THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish Mirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
LÒNG TỪ BI LÀ NỀN TẢNG CỦA HÒA BÌNH THẾ GIỚI
HT. Thích Trí Chơn
A DỤC VƯƠNG MỘT CƯ SĨ PHẬT TỬ HỘ TRÌ CHÍNH PHÁP VĨ ĐẠI
H.T. Thích Trí Chơn

A SOKA hay A DỤC VƯƠNG (273-233 trước Tây Lịch) là một vị vua, nhân vật lịch sử vĩ đại không những đối với lịch sử Ấn Ðộ mà cả lịch sử thế giới. Ngài còn là một cư sĩ Phật tử “Hộ Pháp” có công đức nhiều với nhân loại trong việc phát huy, bảo vệ chánh pháp của đức Phật.

A Dục Ðại Ðế là cháu nội vua Chandragupta (trị vì: 322-298 trước T.L), người sáng lập nên triều đại Maurya (322-184 trước T.L) ở Ấn Ðộ. A Dục là con vua Bindusara và hoàng hậu Subhadrangi, trị vì vương quốc Magadha (Ma Kiệt Ðà) vào những năm 298-273 trước T.L), với kinh đô đóng tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), nay là thủ phủ Patna, thuộc tiểu bang Bihar, miền đông Ấn Ðộ. Sử chép rằng Vua Bindusara lấy đến 16 vợ và có 101 người con, trong đó Sumana là con đầu, Asoka (A Dục) thứ hai và Tishya là con út. Vua A Dục lên ngôi lúc ngài 30 tuổi và mất vào năm 71 tuổi (273-233 trước T.L). Nhà vua có năm vợ và sáu con: bốn trai, hai gái.

Sử chép rằng sau khi nghe tin vua cha băng hà, A Dục bấy giờ đang cai trị tiểu quốc Avanti (miền bắc Ấn Ðộ), cấp tốc kéo quân về vây hảm kinh đô Pataliputra, giết hết 99 người anh của mình, trong đó có thái tử Sumana là người mà vua cha Bindusara định truyền ngôi cho. Từ đó, A Dục Vương nổi danh như một hung thần bạo chúa, cai trị muôn dân bằng sắt máu. Ông dùng vũ lực xua quân đi xâm lăng các tiểu quốc lân bang để mở mang bờ cõi. Quân nhà vua đi tới đâu, cảnh lương dân bị chém giết, đẩy ải, nhà cửa bị đốt phá xảy ra đến đó. Khắp nơi dân tình khốn khổ vì nạn nghèo đói, bệnh tật, tù đầy, gây nên bởi những cuộc viễn chinh tàn bạo của A DụcVương. Do đó, nhà vua được người đời bấy giờ tặng cho cái tên Candasoka (A Dục Vương hung ác). 

Rồi một hôm, đang ngồi một mình trên lầu trong cung điện, vua A Dục chợt nhìn qua khung cửa sổ, bắt gặp hình dáng một chú tiểu Sa Di tên Nigrodha trong chiếc áo cà sa vàng, với dáng điệu khoan thai đang đi khất thực dưới đường. Nhà vua bèn cho mời chú tiểu vào để thăm hỏi và vấn đạo. Sa Di Nigrodha sau đó đã thuyết giảng cho A Dục Vương nghe một đoạn kinh Pháp cú (Dhammapada) như sau: “Không phóng dật đưa tới bất tử; Phóng dật đưa tới đường tử sanh. Người không phóng dật thì không chết; Kẻ phóng dật thì sống như thây ma”. Nghe xong nhà vua liền thức tỉnh, phát tâm hồi đầu theo Phật. Từ đó, A Dục Vương bắt đầu thay đổi cuộc sống và quan niệm nhân sinh của mình. Nhà vua nghĩ đến sự chiến thắng, chinh phục nhân tâm bằng chánh pháp của đức Phật chứ không phải bằng những cuộc chiến tranh tàn bạo. Mặc dù vua A Dục đã theo Phật Giáo sau những ngày gặp Sa Di Nigrodha, nhà vua vẫn chưa diệt hẳn tham vọng bành trướng đất đai mãi đến sau trận chiến Kalinga (nay thuộc tiểu bang Orissa, miền đông Ấn Ðộ), với 100.000 người chết, và 150.000 người bị đày ải, vua A Dục mới thực sự ăn năn sám hối tội ác, gây nên bao thống khổ điêu linh cho muôn dân và từ bỏ hẳn con đường chinh phục thiên hạ bằng chiến tranh.

Từ ngày đó, vua A Dục nhất tâm quy y, phụng trì Tam Bảo, ngày đêm sám hối những tội lỗi mình đã gây ra và phát nguyện đem hết năng lực còn lại của đời mình để phụng sự Phật Giáo và nhân loại. Về xã hội, nhằm gây hạnh phúc cho nhân dân, nhà vua ra lệnh sửa sang đường sá, cầu cống; dọc đường trồng cây có bóng mát, xây dựng quán nghỉ ngơi, giếng nước, trạm phát thuốc cho người bệnh, người già, kẻ lỡ đường v..v….Về y tế, nhà vua cho thiết lập khắp nơi trong nước nhiều bệnh viện, không những để chăm sóc, chữa bệnh cho con người, mà cả đến loài vật.

Về tôn giáo, A Dục Vương chủ trương bao dung và tôn kính tất cả mọi tôn giáo cùng giúp đỡ cho các đạo giáo phát triển. Riêng với Phật Giáo, nhà vua tích cực bảo vệ, truyền bá chánh pháp của đức Phật, không những trong nước Ấn Ðộ và các quốc gia khác ở Á Châu, mà lan rộng cả đến Âu và Phi Châu. Vua A Dục muốn biến cải Phật Giáo bấy giờ thành tôn giáo chung của toàn thế giới.

Nhà vua đích thân đi chiêm bái các Thánh Tích Phật Giáo như vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), nơi đức Phật đản sinh hơn 2.500 năm trước; Bồ Ðề Ðạo Tràng (Bodh Gaya), nơi đức Phật tọa thiền chứng đạo dưới cội Bồ Ðề, vườn Lộc Uyển (Sarnath), nơi đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên “Tứ Diệu Ðế” v..v….và tới đâu ngài cũng ra lệnh cho dựng các trụ đá để ghi dấu tích và kỷ niệm. Chính nhờ những trụ đá này mà về sau các sử gia nghiên cứu mới biết rõ được những di tích lịch sử liên quan đến đời sống và hoạt động của đức Phật thời xưa ở Ấn Ðộ. 

Nhà vua cho xây cất rất nhiều chùa tháp, tu viện Phật Giáo trong nước, và giúp đỡ chư Tăng trong nhiệm vụ đưa giáo lý an lạc của đức Phật vào cuộc đời. Vua A Dục cũng khuyến khích cho hai người con của mình là hoàng tử Mahinda (Ma Hưng Đạt) và công chúa Sanghamitta xuất gia đi tu. Ðại đức Mahinda, người có công lớn trong việc mang Phật Giáo từ Ấn Ðộ sang truyền bá tại Tích Lan vào năm 247 trước Tây Lịch. Còn Ni Cô Sanghamitta, không lâu sau đó, theo lời khuyên của đại đức Mahinda, cũng vượt biển bằng thuyền qua Tích Lan để góp sức với anh mình trong việc phát huy truyền bá Phật Pháp tại đây. 

Cùng đi với Sanghamitta, còn có 11 Ni Cô khác nữa. Sử chép rằng trong chuyến đi lịch sử này, sư cô Sanghamitta có mang theo một nhánh Bồ Ðề con chiết lấy từ cây Bồ Ðề chính ở Bồ Ðề Ðạo Tràng (Bodh Gaya), nơi đức Phật Thành Ðạo xưa kia, đem trồng ở Anuradhapura, cựu kinh đô của Tích Lan (Sri Lanka). Cây Bồ Ðề hiện nay vẫn còn sống và theo học giả Phật tử người Anh, ông Christmas Humphreys, đây là cây Bồ Ðề lịch sử cổ nhất thế giới.

Nhưng sự đóng góp vĩ đại nhất của vua A Dục cho nhân loại là những pháp lệnh ngài chỉ thị cho khắc trên đá hoặc trụ đá dựng lên khắp toàn xứ Ấn Ðộ bấy giờ mà qua đó, giáo lý đức Phật được truyền thừa và lưu lại muôn đời cho các hậu thế chúng ta. Chẳng hạn pháp lệnh thứ VI khắc trên trụ đá ở thị trấn Banaras -Ba La Nại (thuộc tiểu bang Uttar Pradesh, miền đông bắc Ấn Ðộ) vào niên đại A Dục thứ 26, nói về cai trị theo chánh pháp: “Ðiều ta muốn nói là ta luôn nghĩ đến quyền lợi và hạnh phúc của thế giới. Ðối với cha mẹ, bà con quyến thuộc xa gần, ta muốn mang lại hạnh phúc cho họ”, và pháp lệnh thứ IV khắc trên núi đá vùng Girnar (thuộc tiểu bang Gujarat, miền tây Ấn Ðộ) ghi: “Nhờ sự thực hành chánh pháp của quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, tiếng trống trận đã trở thành tiếng báo hiệu cho chánh pháp”, hoặc pháp lệnh thứ II khắc trên trụ đá ở thành Ba La Nại (Banaras) ghi: “…….Ta thành tâm sám hối về mọi lỗi lầm đã qua, và nhận thấy rằng chiến tranh xâm lăng lúc nào cũng gây nên chết chóc và tội ác. Dù số người đã bị giết, bị thương, bị bắt có trăm lần ít hơn số người bị tàn sát trong trận chiến Kalinga đi nữa, thì cũng là điều khiến cho ta ân hận lắm. Dù các tiểu quốc có phạm lỗi lầm gì thì bây giờ ta cũng phải nhẫn nhục đến cùng. Vì ta muốn tất cả mọi người đều có sự an lạc, yên tĩnh trong tâm hồn, và thương yêu với đồng loại”…

Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi rất tiếc không thể trình bày hết những đóng góp lớn lao của vua A Dục cho con người trên nhiều lãnh vực: chính trị, văn hóa, tôn giáo và xã hội v..v…..Dù nhà vua đã mất gần 2.238 năm về trước, nhưng gương sáng của ngài sử sách cổ kim vẫn còn truyền tụng và tên của A Dục Vương vẫn được ghi nhớ mãi trong lòng mọi thế hệ nhân loại và nhất là trong hàng Phật tử hậu sinh chúng ta. Chính không phải do những chiến thắng bằng vũ lực tàn bạo của A Dục đại đế mà là nhờ bởi những việc làm phước thiện của nhà vua đã thực hiện cho muôn dân xã hội Ấn Ðộ bấy giờ, sau khi ngài biết ăn năn sám hối tội lỗi của mình đã gây ra và quay đầu về với chánh pháp của đức Phật. 
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Asoka, The Buddhist Emperor of India, by Vincent A. Smith, Low Price Publications, Delhi ( India), 1930. 
2. 2500 Years of Buddhism, Editor: Prof. P.V. Bapat, Publications Division, Government of India, Delhi, 1964.
3. Encyclopaedia of Buddhism, Vol. II, Edited by Dr. G.P. Malalasekera, Government of Ceylon ( Sri Lanka), Colombo, 1967.
4. Royal Patronage of Buddhism in Ancient India, by Kanai Lal Hazra, D.K.Publications, New Delhi ( India), 1984.
 


CHIẾN TRANH 
H.T. Thích Trí Chơn

N ói đến chiến tranh thì mọi người đều nghĩ tới nó. Những chiến tranh gì? Ở đây không phải là cuộc tranh chấp vì một tư tưởng chính trị nào. Cũng chẳng phải những trận đánh xảy ra ở nước này hay nước khác, nhưng là một cuộc chiến tranh chớp nhoáng với những nạn nhân luôn luôn thua trận là con người. Cuộc chiến tranh đó tương tợ như một hỏa diệm sơn mà thỉnh thoảng lửa bên trong bỗng nhiên bùng lên, êm dịu một thời gian, để rồi sẽ phun hỏa trở lại và tàn phá mọi vật sống xung quanh. Không bao giờ con người chịu tìm cách dập tắt những ngọn núi lửa đó, mà họ cứ thản nhiên để tiếp tục sống trong sự đe dọa của chúng.

Mọi sự đều có nguyên do hoặc một khởi điểm, và khởi điểm này cũng chỉ là kết quả của một nguyên nhân trước nữa. Hỏa diệm sơn chẳng khác gì cái nắp hơi bị dồn ép dưới một áp lực rất mạnh phát xuất từ trung tâm quả đất; và chiến tranh cũng có một căn do vô hình, một nguyên nhân liên tục một mầm giống khó nhận rõ phát sanh từ lòng tham sân của con người. Con người nuôi dưỡng những độc tính ấy để tự mình phá hủy diệt vong vì chúng.

Cho nên mọi sự tàn bạo bất nhân đều bắt nguồn từ tâm con người. Và thật là bi đát khi nhận thấy rằng nhân loại không bao giờ tìm phương pháp để khắc phục những ác tính đó. Một cách thụ động và an phận, như tên nô lệ yếu hèn, nhân loại cứ mặc để cho những tánh tham sân, sinh ra từ vô minh của con người, hoành hành tấn công và chinh phục. Tại sao có tình trạng như thế? Bởi vì con người xưa nay tự cho đó là điều “Không thể tránh được”.

Không thể tránh được, thế thường vậy rồi. Nhưng có điều ai cũng thấy rõ là những tính tàn bạo, sân hận trên phần nhiều được trưởng dưỡng và ngấm ngầm phát triển trong những lúc xã hội tạm an bình, sau cơn bình lửa. Chính nền hòa bình mỏng manh đó đã tạo nên sức mạnh của chiến tranh, vì những giai đoạn hòa bình như thế chỉ là những cuộc đình chiến nhất thời; và mặc dầu tay chúng ta đã giải giới, nhưng tâm chúng ta thì chưa. Tánh tham sân nơi lòng người đâu đã thật diệt hết, như lưỡi gươm của kẻ chiến bại vừa mới được tước bỏ xuống mà thôi.

Muốn kết quả thì mọi ác tính tàn bạo sát hại nơi thân tâm và ý nghĩ của chúng ta phải cùng một lúc đoạn trừ tất cả. Có người châm biếm sẽ hỏi. Thật con người có thể khắc phục được những tánh tham sân đó sao? Hỏi như vậy tức là họ đã phủ nhận hoàn toàn ý chí của con người. Trên phương diện ác và thiện, dĩ nhiên tánh nào phát triển mạnh sẽ thắng tánh kia. Và một nền hòa bình thật sự, vĩnh viễn chắc chắn chỉ có thể thực hiện ngoài những hành động ác độc xấu xa của con người. 

Nhưng muốn thắng chiến tranh hay có ý nghĩ xem nó như là điều phản lại “văn minh” thì ít nhất chúng ta cần phải có một ý chí cương quyết bền bỉ, với một niềm tin mãnh liệt rằng đánh bại chiến tranh không phải là một việc khó. Chỉ có ý tưởng đó, mới giúp chúng ta đủ can đảm và sức mạnh để tìm phương pháp tiêu diệt nó. Và cũng đã có biết bao nhiêu người từng say sưa với lý tưởng mong thực hiện những điều cao đẹp trên mà Thánh Gandhi (Ấn Ðộ) ở thời đại chúng ta là một bằng chứng. Muốn chấm dứt hận thù, tưởng nhân loại cần thấm nhuần sâu xa tư tưởng bất bạo động của Thánh Gandhi. 

Ngày nay, qua những phát minh khoa học, chứng tỏ loài người tuy đã tiến bộ nhiều, song những tính tàn bạo nơi con người vẫn chưa diệt hết. Ðể thử xem những con vật với bản tính thù ghét nhau lâu đời có thể sống chung yên ổn không, một học giả Trung Hoa ở Gia-Nã- Ðại đã đem con mèo đặc biệt hung tợn nhốt cùng chuồng với con chuột rất dữ. Ông ta thấy rằng chúng cấu xé nhau luôn, và lúc nào con mèo cũng thắng cuộc. Về sau, ông ngăn hai chuồng ra, chỉ để chừa phía dưới một cái lỗ vừa đủ cho mỗi con có thể vớ đến dĩa đồ ăn mà thôi. Vì vậy, hai con buộc phải ăn chung trong một dĩa. Dần dần chúng quen biết nhau và sự cấu xé cũng dịu bớt lần. Cuối cùng, ông để hai con sống, chung như cũ và lần này thì chúng không cắn nhau nữa.

Vậy thì tánh tàn bạo nơi con người có khó diệt trừ lắm không? Có nên bảo rằng con người cũng cần tập hòa giải thân yêu với kẻ thù của nó cũng như trường hợp bắt bác mèo làm thân với chú chuột trên đây không? Dù sao thì cũng chỉ có một cách là phải giáo dục cho con người nhận rõ được hạnh phúc của hòa bình và giúp họ tin tưởng chắc chắn rằng hòa bình là điều có thể thực hiện, họa may lúc ấy các cuộc chiến tranh mới có thể chấm dứt dần dần được. 

Trước mặt những kẻ thích bạo tàn sát hại nhau, nghĩ không có lợi ích gì mấy khi bảo họ rằng: “Các bạn đều là nhân loại”. Muốn kết quả, tưởng chúng ta nên nói với họ thế này. “Sớm chầy thế nào các bạn cũng phải gặt lấy trở lại những điều ác mà các bạn đã gieo rắt cho thiên hạ, vì mọi người đều tương quan mật thiết, nên toàn thể không khỏi chịu ảnh hưởng chung của đau khổ”. 

Và không gì lầm lạc hơn khi chúng ta tưởng rằng con người có tâm niệm thích đánh nhau hơn là chung sống hòa bình. Ai thích chiến tranh, tốt hơn hãy cố gắng chiến thắng những tánh tham sân si nơi mình, để mong đạt đến con người thuần túy đạo đức và toàn thiện. Ðến đây, thiết tưởng mọi gia đình, trường học, quốc gia, tôn giáo nên bắt đầu giáo dục cho con người hiểu rõ sự tương quan giữa các chủng tộc và toàn thế giới nhân loại. Như thế tức chúng ta đã thể hiện được tinh thần Từ Bi, cứu giúp chúng sanh của Phật Giáo rồi vậy. 

Theo tạp chí Pháp ngữ” “La Pensée Bouddhique” 
(Tư Tưởng Phật Giáo). 
 


CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN ÐẠI 
(SUR LA CRISE CONTEMPORAINE) 
Nguyên tác Anh Văn: Krishnamurti 
Dịch ra Pháp: Carlo Suarès
Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí Chơn 

Thế giới hiện nay đang lâm vào cảnh khủng hoảng thật trầm trọng chưa từng có. Qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã từng trải qua biết bao cơn khủng hoảng, nào khủng hoảng xã hội, khoảng hoảng quốc gia, khủng hoảng chính trị. Mỗi lần có cuộc khủng hoảng xãy ra như thế là nền kinh tế không tránh khỏi sự sụp đỗ, xã hội bị xáo trộn, và còn gây nên nhiều biến cố khác. Mọi đều ai cũng biết rõ.

Nhưng cuộc khủng hoảng ngày nay, không như các cuộc khủng hoảng trên. Nó khác hẵn, trước tiên vì nó không phải là cuộc khủng hoảng tiền tệ hay vật phẩm mà là cuộc khủng hoảng về ý tưởng. Nó nằm trong phạm vi đào tạo những tư tưởng. Thật vậy, chúng ta đang chiến đấu cho những học thuyết chủ nghĩa. Khắp nơi trên thế giới đều phơi bày cho chúng ta thấy sự giết người như một phương tiện để đạt đến những mục tiêu luân lý; đó là điều mà ngàn xưa chưa từng có.

Quan niệm xưa cho tội ác là một điều xấu, giết người là vi phạm quyền sống của kẻ khác, nhưng ngày nay người ta cho sự sát hại một cá nhân hay một số người là hành động hợp lý, vì kẻ mưu sát cũng như nhóm người chủ trương giết chóc ấy, quan niệm rằng chính đó là phương tiện để đạt tới cứu cánh lợi ích cho nhân loại.

Chúng ta hy sinh hiện tại cho tương lai, và xem các phương tiện dù tàn ác đến đâu cũng không mấy cần thiết, miễn chúng ta tin rằng cứu cánh của chúng ta là toàn thiện. Tóm lại, chúng ta tin chắc rằng cần phải dùng những phương tiện tàn bạo nhất mới có thể thu đặng những thành qủa tốt đẹp, và chúng ta dùng danh nghĩa và lý tưởng để biện minh cho những phương tiện đó là chính đáng.

Trước kia các cuộc khủng hoảng phát minh bởi sự khai thác những tài nguyên và bốc lột khả năng con người. Hiện tại khủng hoảng vì sự lạm dụng các học thuyết chủ nghĩa, nên càng khốc hại, nguy hiểm và phá hoại hơn. Ngày nay, chúng ta ai cũng đều thấy rõ lợi khí của tuyên truyền. Sự dùng chủ nghĩa học thuyết để lôi cuốn, cải đổi tư tưởng quần chúng này là một trong những tai họa lớn nhất cho nhân loại. Chúng ta thấy điều đó đã xãy ra khắp nơi. Con người không quan trọng đẳng phái chủ nghĩa mới đáng kể. Cá nhân không có một chút giá trị gì. Chúng ta có thể tàn sát hàng triệu người để mong đạt đến mục đích của chúng ta, rồi chúng ta lại đưa ra chiêu bài chủ nghĩa để bênh vực cho những hành động dã mang đó là chính đáng.

Chúng ta đề ra những lý thuyết chủ trương hay ho để biện minh cho mọi hành động bạo tàn phi luân của chúng ta, thật là điều chưa từng thấy. Ðiều ác luôn luôn là điều ác, không bao giờ nó đem lại kết quả thiện. Chiến tranh không phải là con đường dẫn đến hòa bình. Nó có thể dâng hiến cho chúng ta những lợi ích tầm thường, chẳng hạn những chiếc phi cơ tối tân hơn, nhưng chiến tranh sẽ không bao giờ mang lại hòa bình cho chúng ta. Tuy nhiên, chiến tranh vẫn được tinh thần con người ngày nay cổ vũ xem như phương tiện thích đáng để kiến tạo hòa bình. Và khi nào chúng ta có ý niệm dùng chiến tranh để giải quyết các vấn đề nhân sinh, tưởng lúc ấy chúng ta khó tránh khỏi gây nên những cuộc khủng hoảng trầm trọng. 

Cũng còn nhiều nguyên nhân khác đã tạo nên các cuộc khủng hoảng chưa từng có trên. Một trong những nguyên nhân đó là bởi chúng ta quá chú trọng đến những thú vui cảm giác, của cải riêng tư, danh vị đẳng cấp và các phù hiệu chúng ta mang bên ngoài: chúng ta tự xưng nào là tính đồ Hồi giáo, Ấn độ giáo, nào là đồ đệ của Các Mác (Cộng Sản), hoặc nhiều danh từ khác nữa. Chúng ta đã để ý nhiều đến những điều đó. Nói khác đi là con người chúng ta ngày nay hoàn toàn bị chi phối bởi lòng ham muốn những dục lạc, những tư sản tạo nên do sức cần lao trí óc hoặc chân tay của chúng ta. Chúng ta tham đắm vào những của cải vật chất đó đến nổi chúng ta có thể bắn giết, đâm chém tiêu diệt lẫn nhau vì chúng nó. Bởi thế, hiện tại chúng ta như đang nằm ở trên bờ vực thẳm. Tất cả những hành động xấu của chúng ta đã đưa chúng ta đến đó. Mọi chủ trương (hoạt động) chính trị và kinh tế nhầm lẫn của chúng ta chắc không tránh khỏi xô chúng ta rơi vào hố sâu hổn loạn và khổ đau.

Vậy thì, với cuộc khủng hoảng chưa từng có này, chúng ta buộc phải có những hành động thật hy hữu mới mong cứu vãn được mọi tình thế. Chúng ta phải can đảm làm một cuộc cải cách nội tâm mạnh mẽ như hành động của người ráng sức nhảy vượt qua một miệng hố. Và phải tự sửa đổi tức thì. Vì cuộc khủng hoảng chưa từng có, nên chúng ta cần phải có những hành động thật đại dũng. Trong vấn đề cải thiện cá nhân, chúng ta nên thực hành tức khắc, không thể hẹn chờ thời gian được. Nó phải thực hiện ngay bây giờ, không nên để đến ngày mai, vì ngày mai là vô thường thay đổi. 

Nếu chúng ta có ý nghĩ đợi đến ngày mai mới cải thiện, tức chúng ta không tránh khỏi rước lấy sự hỗn loạn và mãi mãi rơi vào tình trạng suy sụp. Nhưng có thể sửa đổi bây giờ không? Chúng ta có thể tự mình hoán cải hoàn toàn tức khắc ngay giờ phút hiện tại không? Tôi chắc rằng có thể được lắm.

Cuộc khủng hoảng thật trầm trọng, và chúng ta chỉ có thể đạt đến kết qủa trên bằng cách phải cải thiện những ý niệm của chúng ta. Sự cải thiện này, chúng ta phải tự mình thực hành lấy, chứ không thể nhờ thiên hạ, sách vở hay các tổ chức nào ngoài chúng ta làm giúp được. Mỗi chúng ta phải tự thực hiện sự sửa đổi ấy. Chỉ có như vậy, chúng ta mới mong xây dựng được một tổ chức mới, một xã hội mới, trong đó con người sống không còn khiếp sợ trước viễn tượng của những cuộc khủng hoảng suy sụp đang diễn tiến khắp nơi như hiện nay. Và sự cải thiện này chỉ có thể thực hiện khi mỗi cá nhân chúng ta bắt đầu biết tự giác lấy mình trong mỗi tình cảm, lời nói, việc làm và ý nghĩ.
 

Trích tác phẩm Pháp ngữ “La Premièreet Dlernière Liberté” (Sự Giải Thoát Ðầu Tiên và Cuối Cùng)
 


KHOA HỌC Và TÔN GIÁO 
Nguyên tác: K. D hammananda 
Chuyển ngữ: HT. Thích Trí Chơn 


Người ta thường có nhận xét tổng quát rằng khoa học luôn gây ảnh hưởng tai hại đối với tôn giáo. Nhưng nếu người ta không nhận định rằng tôn giáo đã góp phần vào sự tiến bộ và tự do xã hội của con người thì chắc người ta đã không chấp nhận ý kiến khoa học làm hại cho tôn giáo. Với thời đại tân tiến ngày nay con người không khó nhận biết rằng những lý thuyết của các tôn giáo về vũ trụ và sự sống vạn vật trong đó, chỉ là những mẩu tư tưởng (thought-patterns) của từng thời đại. Cái thói quen phủ nhận những kết qủa của sự khám phá khoa học bởi lý do vì chúng không phù hợp với những định ước (convention) là một điều trở ngại cho sự tiến bộ của nhân loại.

Trên phương diện khoa học, nhiều tôn giáo đã được xem như có hại và số người không tin tưởng tôn giáo ngày càng nhiều thêm là do ở những lý thuyết sai lầm và nhược điểm của các tôn giáo. Chúng ta không thể không công nhận sự thật đã được khoa học chứng minh bằng cách khư khư cố chấp vào đức tin mù quáng. Chúng ta phải công nhận lẻ thật. Ngày nay đức tin thuần túy đã hết chỗ đứng. Lòng tin mù quáng không phải là một hành động tự chủ. Uy quyền chính trị và áp lực kinh tế (tài chánh) cũng không thể che lấp được sự thật. Và chân lý bao hàm trong những ý tưởng Phật giáo đã chỉ dạy ngày càng được sáng rõ hơn khi người ta trình bày các lý thuyết đó với mọi phát minh của khoa học. 

Cho nên, quan niệm chối bỏ mọi kiến thức khoa học về vũ trụ và nhân sinh là phản lại giáo lý của đức Phật. Có thể nói rằng lập thuyết của Phật giáo ngày càng vững chắc, nhờ ở những định luật mới mẽ được phát minh bởi các khoa học gia ngày nay. Mặc dù khoa học đã tiến những bước khổng lồ trong thời hiện đại, những vẫn còn nhiều vấn đề mà các nhà khoa học chưa có thể tìm ra. Và Albert Einstein, nhà vật lý học danh tiếng Đức đã nói “Nếu tương lai có một tôn giáo nào mà được các khoa học gia tân tiến công nhận thì đó là Phật giáo”. 

Khoa học có mục đích khám phá những nguyên nhân các hiện tượng sự vật. Phât giáo cũng vậy và còn tiến xa hơn, là chỉ bày những phương pháp làm cách nào cải thiện các nguyên nhân đó để có thể đem lại những kết qủa tốt. Và khi thuyết minh Tâm là nguồn gốc của vạn pháp. Phật giáo đã chống lại thuyết duy vật (materialism), tuy nhiên quan niệm về thế giới vật chất của Phật giáo vẫn phù hợp với mọi thuyết lý khoa học hiện đại. Thêm nữa, trí tuệ của Phật giáo còn được xây dựng trên nền tảng từ bi, đã góp phần quan trọng trong sự hướng dẫn nền khoa học hiện đại. 

Phật giáo không phải là những giáo điều cố định. Phật giáo chỉ là một tôn giáo thế giới (world religion) bao hàm một tinh thần khoa học. Nền văn hóa tương lai nhất định phải được xây dựng trên tinh thần tôn giáo bao hàm tính chất khoa học. Vì tôn giáo mà thiếu khoa học là mù quáng, và khoa học mà không tôn giáo là tàn hại. Khoa học hiện đại đã trở thành nô lệ cho chính những phát minh của nó và đang phải đương đầu với một sự chỉ trích trầm trọng. Phật giáo tương lai phải giữ vai trò dẫn đạo cho sự tiến bộ của khoa học và phải giúp nó phục vụ ích lợi hơn cho nhân loại. 

Trong lịch sử Phật giáo không bao giờ có sự tranh luận giữa đức tin tôn giáo với kiến thức khoa học và không có một nhà khoa học nào bị Phật giáo ngược đãi lên án hay sát hại. Trái lại, giáo lý đức Phật còn cao siêu hơn những tư tưởng của các triết gia danh tiếng khi xét nó với các học thuyết hiện đại. So sánh Phật giáo với những hệ thống triết lý phát sinh cùng thời, chúng ta có thể nói rằng nó còn tiến bộ hơn bất cứ triết thuyết nào ra đời trước kia cũng như hiện nay. Qua những sự kiện vừa kể, chúng ta thấy rằng trong lúc khoa học đang tiến bộ, Phật giáo ngày càng trở nên một tôn giáo được thế giới trí thức chấp nhận.

Hơn nữa, khoa học mà thiếu đạo đức là phá hoại. Khoa học là một con ác vật mà con người đào tạo ra và đã trở nên thô bạo hơn cả con người. Con người không có cách gì có thể khắc phục được nó, trừ khi con người biết tự kiềm chế bằng phương pháp thực hành những giáo lý đức Phật. Riêng mình khoa học sẽ hũy diệt thế giới, nhưng khoa học chung sức với Phật giáo có thể cứu thoát thế giới và đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Một triết gia danh tiếng đã nói rằng nếu đa số mọi người trên thế giới được giáo huấn theo một tôn giáo duy nhất là Phật giáo thì hy vọng nhân loại sẽ tồn tại trên qủa đất này.

Với sự hoài nghi, các khoa học gia thường hăm hở tiếp nhận, các nhà chính trị thì căm ghét, còn các tôn giáo thần quyền lại mong tiêu diệt nó. Nhưng nghi ngờ cũng có thể là điều tốt mở đường cho sự sáng suốt trong tôn giáo và nó là yếu tố cần thiết để tạo nên những trí phát minh khoa học. Những thế kỷ trước đây, nhiều nhà lãnh đạo của vài tôn giáo đã nỗ lực dùng uy quyền của mình để dập tắt mọi ánh sáng, kiến thức và khoa học tiến bộ. Các nhà tìm ra chân lý vạn vật, những bậc giải thoát khỏi mê lầm và vô minh trong nhân loại đã không ngừng bị bắt bớ và ngược đãi. Khi loại thuốc mê đầu tiên được sử dụng, nhiều nhà thần học (Theologians) đã lên tiếng phản đối sự đem dùng nó trong việc sinh sản vì họ cho đó là hành động can thiệp vào nổi đau đớn mà Thượng Đế đã dành cho hàng nữ giới.
 

Trích dịch tập “ What Buddhists Believe” (Người Phật tử tin tưởng gì?) phát hành tại Kuala Lumpur (Mã Lai Á) . 
 


LÒNG TỪ BI LÀ NỀN TẢNG CỦA HÒA BÌNH THẾ GIỚI
Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma 
Chuyển ngữ: Hòa Thượng Thích Trí Chơn
(Trích từ tập sách “A Human Approach to World Peace”)

Theo khoa tâm lý học Phật Giáo, phần lớn những khổ đau của chúng ta đều phát xuất từ lòng dục vọng, và sự tham đắm của chúng ta vào mọi vật mà chúng ta lầm tưởng rằng chúng là những vật thể chắc thực bền lâu.

Sự theo đuổi các đối tượng dục vọng và lòng tham đắm của chúng ta khiến chúng ta dùng đến sự xâm lăng và tranh chấp như những phương pháp mà chúng ta thường nghĩ rằng chúng sẽ mang lại kết quả. Những ý tưởng này dễ dàng biến thành hành động nhằm nuôi dưỡng chiến tranh được chúng ta xem như là phương pháp hiển nhiên. Tâm con người đã có những ý niệm ấy từ thưở xa xưa, nhưng hành động tranh chấp này đã trở nên có tác dụng hơn trong hoàn cảnh sống hiện đại.

Làm thế nào để chúng ta có thể kiểm soát và chế ngự được những ý tưởng độc hại tham sân si này? Vì những ác tính đó là nguồn gốc đã gây ra mọi cuộc khủng hoảng khó khăn trên thế giới.

Là một tu sĩ được hấp thụ qua truyền thống của nền Phật Giáo Đại Thừa, tôi nghĩ tình thương và lòng từ bi là căn bản đạo đức cho nền hòa bình thế giới.

Trước tiên, tôi xin định nghĩa thế nào là lòng từ bi? Khi bạn phát tâm giúp đỡ một người nghèo khổ vì bạn thương hại kẻ đó đang gặp cảnh khốn cùng, như vậy lòng từ bi của bạn được xây dựng trên sự xót thương hồn nhiên, không suy tính.

Trái lại, tình yêu thương vợ chồng, con cái hay người quen thân của bạn thường xuất phát từ lòng tham đắm. Khi sự đắm say của bạn thay đổi, lòng tốt của bạn cũng thay đổi theo, và nó có thể biến mất luôn. Đây không phải là tình thương chân thật.

Tình thương chân thật không xây dựng trên lòng tham đắm, mà trên sự xót thương. Trong trường hợp này, lòng từ bi của bạn được xem như một nhu cầu đáp ứng lại sự khổ đau và tình thương ấy cần được duy trì bao lâu con người còn tiếp tục đau khổ. Đó là lòng từ bi mà chúng ta nên tu tập nơi mỗi chúng ta và chúng ta cần phát triển nó từ mức độ hẹp hòi cho đến rộng rãi bao la.

Lòng từ bi bao la, hồn nhiên và không phân biệt đối với mọi chúng sanh rõ ràng không phải là thứ tình yêu thông thường, phát xuất từ vô minh, lòng ái dục và tham đắm mà con người thường có đối với bạn bè hay gia đình của họ. Loại tình thương chúng ta nên duy trì và phát triển là thứ tình thương rộng lớn hơn mà chúng ta có thể thực hiện ngay cả đối với kẻ thù đã làm hại chúng ta.

Lý do chúng ta nên có lòng từ bi vì mọi người chúng ta ai cũng muốn sống hạnh phúc và không thích khổ đau. Thực vậy, mọi người sinh ra với những ước muốn giống nhau nên ai cũng có quyền bình đẳng để thành đạt các điều mong ước đó.

Nếu tôi so sánh tôi với vô số những người khác, tôi thấy họ quan trọng hơn tôi nhiều, vì tôi chỉ có một trong khi những người khác thì số đông. Lại nữa, giáo lý Phật Giáo Tây Tạng dạy chúng ta nên xem mọi chúng sanh như những thân mẫu của chúng ta và nên bày tỏ lòng biết ơn, yêu thương họ.

Vì theo lời Phật dạy chúng ta sinh ra và luân hồi trong nhiều đời nhiều kiếp, cho nên ai cũng có thể là cha mẹ của chúng ta trong đời này hay đời khác. Do đó, tất cả mọi người ở thế gian này đều có liên hệ gia đình với nhau.

Bất cứ ai dù có tin đaọ giáo hay không, họ vẫn tán dương tình thương và lòng từ bi. Ngay khi chúng ta vừa mới lọt lòng, chúng ta đã được sự chăm sóc của cha mẹ chúng ta, và sau này trong cuộc sống, khi chúng ta gặp đau khổ vì bệnh hoạn hay già yếu, chúng ta cũng cấn đến tình thương và giúp đở của những người khác.

Nếu từ lúc sinh ra cho đến giờ phút lìa đời trong cuộc sống, chúng ta đã phải nương nhờ đến lòng tốt của mọi người, thì tại sao trong đời sống chúng ta lại không bày tỏ lòng thương yêu của mình đối với những kẻ khác.

Sụ phát triển lòng thương yêu (tình cảm thân thiện đối với mọi người) không liên quan gì đến lòng sùng đạo mà chúng ta thường áp dụng trong sự thực hành tôn giáo. Nó không những chỉ dành riêng cho kẻ có tín ngưỡng mà cho mọi người không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay đoàn thể chính trị.

Tình thương cần thiết cho bất cứ ai, nam lẫn nữ tự nhận thấy mình trên hết, là một phân tử trong đại gia đình của nhân loại, cũng như đối với những người nhìn thấy sự việc từ nhận thức bao quát và xa rộng hơn. Đó là thứ tình cảm đạo đức mà thay vì không lưu tâm, chúng ta nên phát triển và thực hành nó, đặc biệt đối với tuổi thanh xuân, khi chúng ta nhận thức được rằng kiếp sống con người là vô thường, không bền chắc.

Khi chúng ta tìm hiểu vấn đề một cách bao quát hơn, chúng ta nhận thấy mọi người đều muốn có hạnh phúc và không thích khổ đau cũng như ý thức rằng trong tương quan với vô số người khác, cá nhân chúng ta không có gì quan trọng; và khi ấy, chúng ta có thể nghĩ rằng mang tài sản của chúng ta ra chia xẻ, giúp đỡ cho người khác là điều đáng làm.

Nếu luyện tập cho mình có được nhận thức như vậy, giá trị chân chính của lòng từ bi- ý nghĩa đích thực của tình thương và sự kính trọng kẻ khác- sẽ trở nên là điều mà chúng ta có thể thực hiện được.

Hạnh phúc cá nhân không còn là ý thức nỗ lực tìm cầu của chính bản thân mà nó trở nên thành quả tự nhiên và tuyệt luân của mọi sự phát triển về tình thương và hành động cứu giúp cho những kẻ khác.

Lòng từ bi chân chính còn mang lại kết quả khác của sự phát triển tinh thần cũng như rất hữu ích cho đời sống hằng ngày vì nó giúp cho tâm mình được sáng suốt và thanh tịnh. 

Cuộc đời chúng ta luôn luôn biến đổi và gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn đó sẽ được giải quyết thành công khi tâm chúng ta bình tĩnh và sáng suốt. Nếu chúng ta không kiểm soát được tâm mình vì lòng oán giận, ích kỷ, ganh ghét và sân hận; chúng ta sẽ không còn lý trí để xét đoán.

Vào những giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới. 
 


NHỮNG VẤN ĐỀ KHỔ ĐAU CỦA NHÂN LOẠI CHỈ CÓ THỂ GIẢI QUYẾT QUA SỰ CẢI ĐỔI QUAN NIỆM SỐNG CỦA CON NGƯỜI
Nguyên tác: ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA 
Chuyển ngữ: H.T. THÍCH TRÍ CHƠN 
(Trích từ tập sách “A Human Appoach to World Peace”) 


Nhân loại hiện nay đang phải đương đầu với nhiều vấn đề. Một số vấn đề hẳn nhiên như thiên tai, chúng ta nên chấp nhận và đối phó với sự trầm tĩnh. Tuy nhiên, có những vấn đề khó khăn do chính chúng ta gây ra vì mọi sự hiểu lầm thì chúng ta có thể sửa chửa được. 

Một trong những vấn đề khó khăn đó phát sinh từ sự tranh chấp về ý thức hệ, chính trị hoặc tôn giáo; khi con người chiến đấu cho các mục tiêu thấp hèn mù quáng không biết đến tình người căn bản mà nó đã kết chặt tất cả chúng ta thành một khối trong đại gia đình nhân loại. Chúng ta nên nhớ rằng mọi tôn giáo, ý thức hệ và tư tưởng chính trị khác biệt hiện có trên thế giới nhằm giúp con người tạo dựng hạnh phúc. Chúng ta không nên quên mục đích căn bản này, đừng để phương tiện vượt xa cứu cánh, cũng như chúng ta cần phải biết đặt sự sống còn tối thượng của nhân loại trên quyền lợi vật chất và ý thức hệ. Thực vậy, sự nguy hiểm lớn lao nhất mà nhân loại, mọi người trên thế giới chúng ta đang phải đối phó là mối đe dọa về sự hủy diệt của một cuộc chiến tranh nguyên tử. Tôi không cần nói rõ về sự nguy hiểm này nhưng tôi muốn gửi lời kêu gọi đến các nhà lãnh đạo của mọi thế lực nguyên tử, những người đang nắm trong tay họ vận mạng tương lai của thế giới; đến các nhà khoa học và kỷ thuật đang tiếp tục tạo ra những khí giới hủy diệt tàn khốc này; và kêu gọi tất cả các dân tộc, những người đang ở vị thế có thể tạo ảnh hưởng đối với nhà lãnh đạo của họ: Tôi mong họ thực hành và bắt đầu hành động nhằm đến sự loại bỏ cùng hủy diệt các vũ khí nguyên tử. 

Chúng ta biết rằng trong một cuộc chiến tranh nguyên tử, không có người nào chiến thắng, vì không một ai còn sống sót. Làm sao chúng ta không sợ hãi khi nghĩ tưởng đến một sự tận diệt bất nhân và tàn ác như thế? 

Hành động phá bỏ nguyên nhân gây ra sự tận diệt cho chính chúng ta khi chúng ta biết rõ căn nguyên đó cũng như chúng ta vừa có thì giờ lẫn phương tiện để thực hiện điều ấy, phải chăng đó không phải là việc thực tế đáng làm hay sao? 

Chúng ta thường không thể khắc phục được các vấn đề khó khăn của chúng ta, bởi vì chúng ta không rõ nguyên nhân hoặc giả chúng ta biết rõ nguồn gốc nhưng chúng ta không có phương tiện để giải quyết sự khó khăn đó. Nhưng đây không phải là trường hợp đối với sự đe dọa tận diệt của một cuộc chiến tranh nguyên tử. 

Sự sống cho dù ở trình độ cao đẳng như con người hay thấp kém như con vật, tất cả mọi chúng sanh đều mong được sống trong hòa bình, hạnh phúc và an lạc. Sự sống là rất quý báu đối với loài vật cũng như con người, ngay cả những côn trùng bé nhỏ nhất, chúng cũng cố gắng bảo vệ khi sinh mạng của chúng bị đe dọa. Mọi người chúng ta đều ham sống sợ chết, các loài vật khác ở trên thế gian này cũng đều như vậy. 

Nói rộng ra, có hai loại hạnh phúc và đau khổ về mặt tinh thần và thể xác; trong hai thứ này tôi nghĩ rằng sự đau khổ và hạnh phúc về tinh thần là quan trọng. Cho nên tôi nhấn mạnh đến việc điều phục tâm để chịu đựng sự đau khổ và đạt tới cuộc sống hạnh phúc lâu dài hơn. 

Tuy nhiên đối với vấn đề hạnh phúc, tôi muốn bày tỏ ý kiến đại cương và cụ thể là cần có điều phối hợp giữa an lạc nội tâm với việc phát triển kinh tế và trên hết là nền hòa bình thế giới. 

Để thành đạt mục tiêu đó, tôi nghĩ cần phải triển khai ý thức về trách nhiệm của mình trước toàn thế giới; đó là đều quan yếu đối với tất cả mọi người, không phân biệt tín ngưỡng, màu da, giống phái hay quốc gia. 

Ý tưởng về trách nhiệm của mình đối với thế giới được xem như sự kiện rất đơn giản, hay nói một cách đại cương là chính mình và mọi kẻ khác đều có chung điều mong ước. Mọi người ai cũng muốn có hạnh phúc và không thích sự đau khổ. 

Nếu chúng ta, những người hiểu biết, không chấp nhận điều đó thì ở thế gian này ngày sẽ càng có nhiều khổ đau. Nếu chúng ta chỉ biết sống ích kỷ và thường xuyên mưu toan sử dụng kẻ khác cho quyền lợi riêng tư của chúng ta thì chúng ta có thể gặt hái được những điều lợi ích nhất thời; nhưng về lâu dài chúng ta sẽ không tìm thấy được ngay chính hạnh phúc cá nhân mình mà nền hòa bình thế giới cũng sẽ không bao giờ thực hiện được. 

Trong việc mưu tìm hạnh phúc, con người hay dùng nhiều phương thức khác nhau mà những phương cách đó thường là tàn ác và bất nhân. Khi áp dụng những đường lối không thích hợp với nhân cách con người, họ gây đau khổ cho đồng loại và những chúng sinh khác vì quyền lợi ích kỷ của riêng họ. Cuối cùng các hành động thiển cận đó sẽ mang lại khổ đau cho chính họ và nhiều kẻ khác. 

Được sinh ra làm thân người là một điều quý hiếm, vậy chúng ta nên sáng suốt sử dụng cái thân này vào những việc càng hữu ích và phước đức càng tốt. 

Chúng ta cần phải có cái nhìn xa rộng chính xác về sự tiến triển tương lai của một cuộc sống toàn thể hầu giúp cho hạnh phúc và thanh danh của mỗi cá nhân hay đoàn thể không phải thành đạt bằng sự hy sinh của những kẻ khác. Tất cả điều ấy đòi hỏi nơi chúng ta một nhận thức mới tiến gần đến các vấn đề lợi ích chung. 

Thế giới chúng ta ngày càng được thu nhỏ và ngày càng có tương quan với nhau do kết quả của sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỷ thuật, và thương mại quốc tế cũng như sự phát triển về mọi liên hệ giữa các quốc gia. 

Ngày nay chúng ta sống lệ thuộc với nhau nhiều hơn. Thời xưa, mọi vấn đề phần lớn giới hạn ở trong nhà nên chúng cũng chỉ có tác dụng ảnh hưởng trong phạm vi gia đình; nhưng tình trạng đó giờ đây đã thay đổi. 

Hiện tại chúng ta sống có nhiều tương quan và liên hệ mật thiết với nhau đến nỗi nếu chúng ta không ý thức được về sự trách nhiệm tập thể, không nghĩ đến tình anh chị em của thế giới cùng sự thông cảm, và niềm tin rằng chúng ta thực ra chỉ là một phần của đại gia đình nhân loại thì chúng ta không hy vọng có thể vượt qua được sự hiểm nguy đối với chính cuộc sống hiện hữu của chúng ta. 

Những vấn đề của một quốc gia không còn có thể đơn phương giải quyết thỏa đáng bởi riêng mình quốc gia đó nữa, mà nó tùy thuộc rất nhiều vào những quyền lợi, thái độ và sự hợp tác của các quốc gia khác. 

Sự áp dụng tình nhân loại phổ quát cho các vấn đề thế giới được xem như căn bản vững chắc cho nền hòa bình thế giới. Nói vậy có nghĩa như thế nào? Chúng tôi bắt đầu từ nhận thức như đã nói trên, là mọi chúng sanh đều mong tìm hạnh phúc và không thích sự đau khổ. Cho nên thực là một điều sai lầm về luân lý cũng như hành động thiếu sáng suốt khi chúng ta chỉ biết theo đuổi tạo dựng hạnh phúc cho riêng mình mà không đếm xỉa đến những tình cảm và khát vọng của những kẻ khác đang sống xung quanh chúng ta như những người trong cùng một đại gia đình của nhân loại. 

Người có trí tuệ khi mong tìm hạnh phúc cho chính mình, họ luôn nghĩ đến mọi kẻ khác. Sự việc này dẫn đến điều tôi gọi là “quyền lợi vị kỷ sáng suốt” mà nó hy vọng có thể chuyển đổi thành “quyền lợi hòa hợp” hay tốt hơn nên gọi là “quyền lợi hữu ích lẫn nhau”. 

Mặc dù việc gia tăng sự tùy thuộc hổ tương giữa các quốc gia dẫn tới điều hứa hẹn có nhiều sự hợp tác thiện chí hơn, nhưng vẫn khó thành đạt được tinh thần hòa hợp chân thật bao lâu con người còn ích kỷ, không nghĩ đến tình cảm và hạnh phúc của kẻ khác. 

Khi lòng người còn chứa đầy tánh tham lam và sân hận, họ không thể sống trong sự hòa hợp. Sự hướng đến cuộc sống tinh thần không thể giải quyết được mọi vấn đề chính trị tạo ra do hành động có ý tưởng ích kỷ hiện tại; nhưng sau cùng nó sẽ khắc phục được căn nguyên của các vấn đề khó khăn mà chúng ta đang phải đối phó hôm nay. 

Trái lại, nếu nhân loại tiếp tục giải quyết mọi vấn đề bằng những phương pháp tạm thời; các thế hệ tương lai sẽ phải đối phó với nhiều khó khăn lớn lao hơn. Dân số trên thế giới ngày càng tăng và tài nguyên của chúng ta đang nhanh chóng bị khai thác đến khánh tận. Chẳng hạn chúng ta hãy nhìn các rừng cây. Không ai biết rõ chính xác hậu quả tai hại đến mức nào do việc khai khẩn các rừng hoang sẽ gây ra ảnh hưởng tới khí hậu, đất đai và nói chung đến toàn thế giới. 

Chúng ta đang phải đối phó với nhiều vấn đề khó khăn vì con người chỉ nhằm đến các chương trình ngắn hạn và quyền lợi ích kỷ, chứ không phải nghĩ đến toàn thể đại gia đình nhân loại. 

Họ không cần biết đến thế giới và hậu quả lâu dài gây ra cho đời sống chung của tập thể. Nếu hiện tại chúng ta không biết đến sự việc ấy, các thế hệ tương lai chúng ta sẽ không thể đối phó được với những vấn đề đó. 
 


NẾP SỐNG PHẬT TỬ Ở MIẾN ÐIỆN 
 H.T. Thích Trí Chơn 

G ần 90 phần trăm dân tộc Miến đều theo Phật Giáo. Giữa khung cảnh xanh tươi của đất Miến, người ta thấy vươn lên từ các đỉnh đồi dọc theo bờ sông hay trên thung lũng những ngôi chùa màu trắng. Ðời sống xã hội Miến hoàn toàn xây dựng trên nền tảng Phật Giáo. Tinh thần từ bi của đạo Phật đã thấm nhuần sâu xa khắp mọi tâm hồn dân Miến. Trong xã hội tăng già hay Phongyis chiếm một địa vị cao quý, quan trọng. Ảnh hưởng của họ chi phối khắp các từng lớp dân chúng. Họ tham dự vào hết thảy mọi công tác từ thiện. Mỗi thôn xóm đều có một ngôi chùa gọi là Phong yikyaung để giúp đỡ, phát triển Phật sự trong vùng. 

Trước kia, những chùa này đã góp phần đắc lực vào công việc giáo dục Miến. Hiện nay, nền giáo dục của chùa chiền đang được phục hưng. Những ngày lễ, vía nam nữ Phật tử lũ lượt đến chùa để nghe chư Tăng thuyết pháp. Các trẻ nhỏ đều được gởi đến chùa để chúng học giáo lý và học đọc, học viết. Theo phong tục Miến, mỗi thanh niên Phật tử đều phải thọ lễ “Shinpyu” để vào chùa tập tu suốt trong thời gian chư Tăng an cư (thường về mùa mưa chư Tăng không đi ngoài khất thực) hoặc khoảng một hay nhiều năm, hoặc ít nhất là một tuần. Và khi vào ở chùa, họ sống đời tu sĩ y theo luật Phật chế. Tập tục này đang được ăn sâu dần vào đời sống xã hội Miến.

Miến Ðiện cũng là xứ sở của lễ lược, hội hè. Văn hóa Miến bao gồm những ngày lễ này, vì đời sống và 2 phong tục Miến đều gắn liền chặt chẽ với Phật Giáo. Ở Miến, hai ngày lễ bắt đầu và mãn kỳ an cư của chư Tăng rất lớn. Thời gian an cư tịnh tu bắt đầu từ rằm tháng Wazo Miến Điện (khoảng tháng 06 hoặc 07 dương lịch). Lễ “Wazo” cũng gọi là “Lễ Hương Hoa” (Festival of Flowers). Suốt thời gian lễ Wazo, mọi thú vui giải trí đều được đình chỉ. Thay vào đó, người ta tổ chức nhiều cuộc bố thí giúp đỡ kẻ nghèo. Chư Tăng được tín đồ cúng dường những y phục mới cùng vật dụng thuốc men. Trong 03 tháng tịnh tu chư Tăng chuyên tụng kinh và thiền định. Vào những ngày lễ Wazo, Phật tử không bao giờ tổ chức lễ đám cưới hay dọn nhà.

Lễ “Thadingyut” hay “Lễ Ánh Sáng” (Festival of Lights) chấm dứt thời gian an cư của chư Tăng. Lễ này tổ chức vào rằm tháng Thadingyut (khoảng tháng 09 hoặc 10 dương lịch) với nhiều cuộc vui và bố thí kéo dài trong ba ngày. Ban đêm, các chùa, tu viện cũng như tất cả các gia đình Phật tử đều thắp đèn. Và toàn quốc Miến Ðiện như chìm ngập trong biển ánh sáng muôn màu sắc tuyệt diệu.

Lễ “Thingyan” hay gọi là “Lễ Dâng Nước” (Water Festival), tổ chức vào ngày đầu năm Miến Ðiện, khoảng từ ngày 13 tháng 04 dương lịch. Sáng mồng một, sau khi tẩy trần tượng Phật trong nước hoa thơm, Phật tử có tục lệ cung thỉnh chư Tăng về nhà để cúng dường thọ trai. Lễ này kéo dài suốt ba ngày với nhiều cuộc vui. Ðặc biệt nhất là vào những ngày đó, dân chúng có tập tục đi tưới nưóc lẫn nhau. Và họ tin làm vậy là để chúc cho nhau sự may mắn, an lành.

Lễ “Kason Nyaung Ye Thun” tổ chức vào rằm tháng Kason Miến Ðiện (đôi khi vào khoảng tháng 05 dương lịch). Trong ngày này, Phật tử có tục lệ đem nước đến tưới vào cây Bồ Ðề (Bodhi nyaung bin) để tưởng niệm ba trường hợp đức Phật Đản Sinh, Thành Đạo và Niết Bàn (Nhập Diệt).

Lễ “Tazaungdaing” tổ chức vào rằm tháng Tazaungmon, (giữa tháng 11 dương lịch), cũng là dịp để tín đồ thắp đèn sáng rực rỡ, và cúng dường tứ sự cho chư Tăng. Ngoài những ngày lễ chính thức trên, còn có nhiều lễ, hội hè Phật Giáo khác đuợc tổ chức tại các chùa tùy theo tập tục riêng của mỗi địa phương. Ðiều đáng chú ý là trong cuộc sống tu tập hằng ngày, Phật tử Miến luôn chăm nghĩ đến việc bố thí, trì giới và trau dồi trí tuệ.

Lúc nào, Phật tử Miến cũng sẵn sàng bố thí. Họ không những chỉ cho, giúp đỡ thiên hạ thức ăn vật dụng mà còn cho bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm trong sạch. Người ta thích nhận ở kẻ khác những lời nói an ủi dịu dàng hơn là cho họ thức ăn hay sức khỏe. Vì khi tâm trí họ nhẹ nhàng, dĩ nhiên lúc ấy thân xác của họ sẽ được khỏe mạnh. Ðối với những bệnh nhân đau khổ thì không gì giúp họ chóng bình phục hơn bằng sự an ủi trìu mến của Phật tử chúng ta. 

Chúng ta có thể bố thí (Dàna) mà không cần có tiền. Chúng ta có thể cho người đói thức ăn, kẻ khát nước uống, người rách rưới áo quần, hoặc nhường chỗ ngồi cho những bạn đồng hành trên một chuyến xe đông khách. Chúng ta có thể dùng lời nói êm dịu để an ủi những tâm hồn đau khổ, chăm sóc giúp đỡ bệnh nhân với tất cả tình thương, hoặc luôn tươi cười vui vẻ với mọi người. 

Nụ cười tuy là một vốn liếng rất nhỏ, nhưng đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích lớn. Những lời nói hiền hòa và hành động tốt đẹp của chúng ta bao giờ cũng sẽ mang lại cho mọi kẻ sung sướng lẫn đau khổ nhiều nguồn vui đẹp đẽ biết bao nếu hằng ngày Phật tử chúng ta biết đem gieo rắt những hành động từ bi đó khắp mọi loài. Và sự lợi ích của cách bố thí này cũng chẳng kém gì phương pháp tài thí, cho người đồ mặc thức ăn. Nhưng cách bố thí cao cả nhất là pháp thí.

Giới luật giúp con người trở nên đạo đức. Thiếu giới luật, con người chỉ là một con vật luôn luôn thô lổ, hung tợn và tàn bạo ; một kẻ vô cùng độc ác xấu xa. Nó có thể bóp cổ, giết vợ, đâm con, chém bạn hay đồng bào, cưỡng hiếp thiếu nữ hoặc đánh dập tàn nhẫn kẻ tôi đòi. Nó có thể hành hạ cha mẹ, bạc đãi vợ con. Nó có thể căm thù và xử tàn nhẫn với mọi người. Kẻ nào xa lìa giới luật, họ sẽ dễ nói và hành động sai lầm. Nhưng người giữ giới được rất ít. 

Phần đông thiên hạ không ai giữ đặng những điều răn căn bản của đức Phật dạy như quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và thọ trì năm giới cấm là không sát sanh, trộm cắp, vọng ngữ, tà dâm, uống rượu. Người Phật tử trái lại, tối thiểu phải giữ được các điều trên, và cố gắng chu toàn bổn phận làm con đối với cha mẹ, đạo thầy trò, chồng vợ, chủ tớ đúng theo lời Phật dạy trong Kinh Thi Ca La Việt (Sigalovàda). Một người dù họ giàu có hoặc quyền cao chức trọng đến đâu mà không giữ được các giới điều căn bản vừa kể thì họ vẫn chưa xứng đáng là một người có đạo đức.

Tại Miến kẻ nào cần cù siêng năng, biết quy y thọ giới theo Phật, đều có thể chóng trở nên sung sướng giàu có, bởi lẽ họ được mọi người mến chuộng. Bao giờ họ cũng có uy tín hơn những bạn khác và luôn được quần chúng trọng đãi thán phục. Họ không lo sợ, nắm chắc thành công khi phải ra đời mưu sinh. Họ chết trong sự an lành, bình tĩnh với niềm tin đời sau của mình sẽ tốt đẹp. Cho nên Giới là điều kiện căn bản cho sự phát triển trí tuệ, là cửa ngỏ đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, là con đường chắc chắn hướng mọi người đến an lạc, hạnh phúc chân thật của Niết Bàn.

Theo tạp chí The Internationl Buddhist News Forum số tháng 2-1962.
 


NẾU! 
H.T. THÍCH TRÍ CHƠN

 
Chúng ta ai cũng đều ước mơ được sống trong một thế giới hoàn toàn tốt đẹp. Một thế giới ít có sự đau khổ về vật chất và tinh thần. Một thế giới mà con người bớt lo âu về nỗi sống chết. Một thế giới mà những con vật hiền lành không còn sợ những kẻ ác tâm giết hại chúng. Một thế giới mà chính con người không còn hành động lang sói với con người nữa.

Nếu phỏng chúng ta nói đó là điều có thể thực hiện, chắc có nhiều kẻ không khỏi la lên bảo: “Làm sao có thể thực hiện được?” Nếu các Phật tử cũng như mọi tín đồ Thiên chúa đều thực hành đúng những giới cấm của đức Phật và những điều răn của Chúa thì thế giới này có thể thay đổi được không? Mọi vấn đề quan yếu đều do ở nơi chữ Nếu bé nhỏ này.

Ðiều răn trước nhất của tín đồ Thiên chúa là gì? “Con không được giết”. Và giới cấm đầu tiên của người Phật tử là chi? “Phật tử không được sát sanh”. Nghĩa là người Phật tử không bao giờ có quyền giết hại bất cứ một sinh vật nào, bởi lẽ trong Kinh Pháp Cú đức Phật đã dạy: “Mọi người đều sợ hình phạt (gươm súng) mọi người đều sợ chết. Vậy hãy xét bụng ta ra bụng người, đừng giết và đừng bảo giết. Mọi người đều sợ hình phạt, mọi người đều ham sống. Vậy hãy suy bụng ta ra bụng người, chớ giết và chớ bảo giết”. 

  Chính bởi sự giết hại loài vật, tàn sát cá nhân cùng nhiều kẻ khác của chúng ta đã khiến cho nỗi thống khổ ở thế giới này luôn luôn tồn tại, tăng thêm mãi và không ai có thể thoát khỏi được nghiệp báo của mình. Ðó là cái luật nhân quả tự nhiên, làm ác phải gặp ác vậy. 

Nếutất cả mọi người đều giữ giới không sát sanh thì ai dám bảo rằng cục diện thế giới đen tối này không thể thay đổi được? Nhưng thử hỏi có mấy người tin chắc rằng họ có thể giữ đúng được điều răn “Không giết hại” đó? Mặt dầu rất ít, nhưng chúng ta cũng có một tia nhỏ hy vọng, một điểm sáng mờ giữa nền trời đen thất vọng, bởi lẽ lần đầu tiên trong lịch sử hiểu biết của nhân loại, con người đã ý thức được rằng chiến tranh bao giờ cũng gây nên chiến tranh và người chiến thắng cũng như kẻ chiến bại thảy đều đau khổ như nhau. 

 Thật là hoài công khi luôn luôn bảo với mọi người rằng: “Hận thù không thểdiệt được thù hận, và hận thù chỉ có thể chấm dứt bằng tình thương”.Và thấy cũng chẳng lợi ích gì khi khuyên con người nên yêu kẻ thù của nó như thương chính nó, hoặc nói rằng tình thương không bao giờ có thể nẩy nở ở những kẻ còn xem người này hay người khác như kẻ thù. Mà chỉ cần làm thế nào để con người nhận thức được rằng trong khi nó giết hại kẻ khác, tức nó đã tự giết hại chính nó, tất nhiên con người sẽ không còn muốn hành động sát hại lẫn nhau nữa.

Thế giới rộng lớn ngày nay đã thu hẹp lại nhanh chóng đến nỗi không một quốc gia nào, cả những cường quốc thịnh vượng, có thể hoàn toàn tránh khỏi được hậu quả sụp đỗ về đạo đức cũng như kinh tế của một cuộc chiến tranh, mà hình như còn xa xôi, nhưng hiện tại nó đang đe dọa nền hòa bình của toàn thể các dân tộc trên thế giới. Bất cứ một cuộc chiến tranh nào cũng là chiến tranh huynh đệ. Và có cuộc chém giết nào lại chẳng phải là cuộc tàn sát đẫm máu. Vậy muốn trở nên một con người có tâm hồn trong sạch thì chúng ta đừng bao giờ nên dự vào những cuộc sát hại đau thương ấy. Hơn nữa, mọi đời sống của tất cả chúng sanh đều gắn chặt và cùng mật thiết liên quan.

Giáo lý của đức Phật bao hàm những lời dạy thực tiễn. Ngài thừa biết rằng nơi con người vốn có bản tánh ác. Cái “bản tính xấu” này đã hủy diệt những gì tốt đẹp ở con người. Nhưng đúc Phật dạy nơi con người cũng có một thiện tánh trái lại (thiện tánh này cũng sẵn có như ác tính trên). Thiện tánh đó là Tình Thương. Nó có đủ năng lực cứu con người thoát khỏi biển đời ô trược, dẫy đầy những thảm cảnh chiến tranh tàn khốc.

Trong lúc làm kẻ khác đau khổ, con người đã tự gây đau khổ cho chính mình. Ðó là điều mê lầm hoặc muốn lầm mê của con người. Vô minh là nguồn gốc của mọi tội ác. Vì kém hiểu biết các định luật vật lý, con người đã mắc phải những bệnh tật. Và bởi không nhận rõ được luật nhân quả bất di dịch mà chúng ta đã nhầm tưởng rằng chúng ta có thể thoát khỏi được nghiệp báo của chúng ta. Chính sự mê lầm đó là căn nguyên gây nên sự hỗn loạn khổ đau của xã hội chúng ta, chứ công bình hay bất công thảy đểu là những hư từ vô nghĩa.

Chính nhờ lòng từ bi bao la mà đức Phật đã trở thành “Nguồn Ánh Sáng Của Á Ðông”. Chính bởi trí tuệ tuyệt vời mà ngài đã trở nên đấng dẫn đường độc nhất cho “những người hàng mong thoát khổ”. Và cũng do đầy đủ hai hạnh Ðại Trí và Ðại Từ ấy mà đức Phật đã xuất hiện như một bậc “Ðạo Dẫn Vô Song” một đức Thầy cao cả có thể đưa dắt, cứu thoát con người khỏi vòng khổ não và diệt được kẻ thù tối hại là Vô Minh. Chính bởi vô minh mà con người đã sanh tâm ích kỷ, tham muốn vô cùng để rồi gây nên những hận thù cá nhân cũng như đoàn thể. Lòng tham sân mù quáng đó có khác gì ngọn lửa hỏa diệm sơn bị dồn ép lâu năm dưới sức nóng trong lòng quả đất để một ngày kia (nó) bùn phun ra ngoài những lửa và tro tai hại. Cũng vậy, chiến tranh phát khởi là bởi từ lâu đời con người đã nuôi dưỡng ở trong thâm tâm biết bao mầm mống tham lam ác độc.

Với sự hiểu biết chân chánh về cuộc đời ngắn ngủi mong manh, với một nhận thức sáng suốt là mọi đời sống chúng sanh đều tương quan mật thiết, con người sẽ bắt đầu hiểu được rằng sự đau khổ là do con người gây ra và cũng chính con người đã trưởng dưỡng nó.

Có kẻ nào không thích hòa bình? Nhưng có ai biết được rằng muốn thế giới hòa bình thì trước tiên chính tâm mình phải hòa bình không? 

Duy nhất chỉ một con đường, một con đường đã có từ lâu, vô cùng màu nhiệm và thiêng liêng. Ðó là con đường thanh tịnh, có thể cải đổi được toàn diện nhân tính, hướng dẫn con người trong sạch trong lời nói, ý nghĩ và việc làm. 

Nhưng ai sẽ theo?
Ai dám theo con đường đó?
Ai? Ồ! NẾU…! 
 

Theo tạp chí Pháp ngữ “La Pensée Bouddhique” 
(Tư Tưởng Phật Giáo)


 PHONG TRÀO TÂN PHẬT TỬ TẠI ẤN ÐỘ 
Nguyên tác: V.G. Nair (Ấn Ðộ)
Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí Chơn 

Theo tài liệu kiểm tra năm 1961 tổng số Phật tử tại Ấn Ðộ là 3.025.000 người. Thật là một hiện tượng phát triển, bành trướng mau lẹ của đại gia đình Phật tử thế giới và là một biến cố trọng đại độc nhất vô nhị trong lịch sử Phật Giáo. Một cuộc cải cách, mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử Phật Giáo Ấn Ðộ giúp cho sự phục hồi đạo đức và tinh thần của một dân tộc qua bao thế kỷ đã từng bị chà đạp trong một xã hội quá lạc hậu khắt khe, với những tập tục giai cấp bạo tàn và mọi cổ lệ bất công đàn áp. Nó còn sẽ đem lại kết quả tiến bộ xa hơn là đập tan được mọi xiềng xích của một xã hội nô lệ và nâng cao đời sống tinh thần của hàng tân Phật tử thoát khỏi ý tưởng đen tối ban sơ để đạt đến chân trời giác ngộ. Phong trào Phật tử mới ở Ấn Ðộ đã mở đầu một tân thế kỷ của tự do tinh thần và công bằng xã hội đối với hàng dân chúng từng bị ngược đãi giữa lòng đất Ấn Giáo.

Phật tử Ấn Ðộ có thể chia làm hai hạng: hạng mới quy y và hạng theo lâu đời bất chấp cả sự công kích của các tôn giáo ngoại lai cùng các giáo phái Saivaism, Advaitism và Vaishanvism. Số tân Phật tử có đến hơn 2.500.000 người sống ở vùng Maharashtra thành phố của Ấn giáo chính thống, độ vài ngàn tại miền nam Ấn Ðộ, ở các tiểu bang Madras, Kerala, Andhra và khoảng gần 2.900.000 thuộc giai cấp hạ tiện tại những miền Punjap, Bihar và Madhya Pradesh v..v….Còn số cựu Phật tử thì ở rải rác các vùng Assam, Ðông và Tây Bengal kể cả thành phố Calcutta. Những Phật tử mới này đều nằm ở hạng dân chúng hèn hạ để tạo nên giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn giáo. Nhóm cựu Phật tử đa số thuộc thành phần Barua ở vùng Assam, Ðông và Tây Bengal.

Tại Kerala, số tân Phật tử ước độ vài ngàn thuộc đoàn thể Ezhava hoặc Thiyya tạo thành một giai cấp cao hơn. Nhóm Ezhava thuộc thành phần dân trí thức, văn minh và cần mẫn của miền Kerala. Tổ tiên của nhóm dân này gốc ở vùng Sri Lanka. Các học giả cho rằng trước kia họ là những người thuần túy theo Phật giáo, nhưng trải qua nhiều thế kỷ, con cháu họ bị xâm nhập bởi xã hội Ấn giáo. Số tân Phật tử ở miền nam Ấn Ðộ phần đông thuộc nhóm Adi-Dravid. Còn tại các tiểu bang khác, họ đều nằm ở giai cấp bị xã hội bỏ rơi, không tiếp xúc được như Panchamas, Nayadis, Cherumas, Avarnas v.v….Ðây là hạng dân chúng mà mọi người không ai muốn nhìn thấy hoặc tới gần. Tổng số hạng người này vào khoảng 60.000.000 trong số 300.000.000 theo Ấn giáo. Họ phải chịu nhiều bất công và bị tước bỏ mọi quyền như công dân, tín ngưỡng v.v….Họ làm những nghề hèn hạ như đi củi, gánh nước, v. v…để phụng sự quyền lợi cho giai cấp cao hơn trong xã hội.

Nhà lãnh đạo và sáng lập phong trào tân Phật tử này là cố Tiến sĩ Ambedkar (1891-1956), người đã góp phần thảo nên bản hiến pháp của Ấn Ðộ và là cựu bộ trưởng Tư Pháp của chính phủ Ấn. Tiến sĩ Ambedkar là một chính khách lỗi lạc nhất trong các lãnh tụ Ấn Độ ngày nay. Bên cạnh Đại Đức Anagarika Dharmapala, con người từng can đảm đấu tranh cho chánh pháp mở đầu công cuộc phục hưng trùng tu các thánh tích Phật giáo tại Ấn Ðộ, tô bồi nền Phật giáo thế giới.Tiến sĩ Ambedkar xuất hiện như một đại ân nhân đã hướng dẫn đa số dân tộc Ấn trở về với tín ngưỡng Phật Thích Ca và tạo nên sức chuyển mình hồi sinh mạnh mẽ cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại Ấn. 

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo Ấn giáo tại quận Ratnagiri ở tiểu bang Maharashtra, tiến sĩ Ambedkar đã cố gắng nhiều vào thời tuổi trẻ để theo đuổi hết chương trình trung học và sau ông tiếp tục sang học ở Hoa kỳ. Sau vài năm lưu học tại quê hương của cố tổng thống Lincoln (Mỹ quốc), ông trở về Ấn Ðộ với sự thấm nhuần trong cuộc sống cái lý tưởng dân chủ của Abraham Lincoln (1809-1865) và Booker Washington (1856-1915); nhà lãnh tụ da đen nổi tiếng, đã giải phóng dân tộc ông thoát khỏi xiềng xích nô lệ của xã hội Mỹ quốc bấy giờ. Với trình độ cao học cùng những kinh nghiệm thu lượm được tại Hoa kỳ và Anh quốc, tiến sĩ Ambedkar đã đứng ra hủy bỏ nhiều điều của bộ luật Manu theo Ấn Giáo, vốn trói buộc ông lâu đời trong những cổ lệ giai cấp bất công và ông nghiễm nhiên trở thành nhà lãnh đạo tối cao của đoàn thể ông để đem lại vinh quang cho Ấn Ðộ.

Với bản tánh can đảm chống lại mọi sự ngược đãi và nô lệ, tiến sĩ Ambedkar đi vào chính trường Ấn Ðộ, đã cảm thấy sâu xa cái thực trạng đau thương khủng khiếp mà trong đó chính các bạn bè thân quyến giai cấp của ông đã bị chôn vùi giữa sự nghèo đói thấp hèn, sống dưới những túp lều rách nát với mọi sự khiếm khuyết vệ sinh, tối tàn bẩn thỉu cùng những đe dọa bệnh tật chết chóc của một xã hội dẫy đầy đẳng cấp phân chia. Tình trạng bất hạnh trong cuộc sống của 60.000.000 dân chúng này không những chỉ xuất hiện tại các vùng nghèo khổ do người Anh thống trị mà cả đến các tiểu bang giàu sang của Ấn Ðộ.

Chính bởi bản thân Ambedkar đã từng chịu mọi điều sỉ nhục và lăng mạ của xã hội đầy bất công tàn ác mà ông đã cương quyết hy sinh đời mình cho công cuộc giải phóng và nâng cao đời sống của mọi dân nghèo, dốt nát, bơ vơ bị áp chế tại Ấn Ðộ. Ngoài sự hy sinh phục vụ cho chính phủ Ấn và hạng dân chúng bị ngược đãi, ông còn góp phần xây dựng chánh pháp bằng công việc diễn giảng, viết và phát hành kinh sách Phật Giáo để sau cùng ông lâm bệnh bởi làm việc quá sức cho hàng dân chúng nô lệ, ông bất ngờ từ trần sau những giờ bình tĩnh niệm Phật, để viết nên trang sử huy hoàng cho quốc gia tân tiến Ấn Ðộ.

Tại sao tiến sĩ Ambedkar đã quy y theo Phật cùng với hàng triệu người thuộc giai cấp của ông và đã từ chối mọi sự khuyến khích giúp đỡ của nhiều bạn bè các tôn giáo khác mà nhờ đó, ông có thể thành công dễ dàng trong việc nâng cao hàng dân chúng thấp kém của ông lên bình đẳng với mọi giai cấp ưu đãi khác trong xã hội? Tại sao ông không hành động theo đường lối giải phóng của Gandhi, một Thánh nhân của thời đại, mà lại quay về với đức Phật để tranh đấu cho tự do và hòa bình? Nói tóm, sự thay đổi tín ngưỡng của tiến sĩ Ambedkar không nhằm mong đạt đến bất cứ quyền lợi vật chất hay sự ủng hộ của lực lượng chính trị nào trong quần chúng mà lý do duy nhất khiến ông hành động cải đổi theo Phật Giáo bởi ông muốn có được sự an lành cùng giải thoát tinh thần khỏi cuộc sống hiện hữu khổ đau. 

Ông đã nhiều lần tuyên bố rằng ông có thể đạt đến địa vị tột đỉnh trong chính trường, nếu ông bằng lòng đứng mãi ở giai cấp của ông hơn là hành động bỏ Ấn giáo để theo Phật Giáo. Ông không có tham vọng trở thành Phật tử để có nhiều quyền lợi vật chất hay chính trị. Trái lại ông đã từ bỏ mọi nhiều quyền lợi và hy sinh cả thể xác lẫn tiền tài để mong hoàn thành sứ mạng của đời ông là phục hưng Phật Giáo cùng cứu thoát những giai cấp bị đàn áp khỏi cái xã hội đầy bất công tàn bạo. Như chúng ta đã biết rõ, tiến sĩ Ambedkar đã từ chối mọi sự ủng hộ vật chất của nhiều người bạn, với hy vọng ông sẽ theo cùng tôn giáo với họ hoặc giữ ông đừng bỏ tín ngưỡng cũ; nhưng sau những ngày suy nghĩ kỷ càng, cuối cùng ông quyết định hồi đầu theo đức Phật, đấng Ðại Giác và Ðại Từ, hầu cứu dân tộc Ấn thoát khỏi mọi sự áp chế bất công. 

Tiến sĩ Ambedkar theo Phật không phải bởi đức tin mù quáng, vì sự ép buộc tuyên truyền hay chỉ dẫn của các nhà sư cùng các lãnh tụ Phật Giáo mà do bởi lòng tin vững chắc của ông đối với đạo lý viên dung của Phật Giáo qua nhiều năm nghiên cứu học hỏi vô số kinh điển và niềm tin sâu xa vào nhân cách toàn vẹn của đức Phật, một tư tưởng gia tiền phong đã cách mạng xã hội; một nhân vật vô song đã cương quyết từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp con yêu để xuất gia tầm đạo, diệt hết mọi nguồn gốc khổ đau, vị kỷ và bất bình đẳng cho nhân loại. Tiến sĩ Ambedkar là người đọc khá nhiều sách. Ông có một tủ sách riêng đầy đủ nhất xứ này. Ông là người rất ham thích sách. Ngay vài giờ trước khi sắp từ trần ông cũng đã lấy nhiều sách Phật giá trị để giữ chúng bên cạnh trên gường ông mất.

Ông đã nghiên cứu toàn bộ kinh Phệ Ðà (Vedic), nhiều hệ thống triết học Ðông và Tây Phương, Kỳ Na giáo (Jainism), Thiên Chúa Giáo cùng nhiều tôn giáo lớn khác trên thế giới, nhưng ông thích nhất là Phật Giáo. Ông cũng là giáo sư dạy nhiều thứ tiếng như Phạn (Sanskrit), Pali, Hy Lạp, Ba Tư và Latin. Tiến sĩ Ambedkar không những chỉ là một học giả uyên thâm về kinh Phệ Ðà mà còn là người thực hành những phương pháp Yogi (Du Già) theo tiêu chuẩn của Sri Aurobindo. Tôi đã có lần được gặp ông và đã thảo luận với ông về mọi triết thuyết của các tôn giáo thế giới, tôi nhận thấy ông là người rất nhiệt thành hâm mộ đức Phật như các ngài Jivaka (Kỳ Bà) và Anathapindaka (Cấp Cô Độc) trong lịch sử Phật Giáo. 

Tiến sĩ Ambedkar đã đem lại nhiều thành công rực rỡ cho Phật Giáo và nền hòa bình thế giới bằng cách đã cải hóa cho hơn 2.500.000 tâm hồn dân tộc Ấn trở về quy y với đức Phật. Ông đã để lại một gia tài phong phú cho hàng tân Phật tử Ấn Ðộ, một di sản tinh thần cao quý tạo nên sức mạnh đoàn kết và hòa bình; một đức tính ngay thật và can đảm để phụng sự Ấn Ðộ. Ðược ca tụng như một luật gia tài ba qua “Bộ Luật Manu Tân Tiến” hình ảnh cố tiến sĩ Ambedkar sẽ sống mãi trong mọi tâm hồn người dân đất Ấn.

Sự cần thiết của hàng tân Phật tử hiện nay không phải là những pho tượng thờ, những ngôi chùa, những thiền thất to lớn, mà là những đoàn truyền giáo, hội đủ khả năng học vấn trí tuệ và tình thương có thể giảng dạy và bành trướng giáo lý đức Phật để hướng dẫn họ sống đúng theo những đức tính cao cả chân thật, đoàn kết và hòa bình. Nhu cầu hiện hữu của những người tân Phật tử này không chỉ những về phương tiện tinh thần mà cả đến vật chất: thực phẩm, áo quần, và nhà ở.

Họ càng thấy cần thiết hơn đến những cơ quan giáo dục, sự chăm sóc sức khỏe trong gia đình và làng xóm, để dân chúng được sống cuộc đời lành mạnh không bệnh tật; những cư xá cho các học sinh, sinh viên nghèo và nhiều nhà cứu tế xã hội khác. Họ cần thoát khỏi những tự ti mặc cảm và thù hận đối với các giai cấp thượng lưu trong xã hội, được hưởng đời sống hạnh phúc giàu sang hơn họ. Họ cần thoát khỏi có những sách báo rẽ tiền hoặc phát không in bằng tiếng địa phương nói về Phật Giáo và các tôn giáo khác, hầu giúp họ học hỏi và hướng dẫn họ trong đời sống hằng ngày. Họ cũng cần những tu viện Phật Giáo để có nơi cho họ nghiên cứu và đi sâu vào giáo lý cao siêu của Phật đà.

Trích tạp chí “Phât Giáo Thế Giới” (World Buddhism) số tháng 4 năm 1964, phát hành tại Tích Lan
 


SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA PHẬT GIÁO 
 H.T. THÍCH TRÍ CHƠN 

P hần đông các tôn giáo trên đường phát triển, đã ghi lại nhiều trang sử giết chóc tàn nhẫn, hoặc xử tệ với những kẻ không bằng lòng theo những tín ngưỡng trái với ý muốn họ. Phật Giáo chưa hề có những trang sử đầy máu lệ đau thương như thế. Trên đường du nhập truyền bá đạo Phật vào xứ người, Phật Giáo chưa bao giờ làm đổ một giọt máu hay đã dùng đến một phương tiện đàn áp tàn bạo nào. Bằng đường lối truyền giáo hòa bình, không dựa vào thế lực chính trị hay kinh tế, Phật Giáo đã ghi lại những trang sử huy hoàng chói sáng của đạo Từ Bi. Xưa cũng như nay, những nhà sư Phật Giáo đi đến bất cứ nước nào đều được dân chúng ở đó chân thành đón tiếp, ngưỡng mộ và quy y. Hiện giờ, Phật Giáo là một tôn giáo đang phát triển mạnh nhất trên thế giới, và có sức bành trướng mãnh liệt khắp nơi. Ánh sáng của Như Lai đã và đang chiếu rạng khắp mọi chân trời, ngay những vùng hẻo lánh xa xôi, mà mấy thế kỷ trước đây, dân chúng chưa hề biết đến đạo Phật là gì. 

Ở Tây Phương, những người quay về với Phật Giáo đầu tiên hầu hết là những bậc học giả và đại tri thức. Bởi vì, với giáo pháp cao thâm của đức Phật, những người có trình độ học thức tầm thường rất khó lãnh hội, cho nên ban đầu, chỉ những phần tử nào đủ khả năng đọc hiểu các ngôn ngữ Ðông Phương mới có thể nghiên cứu được tư tưởng Phật Giáo. Nhưng trong mấy chục năm gần đây, tình trạng đã hoàn toàn đổi khác. Ngày nay, chẳng những chúng ta có thể đọc giáo lý của đức Phật bằng tiếng bản xứ của chúng ta, mà biết bao kinh sách Phật Giáo đã được phiên dịch xuất bản, giúp cho sự nghiên cứu Phật Pháp của người Tây Phương càng trở nên dễ dàng hơn trước.

Một trong những học giả đầu tiên dịch những kinh điển Phật giáo chép bằng tiếng Ba lỵ (Pali) ra Anh văn, là con một vị giáo sĩ hữu danh theo đạo Thiên chúa. Mục đích của ông trong việc nầy, là cốt để trình bày cho mọi người thấy rõ đạo Thiên Chúa là cao hơn Phật Giáo. Nhưng sau cùng ông hoàn toàn thất bại với ý định đó, và để bù lại, ông đã đạt được một kết quả vô cùng tốt đẹp ngoài sự mong ước của ông. Ðó là việc ông phát tâm quy y theo Phật. Chúng ta không bao giờ có thể quên những duyên lành bất ngờ đã thúc đẩy người con của vị giáo sĩ trên làm một việc công đức ngàn năm một thuở ấy ; và nhờ vậy, mà giáo lý nhiệm mầu cao cả của đức Thế Tôn đã được phổ biến thấm nhuần đến hàng ngàn tâm hồn dân tộc trí thức Tây Phương. Học giả danh tiếng đó, chính là tiến sĩ Rhys David, và trong cuốn Phật Pháp (Dhamma), ông đã chân thành xác nhận: “Tôi đã từng nghiên cứu các tôn giáo lớn nhất trên thế giới, nhưng tôi chưa thấy có giáo lý nào vượt hơn được lời dạy cao thâm của đức Phật về bốn chân lý (Tứ Diệu Ðế). Tôi rất mãn nguyện khi hướng cuộc đời tôi theo con đường cao cả mà đức Phật đã dạy”

H.G. Wells, nhà khoa học kiêm sử gia danh tiếng, đã vô cùng ca tụng Phật Giáo là một học thuyết đạo đức hoàn hảo nhất, và ông dám xác nhận rằng đức Phật là đấng từ bi, trí giác vô thượng, vượt hơn những giáo chủ của các tôn giáo khác. Trong cuốn lịch sử đại cương, ông đã viết: “Tư tưởng Phật Giáo đang còn tồn tại ở khắp mọi lãnh vực văn hóa của thế giới hiện đại. Có thể nói rằng khi tiếp xúc với khoa học Tây Phương, và được soi sáng bởi tinh thần sử học, giáo lý nguyên thỉ của đức Phật lại càng trở nên dồi dào và chính xác thêm. Ngày nay Phật Giáo đã góp phần lớn trong việc hướng dẫn đời sống tinh thần cho toàn thể nhân loại”. 

Nhà đại khoa học Anh quốc ông Thomas Huxley, tuy không phải là một Phật tử chính thức nhưng ông cũng đã chịu ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Phật Giáo. Bằng một đoạn văn rõ ràng và chính xác, ông đã tóm lược giáo lý đức Phật như sau: “Phật Giáo là một hệ thống triết học không tin có thượng đế theo quan niệm triết lý Tây Phương, cũng không tin thuyết linh hồn con người là bất tử. Phật Giáo phủ nhận mọi hiệu lực của sự cung kính cầu xin, dạy con người không nên ỷ lại thần quyền hay một ngoại lực nào, mà chỉ tin vào khả năng tinh tấn tu tập của chính mình để tự giải thoát. Ðặc điểm của đạo Phật là không bao giờ dựa vào một thế lực chính trị hay quân sự nào, nhưng Phật Giáo vẫn bành trướng một cách mau lẹ khắp nơi trên thế giới; và đang là một tín ngưỡng phát triển mạnh nhất của phần lớn nhân loại hiện nay”. 

Chính Ngài Swami Vivekananda, một đại hiền triết Ấn Ðộ đã giúp nhiều trong công cuộc phổ biến triết học Ðông Phương vào các nưóc Tây Phương cũng đã viết về đức Phật như sau: 

“Lịch sử đã chứng minh cho chúng tôi thấy rằng Ngài (đức Phật) là một đấng cao quý hơn tất cả. Toàn thể nhân loại chỉ có thể tìm thấy một nhân vật độc nhất như Ngài, với một tình thương rộng lớn, và những lời dạy cao thâm cùng tột. Là một đại triết gia, Ngài đã lưu truyền một nền đạo lý cao cả, một lòng từ bi bao la trùm khắp mọi chúng sanh, ngay đến những loài vật bé nhỏ nhất. Lịch sử nhân loại đã tôn Ngài như một vị cứu tinh vĩ đại chưa từng thấy, hay hơn nữa, Ngài là hiện thân của một phối hợp tuyệt vời giữa tâm và trí”.

Sau hết, giáo sư Karl Gustav Jung ở Zurich (Ðức quốc) là một nhà tâm lý học danh tiếng nhất thế giới hiện đại cũng đã nói:

“Nếu thử làm một cuộc so sánh về các tôn giáo, tôi dám nói rằng Phật Giáo là một tôn giáo hoàn hảo nhất của thế giới. Giáo lý cao siêu của đức Phật về luật vô thường, nhân quả, thuyết nghiệp báo v..v..đã khiến đạo Phật vượt hơn hẵn tất cả các tôn giáo khác.” 

Trong phạm vi eo hẹp của bài này, không cho phép chúng tôi trích dẫn thêm hơn nữa, nhưng có thể nhiều học giả triết gia danh tiếng khác cũng đã ca tụng Phật Giáo như thế.

Tuy nhiên, sự biết rõ suông ý kiến của nhũng bậc tri thức thảo luận về Phật Giáo cũng chả lợi ích gì, nếu chúng ta không tự mình thực hành theo lời Phật dạy, tinh tấn tu tập để giải thoát. Sự giải thoát này không phân biệt ai, mọi người nam hoặc nữ, tất cả đều có thể đạt được nếu họ biết phát tâm hướng mạnh về ánh sáng Phật Giáo. Ðối với các ngài giáo chủ của những tôn giáo lớn khác, đức Phật vượt hẵn hơn các vị đó nhờ ở chủ trương hòa bình và đức tính từ bi, một tình thương rộng lớn trùm khắp mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, đẳng cấp, thân sơ, và đến các chúng sanh bé nhỏ như cầm thú, côn trùng. Thực không một vị giáo chủ nào có được lòng thương bao la đó, để xứng đáng danh hiệu là đấng đại từ đại bi như đức Phật.

Về trí tuệ, cũng không một thánh nhân nào có đủ trí sáng suốt hoàn toàn hơn Ngài. Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, Ngài đã chứng ngộ được bản thể của vũ trụ vạn hữu, mà các nhà khoa học Tây Phương mới khám phá ra được phần nào trong khoảng ba bốn mươi năm lại đây. Ngài là nhân vật đầu tiên đã nâng cao giá trị của hàng phụ nữ và đã cho họ bình đẳng với nam giới. Ngài đánh đỗ quan niệm căn cứ vào dòng giống, họ tộc để phân chia các đẳng cấp. Theo đức Phật, một người trở nên cao quý là do chỗ họ biết sống theo đạo đức, không phải nhờ ở sự giàu sang hay địa vị xã hội của cha mẹ. Những lời dạy này của đức Phật hiện nay đang được phổ biến mãnh liệt khắp nơi trên thế giới, và toàn nhân loại đều tin rằng chỉ Phật Giáo mới có thể đem lại hòa bình cho mọi dân tộc và quốc gia.

Các bạn có muốn trở thành một Phật tử để cùng sống chung trong đại gia đình Phật Giáo chăng? Các bạn sẽ là Phật tử khi các bạn biết tự phát nguyện quay về theo đức Phật, và xem Ngài như đấng cha lành đầy đủ phước trí, có thể hướng dẫn đời sống tinh thần cho các bạn. Trong các tôn giáo và những tín ngưỡng khác của thế giới, thử hỏi chúng ta tìm đâu ra được một vị giáo chủ có những trang sử rạng ngời như thế? Giữa khung cảnh nhấp nhánh lung linh của muôn ngàn tinh tú, Ngài xuất hiện như một vì sao chói sáng hơn tất cả. Cho nên chúng ta không lấy làm ngạc nhiên, khi thấy rằng, các nhà đại khoa học, triết gia, văn hào xưa nay, đã không ngớt lời tán thán và tôn vinh Ngài là một đấng Y Vương Vô Thượng, toàn trí toàn giác.

Trong đêm trường tăm tối của thế giới đầy khổ đau và bạo tàn áp bức, giáo pháp nhiệm mầu của đức Phật hiện ra như một ngọn hải đăng, tỏa khắp nơi ánh sáng huyền diệu, để chu toàn sứ mạng hướng dẫn đời sống tinh thần cho nhân loại muôn phương, muôn thời và muôn xứ.

Theo “The Blueprint of Happiness”. Của Đại Đức Anoma Mahinda


THÁI ĐỘ CỦA PHẬT TỬ TÂY TẠNG ĐỐI VỚITHIÊN CHÚA GIÁO 
Nguyên tác: Lama A Govinda 
Chuyển ngữ: HT.Thích Trí Chơn 

M uốn hiểu Phật tử Tây Tạng có thái độ thế nào đối với Thiên Chúa Giáo, trước tiên chúng ta cần biết danh từ “tôn giáo” đối với họ có nghĩa gì? Danh từ Tây Tạng sát nhất với nghĩa tôn giáo (hay Ðạo) là “Cho”, tiếng Phạn là “Dharma”. Nó có nghĩa là một định luật về tâm linh, vũ trụ hay nguyên lý chi phối hết thảy các Pháp. Sống phù hợp với định luật này là ước vọng cao cả nhất của con người và chính đó cũng là những phương tiện giúp con người đạt đến cảnh giới đạo đức và toàn thiện. 

Cho nên, theo dân tộc Tây Tạng, tôn giáo không phải chỉ là hệ thống giáo điều cố định mà là một biểu lộ tự nhiên niềm tin trong ý định muốn đạt đến một cuộc sống cao cả của con người hoặc tự cứu mình thoát khỏi bức thành vô minh và bản ngã vị kỹ để thể nhập được chân lý vũ trụ qua sự giác ngộ của tâm linh. Có bao nhiêu hạng người thì có bấy nhiêu con đường và pháp môn. Bởi vậy người Tây Tạng không xem hiện tượng đa giáo như một tai họa hoặc là lý do để con người tranh chấp, thù hận nhau và họ cho đó như điều kiện tất nhiên và cần thiết cho sự tiến bộ tinh thần của nhân loại.

Người Tây Tạng vốn có tinh thần tôn trọng cá nhân khá cao, cho nên họ sẵn sàng chấp nhận và tôn kính hết thảy mọi hình thức tín ngưỡng và tôn giáo. Do đó, ở Tây Tạng, Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo đều có rất nhiều giáo phái. Tuy nhiên, giữa các giáo phái này không bao giờ có sự tranh chấp hay thù ghét nhau. Họ sống hòa bình bên nhau và luôn biết tôn trọng giá trị tôn giáo lẫn nhau. Người theo đạo này không bao giờ hủy báng kẻ theo đạo kia. Tinh thần tôn trọng tín ngưỡng cá nhân ấy đã được thể hiện qua câu ca dao Tây Tạng sau đây: 

“Lung-pa ré-ré ka-lug ré 
Lama ré-ré cho-lug ré” 

“Vùng nào có tiếng nói vùng nấy. 
Lạt-ma nào có giáo lý ấy”.

Cho nên với tập tục này, mọi người ai cũng có quyền chấp nhận hay chối bỏ cùng thực hành và công khai bày tỏ ý kiến đối với tôn giáo họ theo. Người ta thường tổ chức những cuộc thảo luận về tôn giáo và ý kiến của quần chúng đưa ra trong những buổi hội thảo đó thảy đều được mọi người tôn trọng. Phần lớn những buổi thảo luận công cộng này thường được sự khuyến khích, giúp đỡ đặc biệt của các tu viện Ðại Học Phật Giáo như Ganden, Drepung và Sera. Người Tây Tạng cũng không quá ngây thơ tin rằng chân lý đạo giáo có thể biểu hiện bằng những lý thuyết hay sự tranh luận. Các nhà sư Tây Tạng vẫn thường xác nhận rằng chân lý tuyệt đối không thể nào diễn đạt bằng ngôn từ, văn tự mà nó chỉ có thể hiện bày ở nội tâm do sự tu chứng của chúng ta. Cho nên điều quan hệ không phải ở nơi giáo lý chúng ta tin tưởng mà là ở chỗ chúng ta kinh nghiệm, thực hành giáo lý đó cùng những kết qủa nó đem lại cho chúng ta và mọi người xung quangh. Bất cứ tôn giáo nào hướng dẫn chúng ta đến cảnh giới an lành và giải thoát khổ đau đều là những đạo lý chân chính.

Ở Tây Tạng, dân chúng quý trọng nhà sư hơn ông vua, những người xa lìa được mọi vật dục thế gian hơn những kẻ giàu sang và ai dám hy sinh mạng sống chính mình để cứu giúp chúng sanh hơn kẻ thống trị toàn thế giới. Cho nên, ngày nay những câu chuyện tiền thân và gương hy sinh của đức Phật thường được mọi người nhắc kể lại trong những buổi lửa trại, các ngày lễ tôn giáo hoặc trong gia đình, các tu viện cũng như giữa những nơi đô thị đông người. Và các câu chuyện này bao giờ cũng gây được nhiều xúc cảm cho người nghe, ngay cả từ anh chàng chăn lừa cộc cằn nhất đến tên gian manh đại bịp ở thành phố. Bởi lẽ chúng không phải chỉ là những mẫu chuyện hoang đường xa xăm, mà là những hình ảnh phản chiếu chân thật cuộc sống của bao nhiêu Thánh Tăng Tây Tạng ở quá khứ cũng như hiện tại. 

Do đó, chúng ta dễ dàng hiểu tại sao câu chuyện của chúa Jésus chịu đóng đinh trên thập tứ giá để chuộc tội cho loài người vẫn gây được nhiều cảm xúc sâu xa đối với mọi người thường dân Tây Tạng. Tuy vậy, nhưng ví phỏng có ai bảo rằng: “Các anh nênbỏ, đừng theo các vị Thánh Tăng, Lạt Ma nữa mà chỉ nên thờ đức Chúa không thôi” thì họ sẽ không khỏi ngạc nhiên và bực tức trước câu nói như thế. Bởi lẽ theo họ, chân lý bao hàm duy nhất mà xưa nay những vị giáo chủ, Thánh hiền của nhiều dân tộc đã chỉ bày: đó là bức thông điệp của lòng bác ái, từ bi cùng sự nhận thức về cái bản thể chân như, vượt ngoài ngôn từ và định nghĩa, mà Thiên Chúa giáo gọi là Thượng Đế (God), Ấn Ðộ Giáo là Phạm Thiên (Brahman) và Phật Giáo là Toàn Giác (Enlightenment).

Nếu Thiên Chúa giáo không chiếm được địa vị độc tôn ở Tây Tạng mặc dù dân chúng đã dành nhiều cảm tình tiếp đón đối với các giáo sĩ đầu tiên đến đây, hẵn có nhiều lý do. Nhưng lý do chính không phải vì quần chúng không chấp nhận đấng Christ hoặc giáo lý căn bản của Ngài mà trái lại, bởi lẽ những lời dạy của Christ không có gì cao siêu vượt hơn những giáo lý của đức Phật, mà từ lâu các vị Thánh Tăng và Lạt Ma đã thực hành ở Tây Tạng nhiều hơn bất cứ nơi nào tại Âu Châu. Lý do thứ hai vì các giáo sĩ Thiên Chúa trong khi cố gắng giảng truyền giáo lý của đấng Christ tại Tây Tạng, họ lại chối bỏ không chấp nhận những lời dạy cao siêu của đức Phật và những vị Bồ Tát sống ở xứ này cũng như vốn bởi họ sẳn có nhiều thành kiến tôn giáo và hành động cố chấp vào những giáo điều khác với giáo lý bác ái bao dung của Christ.

Và tưởng không có gì trình bày cụ thể hơn về thái độ của dân chúng Tây Tạng đối với Thiên Chúa giáo bằng đoạn lịch sử ghi chép sau đây: Vào năm 1625, Padre Antonio de Andrade, vị giáo sĩ Thiên Chúa đến Tây Tạng, đã được vua Guge tiếp đón nồng nhiệt tại Tsaparang (miền tây Tây Tạng). Với tinh thần quảng đại của Phật Giáo, ông đã được nhà vua hết sức trọng nễ và cho phép lưu lại để truyền giáo. Vì nhà vua nghĩ, một người đã nguyện đi khắp thế giới để truyền cái đạo lý của họ đang theo, thì cái đạo lý ấy chắc là có lắm điều đáng nghe và sứ giả đó cũng đáng được kính trọng.

Nhà vua cũng tự tin rằng chân lý không bao giờ có thể phá hoại chân lý và bất cứ lời dạy chân chính nào ở tôn giáo ngoại lai cũng chỉ đem lại sự tốt đẹp, phát triển thêm cho giáo lý các Thánh Tăng, chư Phật và Bồ Tát ở Tây Tạng mà thôi. Ðể bày tỏ thiện cảm của mình vua Guge đã viết một bức thư gởi cho giáo sĩ Antonio de Andrade vào năm 1625, có đoạn sau: 

“Chúng tôi rất vui mừng về việc Linh mục Padre Antonio đến xứ chúng tôi để truyền đạo. Chúng tôi xem ông như vị Lạt Ma và cho phép ông đủ quyền truyền dạy giáo lý cho dân tộc chúng tôi. Chúng tôi đã ban hành sắc luật cấm chỉ không ai được phép ngăn cản, áp bức ông trong công việc này và chúng tôi sẽ ra lịnh cấp cho ông một khu đất cùng mọi vật dụng cần thiết để ông xây cất một ngôi nhà giảng”.