tánh Không
vô tự tánh.
Sự
phán đoán này phải đi kèm với một sự lập thành những
hệ luận (prasanga) để chiến thắng sự dai dẳng của những
ý kiến sai lầm. Theo phái Hệ Luận, những hệ luận tự chúng
có bản chất quy ra sự hiểu biết trực tiếp về một luận
đề. Dầu gì đi nữa, chính từ những chứng cớ như vậy
mà người ta làm sáng tỏ chân lý tối hậu của mọi sự
: sự không có tự tánh của chúng.
Trong
loại chứng minh này, vô tự tánh được xếp vào những hiện
tượng phủ định. Cái quyết định sự xếp loại một hiện
tượng trong phạm trù những hiện tượng được xác định
hay phủ định không chỉ là danh từ biểu thị nó, mà là
cách thức nó được nhận biết bởi tâm thức. Ví dụ “tánh
Không” là một danh từ phủ định diễn tả một hiện tượng
phủ định. Danh từ “thực tại” (dharmata : pháp tánh) thì
không phải là một danh từ phủ định ; tuy nhiên, ý nghĩa
của nó chỉ có thể mở ra một con đường trong tâm thức
bằng cách đi qua một sự phủ định, nghĩa là loại bỏ một
cách hiển nhiên đối tượng cần phủ nhận : có tự tánh.
Vậy thì thực tại lại là một hiện tượng phủ định.
Người ta có hai loại hiện tượng phủ định : cái đòi hỏi
một sự vật thế chỗ cho sự vật đã bị trục xuất, và
cái không đòi hỏi cái gì hết thay vào chỗ của nó. Những
hiện tượng thuộc loại thứ nhất được gọi là những
phủ định xác định, những hiện tượng loại sau gọi là
những phủ định không xác định. Vậy thì khi chân lý tối
hậu hay tánh Không hiển lộ với tâm thức, tâm thức này
chỉ thấy một sự trống không đơn thuần, nó là sự loại
trừ đối tượng bị bác bỏ – tức là có tự tánh : không
xảy ra sự thay thế nó bằng một hiện tượng xác định.
Chính vì thế mà chân lý tối hậu – hay tánh Không – là
một sự phủ định không xác định.
Cuối
cùng khi người ta biết sự phủ định không xác định này,
tâm thức không nắm bắt cái gì hết, vì sự trống vắng
của cái đã bị loại trừ do phủ định. Không có gì cắt
đứt dòng chứng nghiệm của người ấy, người ấy chỉ
nhận biết một tánh Không toàn diện vắng bặt mọi sự có
tự tánh. Một khi cái kinh nghiệm nhờ vào sự thực hành thiền
quán này xảy ra cho các bạn, những hiện tượng hình như
còn duy trì tự tánh của chúng ngoài những thời thiền định
; nhưng sự xác tín mà bạn đã có được với bằng chứng
về tánh Không của chúng sẽ cho bạn sự xác định rằng
chúng không có thực tại gì hơn một ảo ảnh. Như những
vòng xoay của một nhà ảo thuật, những sự vật hình như
hiện hữu tự chúng trong khi chẳng có gì như vậy cả. Biết
rằng tham muốn, hận thù và mọi phiền não khổ sở đều
đến từ một niềm tin vào một sự hiện hữu nội tại tự
thân, chúng sẽ bớt nắm bắt các bạn ngay khi bạn nhận ra
cái vọng tưởng, ảo tưởng nơi tất cả mọi sự. Thoát
khỏi những xung đột nảy sinh từ một sự đánh giá sai lầm
về thực tại, bạn có thể kiểm soát được những xúc cảm
điên đảo. Cái nhìn này về thế giới cho phép duy trì trong
tâm thức những tính khí tốt lành ; tóm lại đó là những
đức tính không cần gì đến quan niệm sai lầm là những
hiện tượng hiện hữu tự chúng để hiển lộ.
Chân
lý tối hậu làm sâu rộng trí huệ, chân lý quy ước làm
nảy sanh từ bi đối với người khác. Trí huệ, từ bi, hai
dòng này phải hòa vào nhau trong sự thực hành. Đó là con
đường kết hợp giữa trí huệ và phương tiện.
Tâm
thức sinh từ sự nghe những lời dạy và từ tư duy không
đủ khả năng đưa dẫn trí huệ đến chỗ bừng nở trọn
vẹn. Tâm thức này cần đến thiền định để tỉnh thức
trọn vẹn. Trí huệ thấu tỏ tánh Không nhờ vào thiền định
tự nó là trạng thái đắm mình quán chiếu, trong đó định
tâm và cái thấy thấu suốt hòa trộn lẫn nhau. Cũng có nhiều
kỹ thuật, đặc biệt của tantra, kích thích tâm thức này.
Kỹ thuật quan trọng nhất cốt ở duy trì tâm thức trong thiền
quán đồng thời hai yếu tố : thứ nhất là quán tưởng một
mạn đà la chứa đựng một số hóa thần, thứ hai là thấu
hiểu sự vô tự tánh của chúng. Đến độ cả hai chiều
kích này, cái “rộng” và cái “sâu” – hình tướng của
những hóa thần và sự chứng nhập cái “như thị” – được
gồm trọn trong cùng một cái nhìn.
Đặc
sắc do sự kết hợp hai dòng sâu xa, phương tiện tạo từ
lòng bi và trí huệ tạo từ quang minh, là thai tạng sanh ra
hai thân của một vị Phật do sự thực hành yoga mật thừa
này : sắc thân, sự biểu lộ vật chất của một vị Phật,
là đặc tính của yoga quán tưởng mạn đà la, là khuôn mẫu
của chân lý quy ước ; về phần Pháp thân – tâm giác ngộ
của một vị Phật – nó là đặc tính của trí huệ thấu
hiểu rằng tánh Không là chân lý tối hậu. Khả năng đưa
đến sự thành tựu viên mãn sắc thân và Pháp thân của một
vị Phật thì nằm trong khí (năng lực) rất vi tế và trong
tâm thức rất vi tế, vốn xưa nay hiện diện trong mỗi chúng
ta. Đó là cái người ta gọi là Phật tánh.
Câu
hỏi : Trong tantra yoga tối thượng, có một kỹ thuật thiền
định để nhằm quán sát đồng thời tánh Không và Lạc.
Cái lạc này có mục đích gì ?
Trả
lời : Tâm thức vi tế nhờ nó người ta quán sát tánh Không
được tự do biểu lộ khi người ta làm dừng lại những
mức độ thô của tâm thức. Khi người ta cảm biết sự xuất
thần, người ta trụ trong một trạng thái tâm thức rất vi
tế ; và khi nó đạt đến cường độ cao nhất, người ta
có thể dùng nó để làm những mức độ thô nhất của tâm
thức dừng lại. Sau đó, tâm thức xuất thần này có thể
tự do chiêm ngắm sự vô tự tánh.
TRÍ
HUỆ VÀ ĐẠI BI :
Y
KHOA CỦA ĐỨC PHẬT *
Buddham
sharanam gacchami
Dharman
sharanam gacchami
Sangham
sharanam gacchami
“Tôi
đi tìm Phật, Pháp, Tăng”. Âm nhạc khác với Tây Tạng, nhưng
ý nghĩa thì đồng, và chứng tỏ rằng tất cả chúng ta là
đệ tử của cùng một đạo sư là đức Phật. Có niềm tin
vào những gì Phật thuyết không khiến tôi nói rằng Phật
giáo là con đường tốt nhất cho mọi người. Tất cả mọi
người không có cùng một thị hiếu, mỗi người có những
sở thích của họ và phải được cảm thấy tự do để chọn
lựa giữa những tôn giáo khác nhau cái nào thích hợp với
mình. Người ta có thể nhờ vào những phương thuốc khác
nhau để chữa lành bệnh tật. Một vài thứ thuốc có thể
cho những kết quả tốt trong một trường hợp và tỏ ra vô
hiệu trong một trường hợp khác. Sẽ là hơi đơn giản khi
nói rằng Phật giáo là phương thuốc trị muôn bệnh, nhưng
thật sự là truyền thống này chứa đựng những giáo lý
rộng rãi và sâu xa. Có những người nghĩ rằng đó không
phải là một tôn giáo, mà một khoa học về tâm thức ; với
những người khác, Phật giáo là vô thần. Thật vậy, nó
là một tiếp cận hợp lý, sâu xa, phức tạp về cuộc sống
con người, nó nhấn mạnh vào trách nhiệm cá nhân của sự
phát triển bên trong hơn là vào ảnh hưởng của các hoàn
cảnh bên ngoài. Đức Phật đã nói : “Chính các con là vị
thầy của mình, chính nơi con mà mọi sự tùy thuộc vào. Với
tư cách là thầy dạy, với danh hiệu là y sĩ, ta có thể đề
ra cho các con phương thuốc hiệu quả, nhưng chính các con phải
dùng nó và tự chăm sóc mình.”
Đức
Phật là ai ? Đó là một người đã đạt đến sự tịnh
hóa hoàn toàn tâm thức, lời nói và thân thể. Theo một số
bản văn, tâm của Phật, Pháp thân hay thân của chân lý, có
thể được xem như chính đức Phật. Lời nói của ngài hay
năng lực nội tại như là Pháp, giáo lý. Và thân thể ngài
như là Tăng, cộng đồng tâm linh. Và toàn thể tạo thành
ba viên ngọc quý : Phật, Pháp và Tăng.
Một
vị Phật như vậy có hay không một nguyên nhân ? Có, vị ấy
có một nguyên nhân. Vị ấy có thường hằng không ? Thích
Ca Mâu Ni, đức Phật đã cá thể hóa, ngài có vĩnh cửu không
? Không. Ban đầu, Phật Thích Ca chỉ là Tất Đạt Đa, một
người bình thường trong vòng những tư tưởng và hành động
tiêu cực – hoàn toàn như chúng ta. Tuy nhiên, nhờ những giáo
lý và những vị thầy, ngài đã thanh tịnh dần dần, và cuối
cùng trở thành giác ngộ.
Khi
theo cùng một tiến trình nhân quả, tất cả chúng ta cũng
có thể thành công như thế. Tâm thức có nhiều chiều kích
mà mức độ vi tế nhất là bản tánh của Phật, hạt giống
Phật tánh. Tất cả chúng sanh mang trong nó tâm thức vi tế
này mà sự thực hành thiền định sâu xa và những hành vi
đức hạnh chuyển hóa dần dần thành Phật tánh thanh tịnh.
Hoàn cảnh chúng ta đầy hy vọng ; mầm mống giải thoát ở
trong chúng ta.
Là
những đệ tử tốt của đức Phật, chính yếu là thực hành
lòng bi mẫn và ngay thẳng. Khi người ta cố gắng có lòng
tốt với những người khác, người ta trở nên ít ích kỷ
và sự chia xẻ với những đau khổ của họ khiến ta càng
ngày càng chú tâm tới hạnh phúc của mỗi người. Đó chính
là nền tảng của giáo lý. Để chạm đến mục đích giáo
lý đề nghị với chúng ta, chúng ta phải thực hành thiền
định sâu xa và trau dồi trí huệ. Khi người ta lớn lên trong
trí huệ, cảm giác đạo đức cũng tự nhiên phát triển.
Đức
Phật đã nhấn mạnh nhiều về một sự quân bình chân chính
giữa thông tuệ và mẫn cảm – trí huệ và đại bi. Một
trí óc tốt và một con tim tốt phải đi song đôi. Khi sự
phát triển thông tuệ làm hao tổn trái tim, đó là một nguồn
gốc của các vấn đề, và khổ đau tăng thêm trong thế giới.
Khi người ta ưu đãi trái tim hơn trí óc, biên giới phân cách
chúng ta và những bản năng loài vật bị mờ nhạt. Nhưng
nếu người ta cho phép cả hai dòng chảy tuôn một cách hài
hòa, người ta có được cùng lúc sự tiến bộ vật chất
và sự nở rộ tâm linh. Mong rằng trái tim và trí óc hòa điệu
với nhau và chúng ta thực sự biết được bình an và tình
bạn giữa gia đình và nhân loại.
Câu
hỏi : Chữ dharma có nghĩa là gì ?
Trả
lời : Dharma (pháp) là một tiếng Phạn. Nó nghĩa là “nắm
giữ”. Trong một nghĩa rất rộng, nó áp dụng cho mọi hiện
tượng mà mỗi hiện tượng “duy trì” thực thể riêng của
nó. Nhưng, trong văn mạch của dharma và của những tương quan
của nó với thế giới, từ này chỉ sự thực hành nó “duy
trì, nâng đỡ” cá nhân, bảo vệ người đó khỏi sợ hãi
vì sợ hãi nằm trong dòng tư tưởng của y. Sự nâng đỡ
hay bảo vệ này, tác động trên những kết quả cũng như
những nguyên nhân của khổ đau, nghĩa là vừa trên khổ đau
vừa trên tham ái. Những phương tiện mà người ta dùng để
đạt đến sự kiểm soát của tâm thức và cho phép chúng
ta đạt được điều ấy là Dharma (Pháp). Nhất thời, nó
đem những sợ hãi khỏi chúng ta, và về lâu về dài, nó can
thiệp trong những tình huống đáng sợ và bi thảm, khi ấy
những tham ái độc hại lôi kéo chúng ta khi chúng ta nhường
bước cho ảnh hưởng của chúng.
LÒNG
VỊ THA
VÀ
SÁU BA LA MẬT *
Một
chủ đề nổi trội của tư tưởng Phật giáo là lòng vị
tha đặt nền trên bi mẫn và tình thương. Nhưng ai mà không
cảm thấy nó ? Tín đồ, không phải tín đồ, tất cả chúng
ta đều tin vào giá trị của tình thương. Không có tình thương
của cha mẹ, ngay từ buổi bình minh cuộc đời chúng ta, chúng
ta sẽ ra sao ? Và khi già lão, chúng ta lại rất cần đến
sự chăm lo của những người khác. Trong trường hợp nào,
chúng ta cũng nhờ ơn họ. Giữa tuổi nhỏ và tuổi già, có
một thời kỳ tương đối tự chủ, và bởi vì lúc ấy người
ta có thể bỏ qua những người khác, người ta thấy không
ích lợi gì tỏ ra tốt với họ. Đó là một tính toán sai
lầm. Những người có lòng lân mẫn thì bên trong sung sướng
hơn, bình an hơn, yên tĩnh hơn, và khi tiếp xúc với họ, người
ta có khuynh hướng biểu lộ thái độ tương tự. Sự giận
dữ phá hoại hòa bình bao nhiêu, thì tình bạn, sự tin cậy,
tình thương làm gần gũi và hòa hợp bấy nhiêu. Đó là giá
trị bao la của lòng tốt và lòng bi mẫn, những phẩm chất
quý giá vô ngần trong tất cả.
Trí
thông minh phức tạp của trí óc con người đã cho phép chúng
ta thực hiện nhiều tiến bộ lớn lao trên bình diện vật
chất. Nếu chúng ta duy trì một thế quân bình tốt giữa phát
triển bên ngoài và sự trưởng thành bên trong, chúng ta có
thể thành tâm thiện ý khai thác những ưu thế này và hưởng
thụ sự tiến bộ vật chất mà không hy sinh nhân loại của
chúng ta.
Trong
lãnh vực này, lòng bi và lòng vị tha có một phần rất quan
trọng. Thế nên tôi muốn đưa cho các bạn vài chỉ dẫn về
những phương pháp tu hành như người ta thực hành chúng trong
Phật giáo.
Thái
độ hành xử mà tôi muốn nói khi có sự chọn lựa giữa
chúng ta và những người khác, khi quý chuộng sự ích lợi
của người khác hơn của chúng ta. Nhưng quên mình đi không
phải là một vận động tự nhiên, phải thực tập nó.
Để
có được kết quả ấy, có hai kỹ thuật chính. Kỹ thuật
thứ nhất gọi là “làm bằng nhau và chuyển đổi tôi với
những người khác”, không nhờ vào lý thuyết tái sanh. Nhưng
trường hợp kỹ thuật thứ hai thì không phải vậy, và sắp
được đề cập sau đây. Nó có tên là “bảy giáo huấn
chính yếu về nhân và quả”.
Để
cảm thấy thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác,
phải có căn bản vị tha, nghĩa là quyết tâm giúp đỡ những
người khác. Trạng thái tâm thức ít phổ biến này được
kích thích bởi một tình cảm bi mẫn sâu xa, một sự lo âu
về đau khổ của những người khác và mong muốn chữa lành
cho họ. Lòng bi mẫn chỉ có sức mạnh khi được chuyên chở
bởi tình thương. Yêu thương đến mức mà sự khổ đau của
người khác đối với các bạn là không thể chịu đựng
được, đến mức tìm thấy vẻ dễ thương quyến rũ nơi
mỗi con người, tâm niệm hạnh phúc của người khác như
một người mẹ tâm niệm hạnh phúc của đứa con độc nhất.
Nhưng chỉ khi nào lòng tốt của người khác trở nên rõ ràng
chúng ta mới bắt đầu thương yêu người khác theo cách đó.
Thế nên trước tiên cần tập luyện để nhận ra lòng tốt
ấy ở nơi người đã chứng tỏ nó cho chúng ta trong suốt
đời mình, rồi mở rộng tiếp theo cho cái tình cảm biết
ơn đã thức dậy trong chúng ta. Tổng quát, người mà chúng
ta xem như kiểu mẫu của lòng tốt là mẹ chúng ta, bởi vì
không ai gần gũi chúng ta hơn và tận tâm hơn bà.
Vậy
chúng ta sắp bắt đầu tiến trình của loại thiền định
này bằng cách nhận ra rằng những người khác không khác
chút gì với mẹ ruột của chúng ta.
Trong
những giai đoạn của sự tu hành có bảy điểm này gồm :
1.
Nhận ra mẹ mình nơi mọi chúng sanh.
2.
Thâm nhập vào lòng tốt của người khác.
3.
Duy trì một tình cảm biết ơn với họ. Rồi phát triển :
4.
Tình thương.
5.
Lòng bi mẫn.
6.
Thái độ phi thường.
7.
Ý định vị tha đạt đến giác ngộ.
Vì
ở đây liên quan đến nguyên lý tái sanh trong nhiều kiếp,
một dấu ngoặc cần có cho chủ đề này. Cái cho phép chứng
minh nền tảng vững chắc của những kiếp tái sanh là phân
tích rốt ráo, thì tâm thức là cái gì thuần túy sáng tỏ
và hiểu biết, chỉ có thể bắt nguồn từ một khoảnh khắc
trước đó của tâm thức, từ một thực thể hiện hữu trước
của tánh sáng tỏ và hiểu biết. Vật chất không thể là
nguyên nhân chất thể của nó được. Biết rằng nó sinh ra
từ một khoảnh khắc của tâm thức trước đó, người ta
không thể nói có sự bắt đầu trong dòng tâm thức. Như thế,
nhìn nó một cách toàn bộ hay ở mức độ vi tế nhất của
nó, tâm thức không bắt đầu cũng không chấm dứt. Đó là
điều đặt nền cho luận đề về tái sanh.
Từ
vô thủy, trong dòng tái sanh vô tận, mỗi chúng sanh hòa hợp
với cảnh giới hiện hữu của các bạn, thiết lập với
các bạn một tương quan hoàn toàn giống như mối liên hệ
nối kết các bạn với người mẹ các bạn trong đời này.
Đó là điều phải nên tin. Nhưng điều đó đòi hỏi sự
thực tập tính bình đẳng trước đó.
Để
có kết quả ấy, các bạn sẽ bắt đầu bằng nhận xét rằng
chúng ta thường xếp loại người khác vào ba phạm trù chính
: bạn, thù, và người xa lạ. Đối diện với họ chúng ta
có ba thái độ : thích, ghét, và thản nhiên. Khi nào ba cách
này còn ngự trị, không thể làm sanh khởi một trạng thái
tâm thức vị tha. Vậy cần phải trung lập hóa luyến ái,
thù nghịch và thản nhiên.
Sự
suy nghĩ về tái sanh tỏ ra đặc biệt hiệu quả về chuyện
này : bởi vì dòng tương tục đời sống không có khởi thủy,
không có giới hạn cho con số lần sanh ra của chúng ta. Vậy
không gì cho phép chúng ta tin rằng những bạn bè chúng ta hôm
nay mãi mãi là bạn bè, cũng như kẻ thù của chúng ta hiện
giờ tất yếu đã là kẻ thù trong quá khứ. Ngay trong cuộc
đời này, những đối thủ ngày xưa nằm trong số bạn hiện
giờ của chúng ta, trong khi một số bạn ngày xưa lại ở
trong số đối thủ hôm nay. Vậy phải dừng lại ý nghĩ rằng
một người nào là đặc biệt thân thiết trong khi một người
khác thì vĩnh viễn thù nghịch.
Công
việc tư duy này sẽ xóa bỏ không những các thành kiến làm
cho chúng ta xếp những bạn bè vào một phía, những người
thù địch vào phía kia, mà còn xóa bỏ thương mến và thù
ghét liên tục nảy sinh từ loại phân biệt này.
Một
cách thực hành, sự thực tập cốt ở tưởng tượng trước
mặt mình ba con người : một người bạn, một kẻ thù và
một người xa lạ. Khi quan sát họ, các bạn hãy nghĩ rằng
không có gì bảo đảm cho bạn là mỗi người trong họ sẽ
đối xử không thay đổi theo cách hiện đang làm cho bạn thích
hay không thích. Trong sự tham thiền này, nên nghĩ đến những
người mà bạn biết, nếu không hình ảnh sẽ mơ hồ kéo
theo một sự thay đổi thái độ khi áp dụng nó cho những
người cụ thể. Dần dần, các bạn sẽ cảm thấy sự thản
nhiên đối với họ, và cuối cùng sự thản nhiên bình đẳng
sẽ dần mở rộng đến những người khác.
Khi
bước này đã được vượt qua, giai đoạn tiếp theo là suy
nghĩ về sự kiện, suốt dòng sanh tử vô cùng trong một tiến
trình không có khởi thủy, mỗi một chúng sanh chắc chắn
đã từng là người bạn tốt nhất hay là cha mẹ của các
bạn trong những kiếp liên tục ấy. Trên căn bản thấu hiểu
điều này, các bạn sẽ dần dần xem mọi chúng sanh là những
người bạn.
Bấy
giờ nghĩ đến bằng lòng tốt thế nào họ đã đối xử
với bạn khi còn là cha mẹ của bạn – hay thường là những
người bạn tốt của bạn – che chở bạn với sự chăm lo,
hoàn toàn giống như cha mẹ bạn hiện giờ đã làm khi bạn
còn nhỏ. Bởi vì tất cả, trong một đời nào đó, đã biểu
lộ một lòng tốt như nhau đối với bạn – lòng tốt đó
dầu hiện thời hay ngày xưa không thành vấn đề –, vậy
tất cả đều tốt như nhau.
Và
dầu khi các bạn không phải là con cái của họ, các bạn
cũng đã được hưởng thụ lòng tốt của họ, bởi vì chính
trong những mối tương quan của chúng ta với những người
khác mà phần lớn những phẩm tính của chúng ta bừng nở.
Tôi sẽ trở lại điều này ở phần sau với sáu ba la mật
mà sự thực hành hầu như hoàn toàn dựa vào người khác.
Cũng
như thế đối với sự thực hành tiên khởi của giới luật
và sự ngăn cấm mười hành động bất thiện : giết hại,
trộm cắp, ngoại tình, nói dối, phỉ báng, nói lời hung ác,
lời nói vô ích, tham lam, ác tâm và những quan niệm sai lầm.
Những cư xử này đa số đều liên quan đến những người
khác. Hơn nữa, những tiện nghi vô số chúng ta hưởng thụ
trong đời này, những kiến trúc đẹp đẽ, những con đường…
không phải do người khác làm ra sao ? Cuối cùng, để đạt
đến giác ngộ, nhẫn nhục là một yếu tố quyết định.
Vậy thì chính trong sự tiếp xúc với kẻ thù mà người ta
có cơ hội áp dụng nó. Bởi vậy, những người thù nghịch
là những con người quý giá.
Nhìn
mọi mặt, ngay cả khi họ hăng say đặc biệt chống lại chúng
ta, những đối thủ hung dữ nhất của chúng ta cũng tỏ ra
một lòng tốt đối với chúng ta, vì lý do giản dị là họ
đang cho chúng ta nhiều cơ hội để học lòng khoan dung và
nhẫn nhục. Một vị thầy tâm linh hay cha mẹ của chúng ta
không bao giờ có những thử thách gay gắt như vậy với chúng
ta. Chỉ duy nhất khi đối mặt với những tấn công của kẻ
thù mà người ta có được lòng can trường. Ngay cả họ còn
dạy cho chúng ta có sức mạnh nội tâm, sự can đảm, tính
cương quyết. Bằng cách bắt ép chúng ta phải tháo sạch những
sự kiêu hãnh của chúng ta, họ cho phép chúng ta gần với
sự thực hơn.
Thế
nên, trong thực hành vị tha, người ta không đối xử với
những thù địch của mình một cách thản nhiên, người ta
thương mến họ hơn ai hết, và thay vì tức giận với họ,
người ta tỏ ra đầy lòng biết ơn. Đấy không phải là điều
để người ta biểu lộ lòng tốt sao ? Không đền đáp món
nợ sẽ là sự khiếm nhã.
Khi
người ta trở nên nhạy cảm với lòng tốt của những người
khác, người ta biểu lộ một sự biết ơn bao la đối với
họ. Điều đó diễn tả như thế nào ?
Trong
giai đoạn mới này, người ta mở ra với một tình thương
với đòi hỏi rằng nó làm nảy sinh một ước muốn không
gì ngăn cản được rằng tất cả chúng sanh được hạnh
phúc, rằng không ai bị lấy mất hạnh phúc và những nguyên
nhân dẫn tới hạnh phúc. Và người ta càng nhìn họ bằng
một cái nhìn thương mến, người ta càng thấy họ đáng yêu.
Càng thương yêu họ, người ta càng đi vào bước tiếp theo,
lòng bi mẫn, nó không ngừng mong muốn họ thoát khỏi khổ
và tất cả những gì sinh ra khổ.
Thật
vậy, khi phát triển, tình thương và lòng bi gây ra một sự
thay đổi trong thái độ của chúng ta. Nhưng những người
khơi dậy từ bi cho chúng ta vẫn còn trong khổ đau. Bấy giờ
người ta tiến thêm một bước và người ta đẩy lòng vị
tha vượt qua khỏi tư tưởng : “Phải gì họ thoát được
khổ đau và những nguyên nhân của nó, tốt đẹp làm sao họ
có thể được hạnh phúc và những nguyên nhân của hạnh
phúc” để sinh ra ý nghĩ mạnh hơn : “Tôi sẽ làm tất cả
để họ được giải thoát khỏi khổ đau và những nguyên
nhân của nó và để họ không bao giờ thiếu hạnh phúc và
những nguyên nhân của nó.”
Bấy
giờ người ta quyết định không bằng lòng với một ước
muốn nằm trong trí óc nữa, mà thực sự giải thoát chúng
sanh khỏi khổ đau và đem lại hạnh phúc cho họ bằng những
nỗ lực của chính mình.
Ý
định cao cả này gợi cho các bạn một can đảm bao la để
đảm đương công việc nặng nề ấy. Khi người ta có sức
mạnh tinh thần này, những thử thách càng gay gắt, sự quyết
tâm can đảm càng lớn. Sự khó khăn làm tăng gấp mười ý
chí.
Sự
can trường là một phẩm tính quý giá, và không chỉ trong
thực hành tôn giáo : mọi người đều cần nó. Một cách
ngôn đầy lương tri xác nhận : khi có ý chí thì có phương
tiện. Khi người ta ở trong tình thế xấu, nếu thiếu ý chí
và can đảm, nếu người ta có một thái độ thất bại, nghĩ
rằng : “Tôi không đủ sức hoàn thành một công việc khó
khăn như vậy”, người ta tự đánh giá mình thấp, điều
ấy chẳng giúp đỡ gì trong cơn khổ đau. Vậy cần làm phát
sanh một sự can đảm theo tầm mức khó khăn.
Giúp
đỡ những người khác, không phải chỉ cho họ thức ăn,
chỗ ở… mà còn làm nhẹ đi những nguyên nhân căn bản của
khổ đau, còn cung cấp những nguyên nhân căn bản của hạnh
phúc. Ví dụ cứu trợ xã hội không chỉ giới hạn trong việc
chỉ cung cấp cho những người bất hạnh thức ăn và áo mặc.
Cũng còn phải giáo dục họ để họ có thể tự giúp mình
trong những nhu cầu riêng của họ. Cũng thế, trong sự thực
hành của mình, bồ tát không chỉ bằng lòng làm nhẹ tạm
thời sự khốn khổ của con người bằng những món quà vật
chất : vị ấy cũng cung cấp cho họ những lời dạy bảo
để họ biết một cách thực tiễn và bởi chính họ những
thái độ nào cần có hay cần từ bỏ trong lối sống của
họ.
Chỉ
dạy điều ấy cho những người khác đòi hỏi một sự hiểu
biết rõ ràng những khả năng và những nhu cầu của từng
người cũng như những giáo lý giải thoát, một sự hiểu
biết chính xác không sơ xuất và lỗi lầm. Phải có những
khả năng lớn lao để ban tặng một sự giúp đỡ có hiệu
quả. Bởi thế, trong những cách thức giúp đỡ những người
khác, phương cách cần đạt đến là sự giác ngộ. Nơi đó,
những chướng ngại cho việc thực hiện cái hiểu biết toàn
bộ hoàn toàn bị giải tan.
Người
bồ tát mà thiên chức là giúp đỡ người khác trong công
việc của mình bị hai loại chướng ngại : những cái ngăn
chặn giải thoát và những cái ngăn chăn sự toàn trí. Trong
hai thứ, những cái sau là dai dẳng nhất. Vậy thì mối lo
âu chính của vị ấy sẽ là chấm dứt chúng. Trong vài trường
hợp, vị ấy sẽ không ngần ngại, nếu cần thiết, xử dụng
những thức tình phiền não phá hoại – chính là những cái
ngăn chướng sự giải thoát – để cứu giúp những người
khác.
Tuy
nhiên, vì những trở ngại cho sự toàn giác là sự biểu lộ
của những phản xạ bị điều kiện hóa bởi ý tưởng rằng
những hiện tượng có một hiện hữu riêng biệt, cái ngăn
ngại chính yếu sự giải thoát, vị ấy phải hết lòng ưu
tiên giải tan ý niệm này. Thật vậy, vị ấy chỉ có thể
làm tốt nhiệm vụ và thành tựu hạnh phúc cho những người
khác bằng cách cùng lúc chấm dứt cái làm hại cho giải thoát
và toàn giác.
Trong
hướng tiến này, sự phá hủy toàn bộ những chướng ngại
gây khổ đau là điều người ta gọi là giải thoát hay giai
đoạn hủy diệt được kẻ thù (A la hán). Khi hơn nữa, những
chướng ngại đối với sự hiểu biết toàn triệt đến lượt
chúng tan biến, bấy giờ người ta thấu hiểu cái được
gọi là trạng thái Phật tánh, trong đó toàn giác được thực
hiện. Đó là mục tiêu hy hữu để có một hiệu quả tròn
vẹn cho việc phụng sự những người khác.
Khi
tư tưởng hoàn toàn hướng về trạng thái tối thượng này
vì lợi lạc cho tất cả, người ta gọi nó là Bồ đề tâm
– được phấn khích bởi ý định vị tha đạt đến giác
ngộ. Mục đích của cái thứ bảy trong những lời dạy chính
yếu về nhân và quả là để kích phát đà tiến này.
Trong
Phật giáo nó được xem như đỉnh của lòng vị tha. Khi nó
thống nhiếp hành động, người ta đi vào sự thực hành sáu
hoàn thiện, sáu ba la mật : bố thí, giới hạnh, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định và trí huệ.
Có
ba loại bố thí : tài sản, thân thể của mình và những thiện
căn. Những cái này khó cho đi nhất, nhưng cũng là cái quan
trọng nhất. Nếu sự rộng lượng của các bạn khá lớn
để có thể hồi hướng tất cả mọi nguồn gốc của các
đức hạnh (thiện căn) của các bạn, thế là từ nay, các
bạn không chờ đợi gì nữa sự trả lại, đền bù cho các
bạn. Đằng sau sự cho đi bình thường đôi khi có ẩn chứa
hy vọng về một lợi lộc cá nhân ; sự cho đi của bồ tát
thì hoàn toàn không vụ lợi, vô tư.
Giới
hạnh có nhiều mặt. Giới mà bồ tát đặt ưu tiên là hãm
thắng lại sự ích kỷ. Trong tiếng Sanscrit, từ dùng để
chỉ giới là sila, theo ngữ nguyên học có nghĩa là “hoàn
toàn thản nhiên”. Thật vậy, giới là sự bảo đảm tốt
nhất của một tâm thức thanh thản, của một người hoàn
toàn thản nhiên, bởi vì ai có nó thì thoát khỏi những vết
bỏng do sự hối tiếc những hành động quá khứ gây ra.
Về
nhẫn nhục, nó cũng mang những hình thức khác nhau : cái thì
cho phép không khổ não khi một kẻ thù gây cho chúng ta sự
tổn hại, cái kia cho phép vui lòng đảm đương nghịch cảnh,
cái thứ ba thành tựu hạnh phúc cho tất cả. Cái vui lòng
đảm đương sự khổ đau là cốt yếu. Nó ngăn chặn khỏi
tê cóng trong những hoàn cảnh bi thảm và tạo ra một ván
nhún lấy đà cho một nỗ lực, đến lượt nó, cho phép tấn
công những gốc rễ của khổ đau.
Ban
đầu, để có một ý chí mạnh mẽ, tinh tấn là cần thiết.
Nhưng Phật tánh thì tiềm tàng nơi mỗi chúng ta, và khi những
điều kiện đã đủ, tiềm năng này cho phép chúng ta chuyển
hóa thành một bậc hoàn toàn giác ngộ, có đủ mọi phẩm
tính và hết sạch mọi khuyết điểm. Trong cuộc đời, nguồn
gốc thực sự của những thất bại nằm trong tư tưởng :
“Tôi thật tệ hại ! tôi không thể làm được !” Trong
trường hợp này, căn bản cần có một sức mạnh tâm thức
lớn và tự nhủ : “Tôi có thể làm được”, mà không đưa
vào kiêu căng cũng như những xúc cảm quấy phá khác.
Trong
mọi công việc, sự thành công dựa vào một nỗ lực điều
độ và một sự kiên trì lớn. Người ta thất bại khi một
công việc quá độ lúc ban đầu, người ta kiệt sức vì muốn
làm quá nhiều và bỏ rơi ít lâu sau. Cần phải có một nỗ
lực được tiết chế và thường trực. Cũng như thế với
thiền định, mà sự thực hành đòi hỏi sự khôn khéo. Nên
có những thời thường xuyên và ngắn – ở đây phẩm chất
quan trọng hơn là số lượng.
Một
khi các bạn biết điều chỉnh tốt những nỗ lực của mình,
các bạn đang sở hữu những yếu tố cần thiết cho sự phát
triển của thiền định. Cái này có mục đích dẫn vào kinh
dòng tâm thức của các bạn, hiện thời chảy tung khắp mọi
hướng, để gom nó lại vào một điểm duy nhất. Một tâm
thức phân tán không hiệu quả nhiều, nhưng khi người ta tập
trung nó đặc biệt vào một chủ đề nào đó, nó trở nên
rất mạnh mẽ.
Không
có một can thiệp nào từ bên ngoài, không giống gì với một
cuộc giải phẫu, để kênh hóa tâm thức ; chỉ có nội tâm
là làm việc. Sự rút lui này thực hiện cũng giống như giấc
ngủ sâu, nhưng trong giấc ngủ sâu khả năng chú ý bị ngăn
cấm. Trong khi trong thiền định, nó kèm theo một sự chú ý
cực kỳ sáng tỏ. Tóm lại, tâm thức phải tìm thấy sự
an định, khả năng ở yên nơi đối tượng của nó –, duy
trì một đối tượng của nó trong một sự sáng tỏ lớn
và giữ một sự nghiêm nhặt sống động, rõ nét, sắc bén.
Bây
giờ chúng ta đến cái cuối cùng của sáu hoàn thiện, tức
là trí huệ. Trí huệ biểu hiện ba phương diện chính : trí
huệ quy ước, nó bao hàm năm lãnh vực của hiểu biết ; trí
huệ tối hậu, nó là sự chứng ngộ cách thức hiện hữu
thực sự của những hiện tượng ; và trí huệ thiện xảo,
nó cho phép giúp đỡ chúng sanh. Trí huệ chứng ngộ vô ngã
vô tự tánh là điểm chính yếu mà chúng ta sắp khảo sát
bây giờ.
Khi
nói đến vô ngã, trước hết cần biết cái ngã không hiện
hữu ; sau đó, cái đối nghịch với nó, cái vô ngã trở nên
hiểu được.
Không
nên xem vô ngã là cái gì đã hiện hữu trong quá khứ và đến
một lúc nào đó trở thành không hiện hữu. Thật vậy, nó
thuộc về cái chưa bao giờ hiện hữu. Vậy thì, cái chúng
ta phải nhận ra như không hiện hữu, cái đó đã mãi mãi
không hiện hữu như vậy. Khi chúng ta không có sự hiểu biết
này, chúng ta