...
TRANG ĐẶC BIỆT 
TƯỞNG NIỆM
CỐ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ TRÍ HẢI 
SÔNG XUÔI RA BIỂN
Cao Huy Thuần

Tôi gặp lại Sư Cô Trí Hải ngay lần đầu về nước, tại Huế, năm 1980. Từ trong chùa Hồng Ân bước ra sân, tôi gặp Cô đang ngoài sân bước vào chùa. Tôi chắp tay cúi chào Cô. Cô chắp tay cúi chào tôi. Mười lăm năm xa cách mới gặp lại Cô, cảm động dường ấy, xôn xao nỗi này, vậy mà niềm vui như nằm yên trong hai bàn tay, tĩnh lặng như sân chùa buổi sáng. Khi tôi buông bàn tay ra, nỗi vui mới sổ lồng như chim. Cô cũng vậy, như nắng tháng tám vừa làm tan sương buổi sáng. Tôi nói : "Xin Chị cho phép tôi gọi Chị là chị lần này nữa thôi, tôi chưa quen gọi Chị là Sư Cô được". Tôi nói thế, nhưng trong lòng tôi, tôi biết ngay từ giờ phút ấy, chị Phùng Khánh bạn tôi đã vĩnh viễn tan như sương buổi sớm dưới nắng ban mai của một đại nguyện.

Cách đây mấy năm, cũng một buổi sáng, nhưng giữa Sài Gòn náo nhiệt, tôi nhân dịp ghé thăm Vạn Hạnh, tỏ ý với Thầy Trung Hậu muốn cùng đi qua thăm Cô. Thầy nói : "Giờ này chắc Cô Trí Hải đang ngồi thiền". Thầy tưởng tôi thất vọng. Không phải đâu, tôi nghe nói thế, lòng quá vui. Lòng tôi quá vui như mỗi khi về Huế, bước qua cổng chùa nào trên đồi Nam Giao vào hai thời công phu sáng chiều, đều nghe đồi núi văng vẳng tiếng tụng kinh. Ở thời buổi nhiễu nhương náo loạn này, còn có một người ngồi thiền không ai dám động, còn có tiếng kinh kệ văng vẳng giữa núi với mây, tôi còn giữ được niềm tin, cuộc đời còn đẹp, cái gì đáng tin vẫn tin, cái gì thật còn thật. 

Thật, chuyện bây giờ đã thành khó thấy ấy, ai cũng thấy nơi Cô. Cô thật như một người trí thức, trong suy nghĩ cũng như trong hành động. Cô thật như một người đạo hạnh, bên trong lẫn bên ngoài. Cô thật như một Ni Sư lớn, lớn nhất, trong thế hệ của chúng tôi. Cô thật như một tấm gương. 

Có lẽ vì chuộng cái thật như thế nên Cô suốt đời làm người học, học không mỏi mệt, và cách học hay nhất của Cô là dịch. Cô dịch kinh và dịch sách, sách Phật học nào có giá trị nhất, lợi ích nhất, kim cổ Á Âu, là Cô dịch, không nghỉ. Nhìn công trình dịch thuật của Cô, mấy ai theo kịp, vừa lượng vừa phẩm. Cô giỏi ngoại ngữ từ khi còn ở trung học. Cô viết văn rất hay, vui, nghịch, đài các. Lúc trẻ, Cô dám dịch cả Hermann Hesse, văn viết như thơ. Nhưng Cô viết ít, dịch nhiều, như tuồng dịch cũng là cách tu của Cô. Như tuồng Cô không muốn phô trương về mình. Như tuồng Cô chỉ muốn mượn cái đúng trong sách, trong kinh, để nói đúng, nhìn đúng, hiểu đúng, thấy đúng. Tài riêng của Cô trước khi đi tu, nét bút văn chương hoa gấm trời cho, Cô chỉ dùng để làm trong sáng bản dịch. Có lẽ Cô cho đó là hình thức, không phải nội dung.

         Chỉ với phong cách tu đó mà thôi, Cô đã gần Phật rồi. Huống hồ ai chẳng biết Cô còn đi đây đi đó, xả thân cho việc từ thiện, cứu khổ. Riêng tôi, tôi cứ nghĩ Cô còn gần Phật hơn nữa với hạnh khiêm tốn của Cô. Sinh trưởng trong một gia đình quý phái, bẩm chất thông tuệ, học giỏi, nghịch ngầm và cứng đầu, tôi cứ nghĩ rằng điều khó nhất cho Cô lúc đi tu là những luật lệ nhằm chế ngự tính kiêu hãnh, ngã mạn, nhất là những luật mà giới Ni phải chấp hành đối với giới Tăng. Nhưng hình như đó không phải là vấn đề đối với Cô. Ðối với Cô, người đã dịch Ðạt Lai Lạt Ma, trở ngại là bạn tu, nghịch chướng là giải thoát. Càng cúi xuống, Cô càng cao lên trong sự ngưỡng mộ của mọi người.

Với tất cả những đức tính hiếm có đó, ai cũng tiếc thương lặp lại ngàn lần : Cô là một bậc Ni lớn. Ðời tu hành của Cô, vững chắc trên niềm tin của đại thừa và trong an vui của thiền, là câu trả lời bình thản - và quá đẹp - của Phật giáo Việt Nam trước những tranh luận gay gắt của thời đại, nhất là ở Âu Mỹ, về vấn đề nam nữ. Giữa nam và nữ, đạo Phật tuyên bố bình đẳng, tuy giới tu có khác nhau. Bình đẳng ? Ðạo Phật đã giải phóng cho phụ nữ. Nhưng ngay trong hai chữ "giải phóng" đã hàm chứa ý niệm phân chia, chưa kể những ràng buộc xã hội, sinh lý, khiến nam và nữ, dù có bình đẳng tuyệt đối vẫn không giống nhau. Muốn giống nhau, cả về mặt tánh lẫn mặt tướng, về bản chất lẫn hiện tượng, chỉ có cách duy nhất là thực hiện triệt để khẩu hiệu mà phong trào nữ giới chủ nghĩa ở Mỹ thả bay như bươm bướm trong những năm bảy mươi : "kill man !". Nhưng có chắc giết đàn ông thì vấn đề nam nữ sẽ được giải quyết rốt ráo ? Hay là phải tìm chìa khóa trong hai chữ sau đây của tổ Bồ Ðề Ðạt Ma ? Tôi định bụng sẽ hỏi ý Cô trong dịp hè sắp đến, nhưng Cô đã đi mất rồi !

Lương Vũ Ðế hỏi Bồ Ðề Ðạt Ma : 

- Ỹ nghĩa cao nhất của Phật pháp là gì ?

Bồ Ðề Ðạt Ma đáp :

- Trống rỗng, chẳng có cái gì là cao.

Vua lại hỏi :

- Vậy ai đang ngồi trước mặt ta đây ? 

Ðáp :

- Không biết.

Ðưa hai chữ "không biết" cao siêu của tổ vào đây, tôi ý thức được sự nông cạn của tôi. Nhưng ai rốt ráo hơn ai, "kill man" hay là "không biết" ? Tổ không biết cả tổ, nói gì đàn ông với đàn bà ! Tôi dựa thêm vào kinh Pháp Hoa để nắm vững chìa khóa trong tay. Phẩm 14, Phật dạy Văn Thù :

"Trong thời kỳ dữ dội sau này, muốn diễn giảng Pháp Hoa thì phải đặt mình vững chắc vào trong bốn cách sống yên vui". Một trong bốn cách là "thường ưa ngồi thiền, ở chỗ không bị quấy nhiễu, tập trung mà sửa chữa tâm mình". Rồi sao nữa ? Rồi xét sự vật là không, thấy thật tướng các sự vật là "không thác loạn, không dao động, không suy thoái, không chuyển biến ... không phát sinh, không xuất hiện, không nổi dậy, không danh từ, không khái niệm ... không số lượng, không giới hạn, không trở ngại, không ngăn cách ... chỉ do tương quan mà có" . Dạy "không" như vậy rồi, Phật mới nói tiếp : 

"Cũng không phân biệt
Này đây là nam
Này đây là nữ"

Cô Trí Hải gọi sư mẫu của Cô, Sư Bà Diệu Không là Thầy. Thiện nam tín nữ gặp Cô, gọi Cô là Sư, chỉ thân thuộc mới gọi Cô là Cô. Người đang sống yên vui diễn giảng Pháp Hoa kia là Ni hay Sư ?  Ai thành Phật trong kinh Pháp Hoa, đàn ông hay long nữ ?  Mà long nữ lại thành Phật rất nhanh, chỉ trong chớp mắt :

"Bấy giờ, long nữ hai tay nâng viên ngọc hiến lên Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nhận liền. Long nữ thưa : đem thần lực của các ngài nhìn sự thành Phật của con thì sự ấy còn mau hơn việc này". 

 Phụ nữ cũng có thể thành Phật là xác quyết của chính Phật. Thân xác nam nữ không phải là cản trở, nữ biến thành nam trong Pháp Hoa, nam chuyển thành nữ với Quán Thế Âm bồ tát. Thông hiểu kinh sách thâm sâu, hành thiền chuyên cần, tinh tấn, còn ai biết sống hơn Cô trong chữ "Không" của Pháp Hoa để đối đãi trọn vẹn với giới luật ? Cô để lại hình ảnh một bậc Ni toàn vẹn mà Phật giáo Việt Nam tự hào, hình ảnh đẹp và thanh thoát của một hành trình đi vào chữ "Không". Trước chữ "Không" đó, đâu là tăng, đâu là ni ; có ai cao, có ai thấp ; có ai giống, có ai khác ? Kinh Duy Ma, kinh Thắng Man tuyệt vời trên quan điểm này. Tôi chỉ xin được thêm ở đây môt kinh ít được người biết, rốt ráo hơn cả Pháp Hoa, đưa sự "không phân biệt" của Pháp Hoa đến mức tận cùng : kinh Hải Long Vương, mà tôi muốn đọc vài câu trong niềm tưởng nhớ Cô Trí Hải.

Phẩm 14 : "Ngài Ca Diếp nói với long nữ Bảo Cẩm và các long nữ khác : vô thượng chánh giác rất khó thành đạt, không thể dùng thân người nữ để thành Phật được. Bảo Cẩm thưa : nếu người nào đem tâm vốn thanh tịnh thực hành bồ tát thì thành Phật không khó. Người ấy phát đạo tâm, thành Phật như thấy lòng bàn tay ... Nếu nói rằng không thể lấy thân nữ để thành Phật thì thân nam cũng không thành Phật được. Tại sao ? Vì đạo tâm đó không nam không nữ. Như Phật đã dạy : con mắt vốn tự không nam không nữ. Tai, mũi, miệng, thân, tâm cũng thế, không nam không nữ ..."

Cô Trí Hải đang cười tôi lý luận. Lý luận là chưa tu. Cô đã vượt trên lý luận rồi. Như thế, dòng sông đã êm xuôi ra biển.


NHƯ SƯƠNG NHƯ ĐIỂN CHỚP...
CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG
Tưởng niệm sư cô Thích nữ Trí Hải

"Không còn biết nữa thời gian có hiện hữu hay không, cảnh trước mắt đã hiện ra trong một giây hay đã tròn một thế kỷ, không còn biết nữa đây là Tất Đạt Đa hay đức Thế Tôn, một tiểu ngả hay cái gì khác. Thiện Hữu như vừa nhận mũi tên thần diệu đâm sâu vào trong chàng đem lại cho chàng niềm hân hoan. Vô cùng mừng rỡ, Thiện Hữu vẫn đứng một lúc, nghiêng mình trên nét mắt bình an của Tất Đạt mà chàng vừa hôn lên, nét mặt đã là sân khấu cho tất cả những hình hài hiện tại, vị lai. Vẻ mặt chàng không đổi sau khi làn gương của muôn nghìn hình thái đã biến mất. Tất Đạt mỉm cười bình an, hiền từ, nụ cười có vẻ đầy ơn huệ, cũng có vẻ châm biếm, hệt như đấng Giác Ngộ đã cười. Thiện hữu cúi thấp. Những giọt nước mắt khômg ngăn rỉ xuống khuôn mặt già nua. Chàng thấy tràn ngập một cảm giác yêu thương lớn rộng, ngập tràn niềm kính cẩn. Chàng phủ phục quỳ trước con nguời đang ngồi bất động, mà nụ cười nhắc chàng nhớ đến mọi sự chàng đã từng yêu thương trong cuộc sống, mọi  giá trị và thánh thiện trong đời chàng".

H. Hesse,  Siddharta, Câu chuyện giòng sông, Phùng Khánh dịch, trang 165, tái bản song ngữ trong Tuyển Tập Văn Học Đức Việt, tập 3, Giao Lưu Việt Đức, 2002)

Những giòng chữ này đã đến với chúng tôi trong thập niên 60, trong những ngày tháng của tuổi trẻ bồng bột và hăng say, nơi đó khát vọng và đam mê còn đầy như giờ thủy triều đang lên, tình yêu và ảo vọng còn căng ứ như những cánh diều lộng gió, và mọi hứa hẹn còn là những thúc dục lên đường viễn khơi mạo hiểm. Giữa những ngổn ngang đam mê dại khờ đầy vọng tưởng cao xa và vọng ngoại như thế, "câu chuyện dòng sông"  bỗng hé mở một thứ ánh sáng lạ lùng đến từ góc nhìn của một người nơi một hành tinh khác, phản ảnh như một tấm gương để nhìn lại mình, và bỗng thấy nhân vật chủ thể là mình đang vong thân xa lạ với chính mình. Mơ hồ câu hỏi tự vấn bỗng dấy lên ở một ngõ ngách nào đó trong dòng ý thức sống mà chính mình trong vô minh và ham muốn chưa nhận được chân tướng bản lai. Một câu hỏi từ đó đi theo cả suốt đời người, như một tìm kiếm, không phải hòng mong tìm được một vật thể ở ngoài để sở hữu trong tay. Trực giác của tuổi trẻ chỉ báo tin rằng, đây là một hành trình ngược chiều, trên con đường tìm về nội tâm, để gặp điều mà Thái tử Tất Đạt mấy nghìn năm trước đã chứng ngộ.

Tôi đã gặp chị Phùng Khánh lần đầu tiên như thế, không bằng hình hài, mà qua "Câu chuyện dòng sông" hay "Siddharta" của H. Hesse, qua ngọn bút dịch thuật tài hoa của chị. Như một kẻ đầu đàn trong giới lưu nữ tiếp cận với văn hoá tây phương, Phùng Khánh đã khám phá "Siddharta" như một của báu và trao lại cho chúng tôi. Từ đó không thể nào quên những giây phút lạ lùng giữa những cuốn hút của giòng văn, con mắt của chính mình đã hơn một lần choàng tỉnh nhận ra "của báu trong nhà tìm kiếm mãi" đang được một người ngoại cuộc nâng niu, rồi có một ngưòi chung cuộc trang trọng trao lại cho mình.  Bỗng như một liên cảm, tuy chỉ văn kỳ thanh mà đã thấy tri ân chị Phùng Khánh xa lạ chưa quen 

Khi tôi gặp chị trong phong trào Phật giáo giữa năm 1964-1965 thì chị đã là Sư cô Trí Hải trong chiếc khăn bịt đầu và tấm áo nâu đơn giản, đã là một cánh tay đắc lực cho quý ôn và quý Thầy trong công việc Phật sự văn hóa. Trong một giây tôi đã nghĩ rằng: chị đã lên đường rồi đây, cương quyết hơn tất cả những người cùng thế hệ, giả từ cuộc chơi phiêu lưu ảo tưởng là cuộc đời nhiều hứa hẹn cám dỗ. Chị đang cất bước  trên "đường về nội tâm", làm cuộc thể nghiệm đích thực theo dấu vết của nhân vật siêu nhiên Tất Đạt Đa. Bỗng thấy có một chút kính nể và sợ hãi nơi dáng điệu khắc khổ và nghiêm trang của vị nữ tu trẻ tuổi này. Gương mặt và đôi mắt sáng ngời tỏa ra nghị lực nội tâm không có gì có thể lay chuyển trong chí nguyện tu học, Sư cô Trí Hải đã không ngừng thể hiện tri và hành trong thế nhất quán Bi Trí Dũng của lời dạy Đức Phật và của các bậc Đạo sư. Đôi khi quá nghiêm khắc và nghiêm minh đến nỗi làm e dè những kẻ hay dễ dãi với chính mình trong việc tu tâm. Ni cô đã nổi tiếng trí tuệ nhất mực, chuyên cần nhất mực, giữ giới nghiêm túc không ai bằng, nhưng không bao giờ tự mãn. Có lần Sư cô đã tâm sự sau khi Sư bà Diệu Không, Hòa thượng Thiện Siêu viên tịch: rằng sự học nơi những vị tôn sư không bao giờ cạn, luôn luôn ta có thể khám phá nơi người đi trước những NÉT ĐẠO tuyệt đẹp mà chỉ những giờ phút gần gũi ta mới thụ nhận được. Không cần một chút son phấn phù hoa, người nghe bỗng thấy được tham dự trong một vùng ánh sáng rực rỡ của vẻ đẹp tinh thần đến từ đức hạnh cao quý của vị nữ tu. 

Chính vẻ đẹp cao quý tổng hợp được những nét của con người Phật tử Việt nam bằng trí tuệ và tình thương này đã có sức mạnh thuyết phục những người xa lạ. Có lần một sinh viên Đức làm luận án cao học về so sánh các tôn giáo hỏi tôi về Phật giáo Việt Nam và những vị trong hàng tu sĩ. Tôi đã giới thiệu các vị tôn túc ở Việt Nam. Sau chuyến đi tham khảo, sinh viên ấy trở lại Đức, gặp tôi để cám ơn đã cho anh ta cơ hội gặp, tìm ra và hiểu được Phật giáo Việt Nam qua một vị nữ tu sĩ. Người sinh viên đã tả hình dáng và gương mặt của vị mà từ đó anh ngưỡng mộ là vị Thầy Việt Nam. Tôi nghe và biết đó là Sư cô Trí Hải. Hôm ấy tôi đã vui và hạnh phúc như chính mình được gặp cố nhân. 

Một người Đức khác, xúc động nghe tin Ni Sư viên tịch, gặp Ni sư trong công tác từ thiện hơn 10 măm, TS W. Boehme của Hội W.P. Schmitz- Stiftung, đã nhận chân được ý nghĩa sâu xa đạo Phật nằm trong từ bi và trí tuệ qua hành sự của Ni sư. Ông đã từng nói: chương trình cứu trợ từ thiện nào ở Việt Nam có sự đỡ đầu của Ni sư Trí Hải đều nên được bảo trợ.

Không gặp Sư cô, những lúc như thế tôi cảm nhận được thọ ơn đầy an lành !

Trong những năm sau, có thể nói mỗi lần gặp Ni sư Trí Hải là mỗi lần vui pha lẫn với kính trọng. Vui trong niềm an lạc, vì nhận ra bước chân của sư cô càng lúc càng thanh thoát nhẹ nhàng, mọi chiến đấu nội tâm trong thuở ban đầu không để lại đấu vết, tâm hồn nghệ sĩ thoáng mát trên gương mặt sáng rỡ nụ cười rộng lượng. Không chỉ còn một con đường nội tâm hạn hẹp mà nụ cười ấy là muôn nẻo vào cửa Giác Ngộ : "bạn có thể vào Thiền bằng bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời sống là một thiền định sâu xa: núi đồi, trăng sao, hoa lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định. Bởi thế, bất cứ gì cũng có thể trở thành ngõ vào thiền" (Thích Nữ Trí Hải, Cảm hứng từ những Pháp thoại Osho, viết theo lời thỉnh nguyện của TKL, www.Khuongviet.com )

Từ nơi xa, đọc những lời của Sư cô, thấy như tâm được chỉ nơi an trú và biết rằng Ni sư Trí Hải đang cười khi nghe những kẻ còn vướng tục lụy như tôi đang làm chay hát bội trong cõi ta bà, rằng Ni sư cũng muốn có một tấm vé đi xem hát như một người mê hát, chỉ khác chúng tôi một điều: nơi Sư cô "mê ngộ" đã trong suốt như tiếng cười pha lê. Và tôi đã đinh ninh an tâm như thế ở nơi phương trời xa: biết rằng nơi quê nhà, - thảng lúc tôi có dịp quay về, ở đó có một dòng sông đang chảy, và có một cô lái đò với nụ cười đang thong dong chờ những kẻ biết quay về muốn qua sông mà bơ vơ không có người chỉ nẻo.

Tin Sư cô liễu sinh đã đến với em trong một tâm thức như thế, thưa Sư cô ! Chắc chắn Sư cô đang cười và đưa một ngón tay lên trong thế hoa sen và bảo rằng: "chị Kim Lan thấy chưa, chị đang chấp vào một hình ảnh ! Chị còn mê mờ lắm ! Chị chưa thiền !" Cô đã nói : "Khi thiền định, ta thấy mình chỉ như một làn sóng trên đại dương cuộc đời. Nói cho cùng thì chỉ có biểu hiệu sự hiện hữu mà thôi. Không thể có những làn sóng mà không có biển. Sóng chỉ là hiện tượng mà biển thì là thực chất." (đã dẫn trên)

Quả thật như thế, thưa Sư cô, tin Sư cô và cùng với hai thị giả là cô Tuệ Nhã và Phước Tịnh đã như một tiếng sét, như ánh chớp vụt đến làm rụng rời. Nhưng ngay sau giây phút bàng hoàng, không hiểu sao từ lúc ấy hình ảnh Sư cô hiển hiện trong tâm không dứt: thong dong, tự tại, hoan hỉ, cô đang cầm tay hai người đệ tử cùng đoàn lữ nhân du hành trên biển cả. Vũ trụ đang quay cuồng trong pháp hữu vi "mộng huyển bào ảnh", cô đang cùng đệ tử vượt cơn sóng dữ trong nụ cười:

"Chúng ta cũng chỉ là những làn sóng trên đại dương và vũ trụ. Hơi thở vào của mỗi người là hơi thở ra của người khác và của cây cối, mọi sinh vật khác. Trong ta có toàn thể mọi người, mọi sự". (TNTH, đã trích dẫn).

Có phải không cô Tuệ Nhã và Phước Tịnh và những người lâm chung ?, có phải hai vị đang cùng với Ni sư đang vượt giông tố để đến vùng ánh sáng móng trời? Cô Tuệ Nhã ơi, em đã giật mình khi nhận ra cô trên di ảnh, sư cô có cặp mắt đen như hai hạt nhãn, nét mặt sáng như sao, người ốm nhỏ như sóc, mỗi lần gặp cô ra mở cửa, là mỗi lần kính phục Ni sư Trí Hải thâu dạy đệ tử nghiêm minh mà hòa ái, tao nhã mà ân cần, là mỗi lần thương quý các Sư cô vô hạn. Biết rằng quí cô thương yêu và quí trọng vị thầy của mình bất diệt. Hai Sư cô đang bỏ dòng sông như sương như điển chớp theo Thầy trên đại dương bao la.  Có phải hai Sư cô là ngôi sao, hay cánh bướm, hay hoa ngâu trong vườn ưu đàm, rơi trên vạt áo ni sư trưởng đang chỉ nẻo vào cõi vô sanh?

Nam mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Saigon 11.12.2003
Phật tử Thái thị Kim Lan cẩn bái

(Source: Khuông Việt)


NÉN HƯƠNG TƯỞNG NHỚ
NI SƯ  THÍCH NỮ TRÍ HẢI

Đối với những người rong chơi trong sanh tử, như một cuộc du hành trong thân cát bụi. Bước chân trên sanh tử như giẫm chân trên trái cầu quay tròn, thênh thang, an lạc. Đây là giấc mộng trong những giấc mộng, nhưng những vị mang tâm hạnh Bồ tát, những vị nhìn thấy tánh Phật nơi mình và người, vẫn đi vào cuộc sanh tử nầy vì mọi nguời, vì mang nặng tâm Bồ đề. Những thương yêu, giận hờn, khổ vui, giao tế, danh lợi, tài sắc, vinh nhục, thịnh suy v.v.. chỉ là những bông hoa trổ ra, làm đẹp trên đoạn đường đi trong mộng và giấc mọâng có nghĩa là gì! Vì chúng sanh khổ nên người khổ, vì chúng sanh trầm luân nên đôi tay người cứu vớt, trên nét mặt từ bi của họ thể hiện trọn vẹn ba ngàn đại thiên thế giới của tấm lòng và mỗi hạt cát sông Hằng chỉ là mỗi tấm lòng đối với con người. Cho nên, sự Sanh hay Tử chỉ là một giai đoạn mượn tạm dụng cụ thân xác để hoàn thành cái tình yêu cao thượng nầy.Bài thơ sau như một nén hương dâng lên tưởng nhớ đến Ni Sư Trí Hải vừa viên tịch, vị Thầy khả kính. Tôi đã lặng yên hằng giờ, trong mọi sự im lặng hoàn toàn và sự xúc động tràn dâng khi nghe tin nầy. Người vẫn còn mãi mãi trong hương trầm mà Người đã đốt, sẽ lan đi và gió sẽ đưa đi...vì bàn tay từ ái đó, vẫn còn ở muôn nơi.
 

Đêm nay, ta ngồi đây
lắng nghe dòng sông cuộc đời 
đang cuồn cuộn chảy
như từng cơn gió thổi qua
có bao lần gió trở lại
khi gió đã đi qua !!! 

Đêm nay, ta ngồi đây
đốt nén hương tưởng niệm
như hương xưa người đốt
để gió thổi hương đi
hương ấm mình qua lá
lá xanh ở trên cành, 
lá vàng còn say sưa
hương xoa dịu cuộc đời
mắt mỉm cười ngóng trông 
và Người đương về đâu

Những người ôm sanh tử
như một cuộc rong chơi
giữa tro tàn cát bụi
thân xác có là gì
sống chết có là gì
những người đùa sanh tử
trong mộng ươm giấc mộng 
làm no ấm tâm người

Người đi về nơi đâu
vẫn biết rằng sống còn
chỉ là trò hư ảo
ta vẫn xin khấn nguyện
hương trầm xưa Người đốt
đem đến cho cuộc đời
của bao người khổ nạn
bàn tay từ ái đó 
vẫn còn ở muôn nơi

Ngày 09.12.03
Cư sĩ Liên Hoa ( Thanh Minh ).


Sư bà Trí Hải 
một trí thức tận tụy phục vụ đạo và đời 

 
  
 LTS (báo Thừa Thiên Huế) - Sư Bà Thích Nữ Trí Hải, tác giả, dịch giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu  Phật Học, văn học. Bà cũng là người có công trong việc xây dựng Phật Giáo Việt Nam, người tận tụy với người nghèo trong nước. Bà đã viên tịch tại TP. HCM vì tai nạn giao thông trên đường đi cứu trợ giữa tỉnh Ðồng Nai và Bình Thuận (ngày 7.12.2003). Ngòai Sư bà còn có 2 nữ tu và một số người khác nữa tử nạn. Sư bà Trí Hải là một người Hòang tộc, học hành và xuất gia tại Huế. Nghe tin Sư bà viên tịch một cách đột ngột, nhiều bạn bè và Phật tử ở Huế rất xúc động. Để tưởng nhớ đến Sư bà, chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân - vừa là người cùng thế hệ vừa là người có một thời tranh đấu Phật giáo với Sư bà sau đây. 

Báo Thừa Thiên Huế. (TTH) - Chúng tôi vừa được tin Sư bà Thích Nữ Trí Hải thế danh Công Tôn Nữ Phùng Khánh vừa viên tịch tại TP. HCM vì tai nạn giao thông. Được biết ông là nhà nghiên cứu Huế lại là người cùng thế hệ với Sư bà lúc học trường Quốc Học và Đại học Huế và cùng xuất thân trong thế hệ SVHS tranh đấu 1963 với Sư bà, xin ông vui lòng cho biết những điều cần biết về Sư bà Trí Hải.

Nguyễn Đắc Xuân (NĐX) - Về tuổi tác thì tôi sinh năm 1937, Sư bà sinh năm 1938 có thể nói cùng thế hệ. Nhưng về học vấn, tôi đi học trễ nên học sau Sư bà nhiều năm. Tôi học cùng một thế hệ với cô Phùng Thăng - em ruột của Sư bà tại Quốc Học (1960) và Đại học Huế (1961). Và, đúng là tôi và Sư bà cùng xuất thân trong Phong trào Phật giáo đấu tranh chống Ngô Đình Diệm, nhưng có khác một chút là năm 1963 tôi đấu tranh ở Huế còn Sư bà thì ở bên Pháp. Sư bà học trước tôi, về sau Sư bà lại xuất gia cho nên sự hiểu biết của tôi về Sư bà không nhiều. Tuy nhiên, các bạn cứ hỏi, điều gì tôi biết tôi sẽ nói, điều gì tôi chưa biết tôi sẽ tìm hiểu và trả lời trong một dịp khác.

Báo TTH.-  Như ông biết Sư bà TH làm việc tu hành trong âm thầm lặng lẽ cho nên độc giả rất thiếu thông tin về Sư bà. Mong ông cho biết đôi nét về cuộc đời của Sư bà. 

NĐX.- Sư bà là hậu duệ của vua Minh Mạng, thuộc Phủ Tuy Lý ở Vỹ Dạ, những người ngang hệ với Sư bà có Bửu Hội (nhà khoa học), Bửu Cầm (học giả), Bửu Ý (Dịch giả), Bửu Huyền (Nhạc sĩ), Bửu Chỉ (Họa sĩ).v.v.  Cụ thân sinh là nhà giáo Ưng Thiều nổi tiếng giỏi Pháp Văn ở Huế trước đây. Sư bà có nhiều anh chị em, nhưng tôi chỉ biết chút đỉnh về Sư bà và cô Phùng Thăng (út ?) mà thôi. Sư bà học trường Đồng Khánh từ nhỏ. Năm 1956 chuyển qua học Tú Tài 2 tại trường Quốc Học và năm 1957 đỗ vào Khóa 1 Anh văn Đại Học Sư phạm Huế. Năm 1960 ra trường và được đổi vào dạy Anh văn tại trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng rồi đi du học. Sư bà theo học và tốt nghiệp Cao học văn chương tại viện đại học Princeton Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1960 rồi sang Pháp học tiếp. Đến cuối năm 1964 về nước và đầu năm 1965 cắt tóc đi tu. Sư bà giỏi Anh Ngữ, Pháp ngữ và Hán ngữ. Trước năm 1975 Sư bà dạy Anh văn, làm quản thủ thư viện kiêm luôn Giám đốc Trung tâm An sinh Xã hội của Viện Đại học Vạn Hạnh. Sau năm 1975 Sư bà chuyên dịch kinh sách và làm từ thiện. Những năm gần đây, Sư bà tham gia Ban dịch thuật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng với học giả  Lê Mạnh Thát, đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam.

Báo TTH.-  Với tư cách là một nhà nghiên cứu Huế, ông thấy gia đình Sư bà TH có những đặc điểm gì đã ảnh hưởng đến Sư bà ?

N.Đ.X.- Có lẽ phải nghiên cứu thêm mới nói chính xác được. Đến bây giờ thì tôi nghĩ về gia đình Sư bà có mấy việc đáng chú ý sau: 1. Gia đình Sư bà là một gia đình đi dạy học, ông thân sinh (cụ Ưng Thiều), ông anh ruột (ông Bửu Vụ, từng làm Hiệu trưởng trường Thế Dạ), bà chị ruột (Khánh Trợ dạy tiểu học).v.v. và ở Huế hiện nay còn cô cháu TNDV từng là một giáo viên Pháp văn giỏi của trường Lê Lợi; 2. Một người anh ruột của Sư bà là ông Bửu Đà, đẹp trai, học giỏi đã xung phong đi Nam tiến chống Pháp và hy sinh rất anh dũng ở chiến trường Nha Trang hồi đầu kháng Pháp. Sự hy sinh của ông Bửu Đà khuyến khích nhiều học sinh thanh niên ưu tú ở Huế lúc ấy tham gia cách mạng; 3. Gia đình Sư bà rất mộ đạo Phật. Sư bà Thể Quán rất nổi tiếng ở Huế trước đây là chị con bà cô ruột của Sư bà (bà Như Nguyện), người em ruột của Sư bà là Tôn nữ Phùng Thăng đã lập gia đình với Trần xuân Kiêm  cựu Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế và Chủ Tịch Ðoàn Sinh Viên Phật Tử Huế. Hai người đã có một người con gái, sau đó Phùng Thăng dứt gánh đi tu, pháp hiệu Thích Nữ Huệ Minh. Năm 1975, Phùng Thăng đưa con vượt biên và cả hai mẹ con đã bỏ mình vì hải tặc. Một người cháu gọi Sư bà bằng dì ruột (con trai bà Khánh Trợ) xuất gia với pháp hiệu Tâm Ngọan đang làm Phật sự tại Mỹ. Có lẽ còn nhiều người xuất gia nữa mà tôi chưa biết. 

Báo TTH.-  Với tư cách là người xuất thân từ trong Phong trào đấu tranh của Phật giáo, ông có nhận xét gì về mặt phục vụ đạo pháp của Sư bà TH? 

NĐX.- Thế kỷ XX, Phật giáo có nhiều bậc nữ tu đạo cao, đức trọng ví dụ như cố Sư bà Diệu Không, cố Sư bà Thể Quán, Sư bà Cát Tường hiện nay... là tôn sư của Sư bà TH. Không thể so sánh Sư bà TH với các bậc tôn sư ấy. Và, cũng không có một vị nữ tu nào hiện nay có thể so sánh với Sư bà TH. Có thể nói Sư bà TH đã tạo cho mình một vị trí đặc biệt. Từ xưa đến nay (theo chỗ tôi biết) chưa có một nữ tu nào giỏi chữ Hán và giỏi Anh văn-Pháp văn như Sư bà TH. Sư bà đã trước tác và dịch thuật hơn một trăm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm là những công trình dịch thuật đồ sộ. Ví dụ như bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), 2 tập ngót 2100 trang (do chùa Pháp vân Canada ấn hành). Sư bà được mời đi dạy học và thuyết pháp nhiều nơi, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam. Sư bà thuyết pháp cho người Việt và cả người ngọai quốc. Gần bốn mươi năm đắp trên mình màu áo già lam, Sư bà TH đã tổ chức hàng trăm cuộc cứu trợ người nghèo, giúp đỡ hàng trăm nhà trẻ, cô nhi. Sư bà làm việc hết mình, khiêm nhường, tinh tấn, trách nhiệm, tạo nên chung quanh Sư bà một cuộc sống có đạo vị, thanh cao, lôi cuốn mọi người làm điều lành, khắc phục bớt cái khổ của con người. 

Báo TTH.- Xin ông cho biết những công trình dịch thuật được nhiều người đọc của Sư bà !     

            NĐX.- Trong lãnh vực trước tác, dịch thuật Kinh sách và văn chương, có những tác phẩm nổi tiếng như như Câu Chuyện Của Dòng Sông, Lục Tổ Huệ Năng, Lược Giảng Kinh Pháp Hoa, Nhập Bồ Tát Hạnh, Sống Chết Bình An, Nguồn Mạch Tâm Linh, Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), 2 tập ngót 2100 trang (do chùa Pháp Vân Canada ấn hành) vừa nói trên. Tư tưởng quán xuyến trong các tác phẩm dịch thuật cũng như tác phẩm do Sư bà trước tác đều nhắm vào việc cổ động mọi người trong xã hội làm việc tốt cho con người, đúng như tên một cuốn sách của Nhật Bản mà Sư bà đã dịch thuật  Làm  Việc Một Nguồn Vui. Giới thiệu cuốn sách nầy (nxb TP HCM, 2000) Sư bà viết: “Nhờ tập sử dụng phương tiện khéo trong mọi việc ta làm, chúng ta có thể chuyển cuộc sống hàng ngày thành một nguồn vui, một thành tích còn hơn cả mọi giấc mơ đẹp nhất của mình”. Về phương diện văn học, tôi còn nhớ năm 1965, Sư bà mới về nước liền cho xuất bản cuốn Câu Chuyện Của Dòng Sông của Hermann Hesse (1877-1962) (Nxb Lá Bối ấn hành). Đây là tác phẩm dịch in rất trang nhã, nội dung ngợi ca tinh thần hướng về phương Đông, khác với các tác phẩm dịch nhuốm màu triết học Hiện sinh (Existentialisme) của phương Tây đang chiếm lĩnh văn đàn miền Nam lúc đó. Cuốn sách ra đời phù hợp với tinh thần đấu tranh hướng về dân tộc của tuổi trẻ miền Nam những năm sau đó. Sau Câu Chuyện Của Dòng Sông, Sư bà còn dịch thuật nhiều tác phẩm văn chương ý vị khác, tôi không thể kể hết trong một câu trả lời phỏng vấn ngắn như thế nầy. 

Báo TTH.-  Xin ông kể một kỷ niệm sâu sắc về Sư bà !

NĐX.- Đầu tháng 11.1964, sinh viên Huế phát động phong trào đấu tranh chống chánh phủ tay sai Mỹ Trần Văn Hương. Một cuộc tuyệt thực dài ngày diễn ra ở bùng binh Morin ngay đầu phía nam cầu Trường Tiền. Một buổi chiều, bổng dưng tôi thấy cô Phùng Khánh ( lúc ấy Sư bà chưa xuất gia, còn mang thế danh Phùng Khanh) xuất hiện, dáng điệu mềm mại hiền lành như người từ trên trời phái xuống. Phùng Khánh cho biết cô vừa đi du học về  thấy sinh viên học sinh Huế đấu tranh để bảo vệ đạo pháp và dân tộc, cô đến tuyệt thực với anh chị em. Bọn sinh viên tranh đấu chúng tôi là bọn “liều mạng”, “điếc không sợ súng” đấu tranh chống một chính phủ do người Mỹ đặt lên chưa biết sẽ đi đến đâu mà được một cô Tôn nữ “quý phái” lại vừa học ở ngọai quốc về cùng xuống đường với mình thì hân hạnh biết bao. Bốn năm cô vắng bóng ở Huế, không biết cô đi du học từ lúc nào mà về “hợp thời” đến như vậy. 

Trong lúc chúng tôi đang ngồi tuyệt thực thì chuyển trời tối sầm mưa gió ào ào. Chúng tôi phải di chuyển địa điểm tuyệt thực vào dọc mái hiên Morin. Tối hôm 7.11.1964, các đài phát thanh báo cơn Bão Iris kéo qua các tỉnh từ Phú Yên ra đến Quảng Nam. Ở Quảng Nam núi lỡ, nhiều làng bị vùi trong đất đá, người chết rất nhiều, mùa màng trôi sạch. Nghe tin đó cô Phùng Khánh khóc ròng. Cô dừng tuyệt thực và rủ một số bạn bè đi quyên góp tiền, gạo, áo quần đem vào Quảng Nam cứu trợ cho những người bị thiên tai. Chuyến đi đó cô bị nghi ngờ là đi “cứu trợ cho Việt Cộng”, (vì nhiều làng được cứu trợ nằm trong vùng giải phóng), nhưng cô không sợ. Đi cứu trợ về, cô lại tham gia tranh đấu cho đến ngày Nội các Trần Văn Hương ra đi (đầu năm 1965). Sau đó cô xuất gia với pháp hiệu Trí Hải, đệ tử của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Sư bà Diệu Không. Kỷ niệm sâu sắc về Sư bà TH là cuộc cứu trợ nạn lụt ở Quảng Nam cuối năm 1964, và không ngờ đúng 39 năm sau, một tai nạn đưa đền cái chết của Sư bà cũng liên quan đến chuyện đi cứu trợ của Sư bà ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Thay mặt những anh chị em sinh viên tranh đấu thế hệ 63, anh Hoàng Nguyên Nhuận - bút danh của anh Hoàng văn Giàu, đoàn trưởng đầu tiên của Ðoàn Sinh Viên Phật Tử Huế 1963, đã thành kính tưởng niệm hương linh Sư Bà Trí Hải và phân ưu cùng Phật giáo Việt Nam, đồng bào Việt Nam về sự mất mác lớn lao này.  

Báo TTH.-  Xin ông cho biết những tin tức mới nhất có liên quan đến Sư bà ?

NĐX.- Qua những người Huế vào TP HCM dự đám tang Sư bà, tôi được biết ngày hôm nay 12.12.2003, nhục thân của Sư bà sẽ được hỏa thiêu để hương hồn Sư bà sớm về cõi Phật.

Báo TTH.-  Xin cám ơn ông. 
 

TVHS