Mỗi
lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo,
là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền
đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo
khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng
chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt
văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa
thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù
đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất
nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt
ngàn. Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lâng lâng
khó tả khi viếng tháp tổ Liễu Quán. Phải đi một mình mới
thấy được, nghe được tất cả cái linh thiêng. Mình như
nghe được cả cái im lặng tĩnh mịch ở đấy, tiếng của
vô thanh (la voix du silence) ngân vang trong hồn và khắp vũ trụ,
và khi ấy dường như không còn cái gì gọi là “mình” được
nữa vì mình đã tan loãng ra, hòa với thời không vô tận.
Giá mà cái báo thân này được xả bỏ trong giây phút ấy
thì rất tuyệt vời, như giọt nước tan hòa vào biển cả
và thể nhập làm một với đại dương. Nhưng khi vừa khởi
lên ý niệm ấy, thì cái ngã đã xuất hiện với tất cả
khổ đau mâu thuẫn của nó. Vô ngã là niết bàn. Tình cờ
đây cũng là nhan đề một quyển sách của cố đại lão Hòa
thượng Thiện Siêu vừa viên tịch.
Mục
đích lần này về Huế là dự tang lễ Hòa thượng, mặc dù
tôi vừa từ Huế vào lại Sài gòn không lâu. Lần ấy tôi
đã về khi nghe tin Hòa thượng lại nhập viện, đang nằm
phòng cấp cứu vì khối u gan đã vỡ. Vừa xuống ga là tôi
đến ngay bệnh viện lúc bảy giờ tối khi các y sĩ đã ra
về, chỉ còn lại các y tá và thị giả túc trực. Ôn nằm
trong một phòng săn sóc đặc biệt bên trong khu cấp cứu nên
muốn thăm ôn, phải đi qua một dãy bệnh nhân bị đủ thứ
tai biến đang vật vã la làng hết sức thương tâm : người
thì bị đụng xe, kẻ bị phỏng lửa, người trèo cây bị
té, kẻ vừa qua cuộc phẫu thuật mà thuốc mê đã hết tác
dụng... May là Ôn nằm cách họ một cửa kính dày nên những
tiếng kêu thương ấy không lọt vào tai Ôn, và ngài vẫn chánh
niệm trong cơn đau cùng cực. Các y sĩ điều trị đều phải
ngạc nhiên trước sức chịu đựng của ngài. Khi tôi vào,
mặc dù trên người ngài găm đủ các thứ life-supports và
mũi đang vướng một ống dẫn ôxy, ôn vẫn thì thào:
“Mới
ra đó à?”
Tôi
muốn quỳ xuống dưới chân giường bệnh thì ôn khoác tay
bảo đừng. Tôi không cầm được nước mắt... Chính vì thấy
Ôn quá sáng suốt vào những giờ phút cuối, mà Ôn cứ phải
sống bằng life-supports vì ai cũng muốn kéo dài hơi thở nơi
Ôn để còn được nghe những pháp âm đầy ý vị. Mỗi lời
Ôn thốt ra đều có ý nghĩa, dù nói với bất cứ ai. Theo
lời kể lại của thị giả, buổi sáng bác sĩ vào thăm, hỏi
Ôn có khỏe không, ôn bảo:
“Khỏe
sao được, khi mấy bác sĩ cứ vô hỏi hoài.”
Sư
cụ chùa Diệu Đức 94 tuổi vào thăm cũng hỏi Ôn có khỏe
không thì ôn bảo:
”Bà
tự hỏi bà có khỏe không mà bảo tôi khỏe?”
Mấy
ông nhà nước tới thăm, nói chắc ngài mệt lắm thì Ôn dạy:
“Mấy
ông mới thực mệt, vì còn con còn vợ phải lo, có danh có
lợi phải giữ. Tui không có chi để mà mệt cả.”
Khi
có một thầy ở xa đến thăm, bạch ôn rằng:
“Con
thấy chùa Từ đàm đang dọn sẵn phòng để rước Ôn về
chùa.”
Ôn
dạy: “Chuyện trong nhà chưa biết sao ngoài ngõ đã hay?”
Sau
khi thầy đó ra về, Ôn dạy thị giả:
“Đã
đến đây thì hãy chờ các y bác sĩ hội chẩn xong, họ nói
về thì về; chứ tự ý bỏ về ấy là tỏ ra mình không tin
tưởng nơi họ.”
Ôn
coi cái thân bệnh của ôn cũng như của ai khác, hoàn toàn
tách rời với ôn, vì vậy mà ôn vẫn tỉnh bơ và luôn giữ
thế chủ động trong mọi việc. Đây là một diệu dụng của
Pháp mà ít người thấy được; cứ thắc mắc tại sao ôn
tu mà phải mang bệnh ngặt nghèo! Cái thân tâm này, sự sống
chết này không phải đã là một căn bệnh ngặt nghèo đó
sao ? Ai mà khỏi qua cầu đoạn trường ấy? Chỉ khác
nhau ở cái thái độ đón nhận các tai nạn bệnh tật mà
thôi. Nơi một Con Người đã giác ngộ, thì sống chết là
một, bệnh với không bệnh đã như nhau. Làm sao ta có thể
đem tâm phàm phu để suy lường sự sống chết của một hóa
thân Bồ tát ? Dù đau một cơn bệnh trầm kha từ hai năm nay,
mà Ôn vẫn bình tĩnh ngồi dịch cho xong bộ Trung Luận, và
khi hoàn tất thì căn bệnh mới tái phát. Ôn đã bảo thị
giả:
“Thầy
hoàn toàn thỏa mãn, không thể nào thỏa mãn hơn được nữa.”
Thế
nên giờ phút xả báo thân cũng là giờ phút vinh quang nhất
đời Ôn. Lúc bái biệt Ôn tại phòng cấp cứu lần trước
để lên xe lửa trở vào lại Sài gòn, tôi còn được nghe
thị giả đọc một bài kệ mà Ôn đã cảm ứng trong giấc
mộng:
“Phật
biết Phật không,
Tâm
biết tâm không,
Khi
Phật chuyển thân,
Tâm
biết Phật không.”
Và
khi nằm trên xe lửa về Huế lần này, tôi đã nghiệm ra ý
nghĩa bài kệ ấy. Hai chữ Phật và Tâm trong bài kệ có thể
thay bằng sóng với nước, sắc với không, thân với tâm,
tướng với tánh, hoặc hiện tượng với bản thể. Chữ Không
trong bài kệ phải hiểu là “không có thực chất, chỉ tùy
theo các duyên hay điều kiện mà có ra.” Phật là Không, vì
như kinh Pháp hoa dạy “Chư Phật lưỡng túc tôn, Tri pháp
thường vô tánh, Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết
Nhất thừa.” (Chư phật - các đấng tôn quý trong loài hai
chân - biết rằng các pháp vốn không có tính chất quyết
định. Hạt giống phật là do các điều kiện mà phát sinh,
do vậy ta nói chỉ có một cỗ xe duy nhất là con đường thành
Phật.) Tâm như hồ lặng, Phật như vừng trăng phản chiếu
trong gương nước. Khi Phật chuyển thân thì cũng như khi vừng
trăng đã luồn qua một đám mây nên không còn in bóng trong
gương hồ. Tâm Phật cũng chính là pháp danh tôn quý của Ôn
mà bậc thầy của ngài đã khéo đặt – Ôn Thuyền Tôn là
một vị Phật đã sống tại Huế đến 104 tuổi và viên tịch
vào năm 1978, không đau ốm gì.
Có
những vị Thầy giáo hóa, thức tỉnh người ta bằng thân
tướng trang nghiêm; có vị bằng lời pháp khéo nói, có vị
bằng âm thanh tán tụng, có vị bằng giới hạnh luật nghi,
có vị bằng vô ngại biện tài, có vị bằng tính hóm hỉnh
- nói đùa cũng là Pháp. Có vị được phật tử yêu kính
nhờ tâm từ bi bình đẳng. Nhưng nơi Ôn thể hiện được
tất cả những đức tính ấy. Một đức tính mà tôi “thèm”
nhất nơi Ôn là mỗi khi ban đạo từ hay thuyết pháp, lời
lẽ Ôn hết sức lưu loát tự nhiên không ngập ngừng; mặc
dù văn nói mà không khác gì văn viết. Thỉnh thoảng Ôn dặm
thêm những chuyện hài mình đã biết nhưng vẫn ưa nghe vì
Ôn có khiếu xử dụng những chuyện xưa tích cũ để trình
bày Pháp, và Ôn thuật lại một cách rất sống động dí
dỏm. Vào những năm đầu thập niên 1970, chúng tôi mở khóa
ba tháng huấn luyện sáu mươi tác viên phát triển cọng đồng
để làm việc tại các làng xã nghèo ở Thừa thiên và thỉnh
Ôn về khai đạo cho học viên. Ôn bắt đầu bằng kể chuyện
Tấm Cám, chúng tôi hồi hộp không biết có thích hợp cho
mấy người làm xã hội nghe hay không. Nhưng cuối cùng, Ôn
kết luận: mỗi khi cô Tấm gặp đau khổ rắc rối đều kêu
Bụt và Bụt đều hiện ra để giúp đỡ. Hình ảnh Bụt đã
trở thành biểu tượng của lòng trắc ẩn, luôn cứu khổ
ban vui còn cái gì dữ dằn thì luôn luôn là hiện thân của
quỷ sứ. Tác viên xã hội cần phải có tâm từ bi, phải
sống làm sao để vừa trông thấy mình là người ta đã cảm
thấy yên tâm và muốn thế thì mình phải là một trung tâm
của an vui hạnh phúc như hình ảnh Bụt trong nhân gian.
Ôn
kể chuyện đức Phật trông thấy hũ vàng trong bụi tre chỉ
cho ngài A Nan rồi nói “độc xà, A Nan” và A Nan cũng thưa
“Độc xà, Thế tôn”. Khi một nông dân vác cuốc đi sau
nghe vậy tò mò vào xem thì té ra là một hũ vàng, anh ta mang
về tậu đất ruộng nhà cửa sang trọng. Sau khi bị tịch
biên gia sản, ngồi tù, mất hết an ổn, anh ta mới biết Phật
nói đúng. Chuyện ấy ai cũng nghe, nhưng cái kết luận của
Ôn thật độc đáo: vàng là rắn độc, nhưng biết cách bắt
rắn thì không hề gì. Ví dụ người kia nếu biết mang vàng
về phân chia cho cả làng và cứu giúp những kẻ khó thì đâu
đến nỗi mang họa vào thân. Bởi vậy dù nghe Ôn dạy một
chuyện rất thường, mình cũng rút ra được bài học thâm
thúy.
Biện
tài về Pháp của Ôn thì ai cũng đã được thưởng thức,
nhưng có một lần đến chùa Trúc Lâm lúc sinh tiền Hòa thượng
trú trì thượng Mật hạ Hiển, tôi nghe ngài hỏi quý vị
thượng tọa cao tăng ở Huế đang ngồi quanh rằng, mấy
ông có biết ở Huế ai đọc sớ hay nhất không? Các vị này
đều là những kinh sư nổi tiếng về nghi lễ Phật giáo,
đang ngơ ngác thì Hòa thượng dạy:
“Ông
Thiện Siêu! Có lần gặp đại lễ mà ông công văn gặp trục
trặc, mình phải nhờ ông Thiện Siêu thay, ai ngờ giọng ông
ta đọc sớ hay không ai bằng.”
Hòa
thượng Trúc Lâm nổi tiếng rất khó thế mà phải khen Ôn
thì đủ biết. Chuyện Ôn đọc sớ là một điều tôi nghe
rất lạ tai vì tưởng Ôn chỉ thuyết pháp và dịch kinh. Thế
đấy, Ôn gồm đủ mọi mặt và còn hơn thế nữa, Ôn còn
có đức nhẫn siêu phàm. Tôi không thể nào quên được những
lúc đến hầu thăm ngài ở Bệnh viện Chợ Rẫy cách nay đã
hai năm. Khi siêu âm thì khối u trong gan đã quá lớn, ai cũng
nói Ôn chỉ sống thêm được ba bốn tháng là nhiều. Lúc
tôi vào thăm, ngài hỏi đùa “Cô Trí hải này, cơ chi tui
biết trước nói tiếng Anh thế nào?” Ôn rất thích học
sinh ngữ, nhưng vì quá giỏi Hán văn nên khó mà để công
phu vào chuyện học tiếng khác. Kho tàng kinh điển Hán thì
đọc hoài không hết, lại sâu sắc quá chừng, làm sao Ôn
còn thì giờ học ngôn ngữ khác để đọc những tác phẩm
mà đa số dịch từ hán ngữ ? Nhưng phải công nhận rằng
ngày nay, không biết sinh ngữ để học Phật là một thiệt
thòi lớn vì đa số kinh điển Tạng ngữ đều được dịch
ra tiếng Anh, Pháp, Đức do những nhà khoa học vàø ngữ học
uyên bác. Tôi mang các sách mới dịch lên Ôn xem, và Ôn rất
thích quyển “Thiền sư và triết gia” thuật cuộc đối
thoại giữa hai cha con người Pháp Jean Francois Rével và Mathieu
Ricard, một tiến sĩ vật lý học đệ tử của nhà bác học
Francois Jacob người được giải Nobel vật lý cách nay mấy
chục năm. Sau khi trình luận án và tốt nghiệp xuất sắc
ngành vật lý về tính di truyền, ông đã xuất gia theo một
bậc thầy Tây tạng và hiện đang du hóa khắp hoàn cầu, trừ
Việt Nam. Mới đây ông qua Đài loan, Hongkong thuyết pháp và
bán rất chạy những sách ông dịch có chữ ký của ông, thu
thật nhiều tiền về xây chùa Tây Tạng. Ông bán được nhiều
sách có lẽ nhờ chữ ký của ông và nhất là nhờ ông có
tướng hảo trang nghiêm y như thầy Khế Chơn ở Huế. Cha ông
là một triết gia vô thần người Pháp nổi tiếng đã viết
quyển sách bán chạy nhất thế giới được dịch ra 25 thứ
tiếng nhan đề là “Ni Marx ni Jésus”. Ôn thích quyển
Thiền sư và Triết gia đến nỗi Ôn đã photo tặng các bác
sĩ trong bệnh viện. Có khi Ôn còn đọc cho thị giả nghe những
đoạn Ôn thích. Không ai nghĩ Ôn là một bệnh nhân đang mắc
bệnh ngặt nghèo! Tôi còn mang thơ Vũ Hoàng Chương lên đọc
hầu Ôn nghe nữa; những bài thơ không có trong các tuyển tập
hiện nay nhưng lại là những bài thơ hay nhất của VHC. Nhất
là bài “Trẩy hội chùa Hương” với những câu như :
...”
Suối biếc chuyển lời kinh vọng khắp,
Bụi
hồng theo ngọn gió tung hê.
Bỗng
dưng tìm thấy con người thật
Của
chính mình xưa trót lạc đề.
Bài
thơ Hương tích vô đề,
Cắm
sâu vần điệu bên lề thời gian.
Chữ
bay từng cánh chim ngàn,
Mỗi
câu là một Niết bàn hóa thân.”
Đọc
đến đây tôi còn nói: “Hay ghê Ôn hí.” Và Ôn “ừ.”
Tôi cố tảng lờ chuyện Ôn đang lâm trọng bệnh, và muốn
làm cho Ôn quên đau. Ôn tùy hỉ với tất cả mọi người,
cả với những kẻ lãng nhách như tôi chẳng có bao giờ hỏi
gì đến bệnh tình của ôn, mặc dù Ôn đang nằm viện! Mỗi
khi có người vào thăm, tôi ngưng đọc. Mặc dù đang chăm
chú lắng nghe những vần thơ, Ôn vẫn nhớ tên người mới
đến, làm cho họ rấùt vui vẻ. Đủ biết tâm Ôn luôn chánh
niệm tỉnh giác như một tấm gương sáng phản chiếu ngay
mọi sự vật trước mắt, mà không đắm một vật gì. Khi
họ hỏi thăm bệnh tình Ôn, tôi cũng hỏi:
“Bạch
Ôn, như ông bác sĩ phật tử cùng sưng gan một lần với Ôn
đó (nhưng nhẹ hơn, và đã chết gần hai năm nay) đau gan là
phải, vì uống nhiều rượu. Nhưng Ôn sống đời đạm bạc
điều độ thanh tịnh là thế, tại sao mà đau gan ?”
Ôn
điềm tĩnh dạy: “Cũng có nhiều nguyên nhân.”
Bây
giờ nghĩ lại, tôi rất thấm thía những “nguyên nhân”
làm cho Ôn đau và trở bệnh nặng - không loại trừ sự cố
tòa tháp đôi ở New York bị không tặc làm chết trên sáu
ngàn người. Những vị hóa thân Bồ tát trên đời đau vì
căn bệnh của thế nhân, và khi các ngài trở về tịch diệt
cũng là lúc những tai họa mới sắp đến với con người,
mà sự hiện diện của các ngài không cứu được nữa. Trên
xe lửa về dự lễ tang Ôn, tôi nghe tin Mỹ đã tấn công Afghanistan
lúc nửa đêm và nghĩ rằng chắc thế chiến thứ ba sắp bùng
nổ trong lúc Ôn đã sạch nợ trần, rũ áo ra đi. Đời Ôn
đã trải qua bao nhiêu lần tị nạn, thời Pháp, thời Mỹ,
và đau nhất là thời nội bộ phân hóa - nhưng từ nay Ôn
sẽ hết nạn vĩnh viễn.
Tàu
đến ga Huế lúc đã tối trời, còn hai đêm nữa là thỉnh
kim quan Ôn nhập tháp đã xây gần tháp tổ Liễu quán. Tôi
đến thẳng chùa Từ đàm nơi rất đông người quy tụ từ
một tuần nay, để kịp tháp tùng đoàn ni chúng Hồng Ân kính
điếu giác linh Ôn. Kim quan được tôn trí tại giảng đường
chùa Từ đàm, gian phòng rộng nhất chùa nhưng cũng không đủ
chỗ cho tang lễ khi mà ước tính có đến hơn mười ngàn
người chen chúc. Họ đứng tràn ra cả sân chùa, vườn chùa
và đường Nam giao, dốc Bến ngự, đâu đâu cũng đầy cả
người dù trời nắng hay mưa. Những trướng đối, vòng hoa
quá nhiều phải treo cả lên cây ngoài vườn chùa, cổng chùa.
Nghe nói ở các chợ tại Huế không còn một cọng hoa nào
để bán cho người đi phúng điếu các đám tang khác. Ni sư
Cát Tường (đáng lẽ phải gọi bằng Sư Bà) kể khi về làng
thầy Hải Ấn để điếu tang Bà Cụ, Ni sư đã “mượn tạm”
mấy lẵng hoa của Ôn tại chùa Từ đàm về làm lễ điếu
vì không còn hoa để mua nữa! Đồng lúc với đám tang Ôn
còn có hai đám tang của thân mẫu thầy Hải Ấn và thân mẫu
sư cô Như Tường. Bào huynh của cô Như Tường là thầy Tánh
Thiệt ở Pháp cũng về dự tang mẹ và tang Ôn. Đại chúng
luân phiên đi về Thuận an và Quảng Trị để dự lễ tang
hai bà cụ tốt phước đã sinh những quý tử và được xả
báo thân đồng thời với Ôn. Sau khi đảnh lễ kim quan Ôn
và cùng ni chúng làm lễ phúng điếu, sáng hôm sau 23.8 (10 tháng
10.2001) được biết nhằm sơ tuần cụ thân sinh sư cô Như
Tường, tôi nhờ sư cô Như Minh thuê xe về Quảng trị để
dự lễ cầu siêu cho cụ và luôn tiện thăm viếng quê hương
thầy Tánh Thiệt và cô Như Tường cùng nhiều vị xuất gia
khác. Quảng trị là nơi sinh ra nhục thân rất nhiều vị cao
tăng và Huế là cái nôi nuôi dưỡng pháp thân họ. Hai miền
đất đầy thống khổ nhưng cũng chan chứa vẻ đẹp đạo
đức thanh cao. Qua đài BBC tôi nghe nói một người Quảng trị
định cư ở Mỹ đã tặng hai triệu Mỹ kim cho chính phủ
Mỹ để an ủi các nạn nhân vụ khủng bố làm chết trên
sáu ngàn người và sập ba tòa nhà tại New York và Washington
ngày 11 tháng 9 vừa qua. Thật là một nghĩa cử cao đẹp; nhưng
khi tôi thuật lại với hai sư cô Như Minh và Huyền Trí - cũng
là hai người Quảng trị đang ưu tư cho những ngôi chùa xơ
xác vì chiến tranh ở Gio Linh và các vùng địa đầu giới
tuyến - thì họ chép miệng than: “Cơ chi họ cho mình bớt
một ngàn đô la cũng đỡ khổ!”
Tài
xế phật tử tên Trung đã đưa xe đến đón, chúng tôi lên
xe đi ra Quảng Trị; có sư cô Huyền Trí cùng đi. Xe chạy
bảy mươi lăm phút thì đến nhà thầy Tánh Thiệt. Ông cụ
thân sinh Thầy đã tám mươi tám tuổi nhưng còn rất tráng
kiện, lưng thẳng boon, gương mặt hồng hào như ông tiên.
Còn quá sớm chưa tới giờ cúng tuần nên thầy Tánh Thiệt
và sư cô Như Tường đã đi thăm mộ. Cô Huyền Trí cho biết
ngôi chùa do cô vận động xây cất cho dân làng Lâm Xuân ở
quận Gio linh cách đấy chỉ nửa giờ xe hơi. Bởi thế chúng
tôi nhờ Trung lái xe đến đấy. Hóa ra đi về mất hai tiếng
đồng hồ. Ngôi chùa đang dang dở, nợ nần lên đến hai mươi
triệu mà chưa xong đâu vào đâu vì xây quá lớn. Phật
tử Quảng Trị là thế, ở đâu họ cũng ưa xây chùa thật
to dù họ chưa có nhà để ở, không đủ gạo để ăn. Tôi
được chứng kiến điều ấy khi đi thăm các vùng kinh tế
mới của dân Quảng trị khắp mọi miền đất nước từ
sau 75. Ban ngày không cho xây chùa thì họ làm ban đêm.
Sau
khi thăm ngôi chùa xây dang dở, chúng tôi trở lại nhà cô
Như Tường và kịp dự lễ cúng sơ thất. Thầy Tánh Thiệt
đang làm chủ lễ cho bà con cúng cơm cho mẹ thầy. Dù xa quê
hương đã lâu, thầy vẫn tán tụng rất hay vì thầy đã được
đào tạo từ cái nôi đạo là các tổ đình xứ Huế. Nghe
xướng “hiếu đồ bài ban” và “lễ nhị bái, tứ bái...”
tôi tưởng chừng như trong nhà có mời thầy đến cúng, hóa
ra chính thầy đang đại diện chư tăng cúng tuần cho người
đã khuất. Thật vô cùng cảm động khi một người con đã
cát ái từ thân từ xa xôi về cúng cơm cho mẹ, vừa trọn
đạo vừa tròn hiếu nghĩa nhưng không để lộ cảm xúc thường
tình. Khi cúng xong, thầy cho biết lúc Bà cụ hấp hối cô
Như Tường đã chuyển điện thoại cho Bà nghe giọng nói của
Thầy từ bên kia đại dương :”Mẹ ơi, con đây. Nếu mẹ
chờ được ba ngày con sẽ về để tiễn đưa mẹ; nếu không
chờ được thì Mẹ cứ về Phật trước đi Mẹ nhé.” Bà
cụ nói “chờ được” và tỉnh dậy sống thêm ba ngày nữa
cho đến khi thầy về. Như vậy thầy Tánh Thiệt may mắn hơn
thầy Hải Ấn, dù ở ngay quê nhà mà lúc mẹ mình ra đi thầy
đã không gặp được vì bận lo cho Hòa thượng đang hấp
hối. Khi được tin mẹ mất, thầy về nhà nói với bà cụ:
“Sao mệ tệ thế, mệ không đợi con về đã rồi hãy chết.”
Thầy
Hải Ấn cũng tỉnh bơ như thầy Tánh Thiệt trước cái chết
của mẹ, nhưng trong tang lễ Ôn thầy khóc thật nhiều, một
phần cũng do thầy Khế Chơn làm xướng ngôn viên cứ dặm
thêm những lời bình khiến ai nghe cũng muốn đứt ruột. Thầy
Hải Ấn cũng như thầy Khế Chơn là những báu vật sống
của Ôn và của tất cả phật tử Huế, đến nỗi muốn hăm
dọa Ôn, người ta đã hăm dọa sẽ ám sát thầy, vì họ biết
có ám sát Ôn thì cũng chả ăn thua gì với Ôn cả.
Lắm
lúc đối với đệ tử Ôn có tâm hồn của một người mẹ
săn sóc vỗ về. Tôi không bao giờ quên được bức thư ngắn
gọn mà Ôn đã viết gởi cho mình lúc mới mất mẹ, tuy đơn
sơ nhưng gói trọn tất cả tấm lòng của Ôn, làm tôi vô
cùng cảm kích. Khi tôi cùng cô Huyền Trí về Huế lên Từ
đàm thăm Ôn, nghe tin thầy Chánh Lạc ngã bệnh, có bao nhiêu
tiền trong túi Ôn đều vét hết đưa cả cho tôi và cô Huyền
Trí mang vào Sài gòn cho thầy thuốc thang. Cô Huyền Trí
thưa:
“Bạch
Ôn, sao Ôn không để lại một ít để tiêu dùng ?”
Ôn
bảo đùa: “Để cho ta bòn chút phước chứ!”
Cô
Huyền Trí là người rất thông minh nên được Ôn dạy chuyện
nhiều nhất, tiếc rằng tôi không gặp cô Huyền Trí nhiều
để được nghe thêm những giai thoại về Ôn vào những ngày
Ôn còn ở Nha trang. Nhưng có một chuyện cô kể làm tôi rất
cảm động. Hồi mới sau 75, hoàn cảnh sống đang còn hết
sức khó khăn, cô Huyền Trí đi đường bị kẻ gian rạch
túi lấy hết áo quần mang theo. Không biết làm sao mà tin ấy
đã đến tai Ôn, nên khi cô Huyền Trí lên viện hầu Ôn, Ôn
bèn lấy ra một chiếc áo cũ xếp cẩn thận bọc trong giấy
trầm hương thơm phức mà cho cô đem về sửa lại để mặc.
Với những học trò xa mà Ôn còn đối xử tận tình như thế,
nói gì đến những đệ tử hầu cận Ôn trong những ngày
ngọa bệnh, chắc họ còn thương tiếc Ôn muôn vạn lần.
Ai ở gần Ôn cũng được ảnh hưởng đức tinh tấn, luôn
sách tấn chuyện tu học tụng kinh niệm Phật không bỏ một
pháp môn nào. Con người Ôn đầy thiền vị, uyên bác là thế,
nhưng Ôn rất khiêm cung. Có lần không biết ai gọi Ôn là
thiền sư, Ôn kể lại cho tôi nghe rồi nói đùa:
“Kêu
thiền sư rồi cắc cớ tới hỏi gì trả lời không được
cũng mạt chứ chơi à!”
Và
Ôn cất giọng cười thật lớn, một tràng cười thực giải
thoát hồn nhiên. Mấy ni cô đi làm xã hội đến hầu Ôn và
bạch:
“Chúng
con đi ra nhiều, gặp chuyện thường dễ nổi sân, sợ phải
đọa.”
Ôn
dạy: “Vì làm việc lợi tha mà nổi sân chút xíu thì cũng
như đi ra trúng gió, uống thuốc là khỏi. Bệnh nhẹ không
can gì.”
Có
cô hỏi: “Con tụng kinh mà tâm tán loạn không tập trung được,
có nên tiếp tục không?”
Ôn
dạy: “Cứ tụng chứ, nếu tâm không tán loạn thì mi thành
phật rồi cần gì phải tụng kinh nữa?”
Lời
nào Ôn dạy cũng chí lý chí tình, không bao giờ quá khích.
Ôn khuyên quý thầy muốn giỏi hãy xem sách thật nhiều (như
Ôn). Ôn cũng gián tiếp dạy người tu hành không nên rời
hai buổi công phu sớm tối bằng lời nói đùa như sau:
“Mỗi
khi ai hỏi tui chùa đông ít, tui thiệt khó trả lời. Nói đông
thì tại sao buổi khuya chỉ có vài người đi công phu sáng?
Nói ít thì tại sao vào bữa cơm trưa lại đông đầy hai dãy
bàn?”
Ôn
không bao giờ dạy bảo thẳng, mà toàn nói những lời như
vậy nên chắc các đệ tử ở gần cũng sợ. Hồi Ôn ở Nha
trang, mỗi khi đi ra thấy bóng Ôn đi bách bộ, thầy CL lại
tìm cách đi vòng ngã khác. Tôi hỏi tại sao thì thầy nói:
“Gặp
Ôn, Ôn hỏi gì cũng rất cặn kẽ mình khó trả lời lắm.”
Lúc
về Huế lần trước để thăm bệnh Ôn, tôi có dịp về làng
thầy Hải Ấn để thăm Bà cụ mẹ thầy đang hấp hối, có
thầy Phước Toàn ngày đêm túc trực tụng kinh niệm Phật
tiếp dẫn Bà cụ. Làng thầy gần chùa Túy Vân và gần cửa
biển Thuận an, cảnh trí rất đẹp nhưng cũng rất nghèo nàn
hoang sơ. Chỉ cách Huế chừng sáu bảy chục cây số mà xe
phải đi mất ba tiếng đồng hồ vì đường quá xấu, đi
qua những vùng cát trắng phau không dấu chân người, y như
là đi tầm sư học đạo. Xe đi qua vùng Hòa Duân là nơi xảy
ra cơn lũ lớn nhất thế kỷ cuối năm 1999 đã làm sạt lở
cửa biển, sập bảy mươi căn nhà kiên cố và làm chết hơn
năm trăm người trên toàn tỉnh. Hiện nay chỗ ấy thiên nhiên
tự bồi cát lại như cũ. Khi vào làng thầy, lần đầu tiên
tôi chứng kiến một cảnh tàn sát rùng rợn và hiểu được
thế nào là “cò mồi”. Trên cánh đồng xanh ngát, có một
bầy cò trắng phau đứng bất động; té ra là cò giả do mấy
tên thợ săn đặt sẵn. Bầy cò trên không thấy đồng bạn
ở dưới đất cũng sà cánh xuống nhập bọn, thế là bị
dính cứng vào đất không bay lên được nữa vì ở trên mặt
đất những kẻ bẫy chim đã giăng sẵn những chất keo. Tàn
ác hơn nữa là chúng lại còn may bít hai mí mắt của vài
con cò sống đã mắc nạn, để chúng vừa đứng bất động
vừa vẫy cánh liên hồi. Cái vẫy cánh đau đớn, nhắc nhủ
đồng bạn đừng lầm bọn người gian ác, nhưng những con
cò trên không lại lầm tưởng là cái vẫy cánh mời bạn
sà xuống chơi để cùng mắc bẫy.
Sau
khi ăn trưa tại nhà cô Như Tường, chúng tôi lên xe về Huế
lúc đã quá mười hai giờ. Sợ tài xế ngủ gục tôi gợi
chuyện cho Trung nói suốt quãng đường từ Quảng trị vào
Huế, và Trung chứng tỏ là một người nói chuyện rất hay,
vừa có khiếu hài hước vừa có trình độ tâm linh sâu sắc.
Huế quả thật là một cái nôi của văn hóa, không chỉ ở
những tổ đình cổ kính với những vị Hòa thượng trí đức
song toàn; đặc biệt nét văn hóa của Huế còn biểu hiện
nơi những người bình dân vô danh vô tướng, nơi những lời
nói bâng quơ đầy ý vị của họ. Tôi nhớ có lần, sau 75,
từ Sài gòn về tôi lên viếng chùa Thuyền tôn; đến ngã
ba không biết rẽ lối nào tôi hỏi những nông dân đang vác
cuốc đi làm. Chỉ đường xong, họ nói: “Mới có ba năm
mà răng đã quên đường quên sá hết rứa hè!” Làm tôi
không khỏi cười thầm. Đặc biệt, gia đình anh tài xế này
là một điển hình gia đình rất văn hóa. Họ gồm bốn cha
con vừa sở hữu vừa lái bốn chiếc xe du lịch từ bao năm
nay, đáng lẽ phải giàu lắm, thế nhưng chắc vì gắn bó
với chùa chiền, chuyên chở những người tu nên không giàu
có mà cứ dậm chân tại chỗ. Họ không lấy nhiều tiền
vì học được cái đức ly tham, chỉ làm vừa đủ sống.
Cô Như Minh kể có lần Trung chở Sư Bà từ Hồng Ân về thăm
Ôn ở Bệnh viện xong, khi cô trả tiền anh ta bảo: “Con mà
đi lấy tiền chở sư bà thì còn ra gì nữa!”
Bây
giờ, giữa trưa nắng chang chang trên đường vắng, vừa lái
xe Trung vừa kể cho tôi nghe những chuyện hóm hỉnh về Ôn.
Một lần, anh chở Ôn cùng với nhiều vị khác trên chiếc
xe bảy chỗ. Khi tất cả đều lên xe, anh bắt đầu rồ máy,
Hòa thượng nói với mọi người:
“Ở
dưới đất thì hắn quy y mình, còn bây giờ lên xe thì mình
phải quy y hắn. Này Trung, hãy lái cho cẩn thận nghe con!”
Đến
một đoạn đường hẹp có nhiều người đi nghênh ngang, tài
xế đi chậm lại. Hòa thượng nhắc khéo:
“Này
Trung, ta hỏi cụ mi, cái còi để làm gì ?”
Trung
thuật lại: “Lúc đó con phải hết sức cẩn thận, vì trả
lời sao cho hòa thượng nghe được là chuyện rất khó. Nếu
nói bóp còi để bắt họ phải tránh mình, thế thì sẽ lỗi
to. May sao trong con nổi lên một sự thông minh đột xuất,
con nói: “Dạ bạch Ôn, cái còi là để báo cho họ biết
sự có mặt của mình cũng đang tham gia giao thông.” Ôn khen
phải.
Trung
lại kể: “Một hôm sắp tới ngày lễ Phật đản con vô
chùa Từ đàm, thấy Ôn đang gõ lại một cây cọc bị
xiêu trước sân chùa, con đến xin phụ với Ôn một tay. Ôn
đưa cái búa cho con, nhưng tay Ôn vẫn giữ lấy cây cọc cho
thẳng để con gõ xuống. Vì sợ lỡ trật xuống nhằm tay
Ôn, nên con không dám gõ mạnh, mà cũng không dám xin Ôn dở
tay ra. Ôn nói:
“Cụ
mi tính đứng đây tới chiều à? Gõ như gõ mõ thế thì chừng
nào mới xong?”
Nhân
đấy tôi cũng kể cho Trung nghe vào một buổi sáng, chú tiểu
từ chùa khác tới chùa Từ đàm có việc, trông thấy Ôn đang
đục đục gõ gõ bên cánh cửa phòng khách, chú tiến lại
thưa:
“Bạch
Ôn, để con làm giùm cho.”
Ôn
dạy: “Thôi, việc nhà ai nấy biết.”
Trung
cười khoái chí ra vẻ rất am hiểu câu thiền ngữ ấy. Anh
còn bảo, mỗi lời Ôn nói ra đều có nhiều nghĩa, phải suy
nghĩ thật lâu mới hiểu ra được chứ không phải dễ. Tôi
lại nhớ lúc Ôn còn ở Nha trang những ngày sau 75, khi Phật
học viện vắng teo như chùa bà đanh chỉ còn một mình Ôn
trong ngôi chùa rộng với vài thầy, mỗi thầy một thế giới.
Mỗi lần đến hầu thăm, phải đi qua bao nhiêu lớp cửa mới
đến được gian tịnh thất của Ôn nằm một nơi ẩn khuất
tịch mịch, một vẻ tĩnh lặng đầy đe dọa chứ không còn
thiền vị như trước. Hôm đó tôi không tìm được chú tiểu
nào để nhờ dẫn đến Ôn, nên đã một mình đến tận cánh
cửa có lưới sắt dẫn vào tịnh thất Ôn. Thường thì nó
được khóa kỹ với ống khóa, nhưng hôm ấy không khóa nên
tôi đẩy cửa để vào trong sân. Đẩy mãi không được, tôi
cất giọng kêu ơi ới, nghĩ chắc là chú tiểu đã đi chơi
đâu rồi. Bỗng Ôn xuất hiện, đi ra vừa lùa nhẹ cánh cửa
qua một bên vừa lẩm bẩm:
“Đi
mô cũng tới, mà mở cánh cửa không ra!”
Thì
ra vì cánh cửa ấy có đường rây phía dưới để đóng mở
bằng cách đẩy qua đẩy về mà tôi cứ xô tới kéo lui hèn
gì mãi không mở được. Cửa đời đã vậy, cửa đạo cũng
thế mà thôi! Lời Ôn dạy thực đầy ý nghĩa: tôi chưa vào
được cửa đạo, vì không biết cách mở. Lại một lần
vào những năm mới xuất gia, tôi ưa tới Ôn phân bua chuyện
này chuyện nọ vì không được làm việc theo ý mình. Ôn chìa
ra một quyển sách đang xem, thì ra là quyển “Con đường
thoát khổ” mà tôi vừa dịch của ngài Rahula, và dạy:
“Này,
cô về mà xem lại cái đoạn nói về Vô ngã, thật hay đáo
để.”
Nghe
khen một dịch phẩm của mình, tôi quên tuốt chuyện kiện
cáo và bắt đầu hăng say nói về quyển sách. Khi trở về
tôi mới nhớ ra rằng Ôn cốt dạy mình bằng cách nhắc đến
lý vô ngã, nhưng vì quá vô minh mình không để ý, cứ tưởng
là Ôn khen! Một trong những đức tính của Ôn là chịu khó
đọc tất cả những sách viết về đạo Phật từ thượng
vàng đến hạ cám, và thường khen chứ không bao giờ chê
ai hết. Thế nên khi có lần tôi thuật lại với thầy Tuệ
Sỹ rằng Ôn khen thầy viết bài này bài nọ, thì thầy tỉnh
bơ bảo rằng :”Ôn Từ Đàm mà khen thì có gì đáng mừng,
vì ai Ôn cũng khen.”
Ôn
có một người em trai cũng là thượng tọa làm Chánh đại
diện ở Bảo lộc, một hôm về thăm chùa Từ đàm, thấy
hoa ni lông được cắm chung với những cành lá tươi trong
các bình cúng Phật, thượng tọa rút hết những hoa ấy liệng
mất. Khi trông thấy chúng nằm la liệt giữa sàn nhà, Ôn la
lên:
“Hoa
người ta cúng, ai đem vứt cả ra đây rồi?”
Thượng
tọa nói: “Hoa giả mà cúng kiếng gì?”
Ôn
hỏi lại: “Cái gì thật, cái gì giả?”
Trên
đường từ Quảng trị về lại Huế, ngoài Ôn Từ đàm ra,
thầy Khế Chơn cũng là đề tài nói chuyện của tài xế Trung.
Anh bảo: “Thầy rất bình dị, nhưng những người không biết
thầy cứ nói thầy khó khăn, không dễ gì mời thầy đến
nhà. Con thường lái xe cho thầy mới biết thầy hết sức
bình dân đáng mến. Trong các loại băng nhạc mà con mở cho
thầy nghe, thầy chỉ thích nghe ca Huế và chầu văn. Có khi
thầy còn ca cho con nghe nữa. Thầy ca hay lắm, sư ạ.” Nghe
chuyện ấy tôi không khỏi ngạc nhiên vì cứ tưởng thầy
thích nhạc tiền chiến hay Trịnh công Sơn thì còn có lý vì
thầy chưa lớn tuổi lắm. Chứ chầu văn và ca Huế thường
là gu của mấy người già bảy tám chục tuổi !
Nghỉ
một lát, Trung lại phá lên cười lớn bảo: “Có khi thầy
cũng nổi nóng một cách bất ngờ, sư ạ. Có lần con lái
xe giữa đường bị một chị lái honda đâm ngang trước mũi
xe con, may con tránh kịp. Thầy bảo con:
“Trung,
mi lái xe đuổi theo con đó cho tao!”
Con
ngạc nhiên không biết thầy bảo đuổi theo làm gì, nhưng
cũng lái nhanh xe tới phía trước. Khi gần đến, thầy
quay kiếng xe xuống, thò đầu ra quát vào mặt chị kia:
“Này
con kia, mi muốn chết hả? Tau vừa đi nhập liệm về đây,
mi muốn chết thì chết đi, tau liệm cho!”
Chúng
tôi được một trận cười thoải mái khi nghe giai thoại ấy.
Cái khả kính dễ thương nơi những vị thánh không phải là
luôn luôn nghiêm trang trầm mặc, mà phải có lúc pha trò và
nổi sân “chay” như vậy mới làm cho người ta cảm thấy
gần gũi. Cách nay hai mươi năm, mỗi khi vào Sài gòn, thỉnh
thoảng thầy lại ghé thăm chúng tôi. Hồi ấy thầy hãy còn
trẻ lắm nhưng đã làm như một ông cụ, cứ than phiền Sài
gòn ồn ào náo nhiệt, thầy không bao giờ ở được quá tuần
lễ vì nhớ Huế, nơi có những vị Hòa Thượng khả kính
khiến mình đi đâu cũng phải khép nép cẩn trọng như bước
đi trên dao bén, không như ở Sài gòn muốn đi đâu thì đi,
làm gì cũng không ai nói. Thầy thích được sống gần các
bậc bề trên, không như đa số tu sĩ ngày nay ưa tự do phóng
túng “trên không chằng, dưới không rễ.”
Xe
trở về đến Huế lúc đã gần hai giờ chiều, chúng tôi
ở lại chùa Từ đàm để dự lễ Yết Tổ vào lúc ba giờ.
Khi một vị sư viên tịch, ở Huế (hay trong nghi lễ Phật
giáo nói chung) có lệ đưa linh vị của người quá cố đến
các tổ đình chính thức, những nơi mà sinh tiền vị ấy
đã từng tu học, hành đạo, để yết kiến chư tổ trước
khi làm lễ nhập tháp. Đấy cũng như làm lễ ra mắt với
thế giới vô hình của những bậc tiền bối đã khuất bóng.
Sóng đang trở về bản thể Nước và xin Nước hoan hỉ đón
nhận lại một người con. Đây là lúc Mẹ con gặp gỡ, giờ
phút mới cảm động làm sao! Chúng tôi được theo đoàn xe
đưa linh vị Ôn đi yết Tổ ở các chùa Báo quốc, Tây thiên,
Thuyền tôn. Xe chạy xuống ngả Bến ngự rồi vòng trở về
Báo quốc trước khi đi Tây thiên, Thuyền tôn. Hai bên đường,
dưới màn mưa lất phất, có rất nhiều bàn thờ (hương án)
nghi ngút khói hương và tăng ni phật tử đang quỳ mọp
khi đoàn xe yết Tổ đi qua. Trên mỗi hương án đều có di
ảnh của Ôn rất trang nghiêm thanh thoát.
Đoàn
xe yết Tổ trở về chùa Từ đàm lúc trời đã tối. Tối
hôm ấy còn có lễ tịch điện của môn đồ hiếu quyến
đọc điếu văn khóc Ôn cho đến chín giờ nhưng tôi không
tham dự được vì đã quá mệt và vì trời mưa tầm tã. Trời
như cũng tiếc thương trước cảnh ra đi của một bậc Chúng
trung tôn.
Sáng
hôm sau, 24.8 (11.10.2001) chúng tôi ra Từ đàm để dự lễ cung
nghinh kim quan nhập tháp. Trời âm u không nắng không mưa suốt
mấy tiếng đồng hồ, như cũng đồng cảm với rừng phật
tử đang chen chúc đầy chật sân chùa Từ đàm ra cho đến
ngoài đường Nam giao, Bến ngự. Dù mưa hay nắng đều sẽ
rất mệt cho đám đông khổng lồ ấy, nên trời rất im mát
cho đến lúc di quan ra đến xe tang. Y vàng chói lọi một vùng
khi chư tăng ni hàng hàng lớp lớp đi bộ tiễn kim quan ra xe
trong tiếng niệm phật vang rền. Trời bắt đầu đổ mưa
nặng hột khi đoàn xe gần một trăm chiếc từ từ chuyển
bánh hướng về tháp tổ Liễu Quán. Lễ nhập tháp diễn ra
trong bầu không khí trang nghiêm giản dị, vì tất cả nghi
lễ đã được làm trước tại chùa Từ đàm, và cũng vì
trời mưa lớn và đường đất sình lầy trơn trợt. Nhiều
người tiễn đưa trong đó có tôi, vẫn ngồi trên xe vì đường
quá đông đúc lầy lội và vì không có áo mưa.
Dự
tang lễ xong, tôi về lại ni viện Kiều đàm lúc hai giờ chiều
24 âm lịch. Thấy cô Diệu Thường chuẩn bị bộ sậu trống
kèn chuông mõ để đi A lưới làm lễ chẩn tế cô hồn tại
một ngôi chùa khuôn mới thành lập, tôi cũng đi theo lên thăm
vùng kinh tế mới mà năm 1999 chúng tôi đã đến cứu trợ
sau cơn lũ thế kỷ. Xe khởi hành lúc ba giờ chiều đến sáu
giờ chiều mới đến, vì phải qua một phà ngang tại trước
lăng Khải định. Bên kia thượng nguồn sông Hương là vùng
Bình điền nghèo khó, qua khỏi Bình điền rất xa nữa, qua
hai con đèo là đèo Kim Quy và một đèo chưa có tên nhưng rất
cao và dài hơn ba chục cây số, đầy nguy hiểm, mất đến
hơn nửa giờ lái xe mới qua hết, nên dân gọi là đèo mẹ
ơi. Xe đi qua những địa danh vừa xa lạ vừa quen thuộc (với
người thường đi cứu trợ) như Hồng Tiến, Hồng Hạ, Bốt
Đỏ, Mỏ Quạ...để tiến đến vùng núi non tận cùng của
đất nước. Một bên là dốc núi dựng đứng, bên kia là
thung lũng sâu hun hút, đã thế con đường cứ ngoằn ngoèo
liên tục đến chóng cả mặt, còn khó đi hơn cả những đèo
Hải vân, Rù Rì, Song pha hay Ngoạn mục. Tôi nghĩ đến những
nạn nhân xấu số trong hai tòa tháp chọc trời đang yên ổn
bỗng bị tai họa giáng xuống nát thây để cầu nguyện cho
họ và thêm can đảm cho mình. Quả thực đấy là một bài
học cho tất cả, để đừng xem chắc ăn bất cứ chuyện
gì. Có lẽ họ không bao giờ ngờ đến tai họa bất thần,
họ sống trong an ninh bảo đảm tối đa nên tai họa đối
với họ càng thảm khốc. Còn chúng tôi luôn sống trong chánh
niệm về vô thường, sẵn sàng chấp nhận mọi thứ nên dù
có gặp gì cũng coi thường; nhờ vậy mà tâm hồn rất an
ổn trong cái “tuệ giác về bất an” (wisdom of insecurity)
vì luôn luôn tâm niệm “Thế gian vô thường, quốc độ nguy
thúy, tứ đại khổ không.” Có một tấm thân tứ đại đã
là cái đích để hứng chịu bao nhiêu tên đạn trong cõi tồn
sinh. Thế nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đến địa điểm
A Lưới giáp ranh với xứ Lào, nơi có trên một ngàn gia đình
từ nhiều nơi đến định cư đang sống khốn khổ nhưng đầy
nhiệt tình với đạo. A Sao A Lưới là những địa danh kinh
khủng vào thời chiến, nơi nhiều binh lính đã bỏ thây chiến
trường. Ngày nay, đấy là một vùng đồi núi hiền hòa nơi
định cư của hàng ngàn gia đình từ xa xôi đến lập nghiệp.
Chùa Sơn Thủy do dân định cư được cấp đất để xây
dựng lên dần dần từ sáu năm nay nhưng vẫn chưa hoàn tất
công trình vì dân quá nghèo, khuôn viên chùa thiếu đất cho
sinh hoạt gia đình phật tử địa phương khá đông. Ban hộ
tự cho biết, cạnh chùa có một ngàn năm trăm mét vuông đất
đã khai phá, trồng quế, chủ đất muốn nhường lại cho
chùa với giá năm triệu đồng (tương đương ba trăm hai chục
dollars). Nhận thấy nỗ lực của đồng bào ở đây thực
đáng phục, tôi hứa khi về sẽ vận động tiền cho họ mua
thêm mảnh đất ấy.
Chùa
nằm trên một ngọn đồi, sau lưng là núi rừng chất ngất.
Gió núi thổi về lạnh buốt xương mặc dù tiết trời chỉ
mới vào cuối thu. Tối hôm ấy may sao trời tạnh ráo, phật
tử ở gần chùa đến nghe pháp vào khoảng ba chục người;
họ được hướng dẫn pháp môn thân hành niệm và đi thiền
hành trong chánh điện đến chín giờ tối mới giải tán.
Sáng
hôm sau, sáu giờ rưỡi sáng chúng tôi đã khởi hành về lại
Huế. Đường về vì xuống đèo nên lái xe càng phải rất
cẩn thận. Đến được Bình điền, qua phà rồi chúng tôi
mới thở phào nhẹ nhõm biết mình vẫn còn sống sót. Xin
dâng lên giác linh Ôn tất cả những ánh mắt nụ cười mang
đầy niềm vui của dân định cư A Lưới lúc đón tiếp phái
đoàn đến thăm. Ngày mai đây, họ sẽ còn vui hơn khi đón
quý thầy lên làm lễ chẩn tế cho các vong linh và cầu nguyện
cho âm siêu dương thái. Xin Ôn gia trì cho lễ chẩn tế này
được viên mãn, dân A Lưới từ nay hết cảnh cơ hàn và
được sống vui trong chánh pháp.