Vào
thời điểm thế kỷ 20 sắp kết thúc chúng ta nhận thấy
rằng quả đất nơi chúng ta đang sống ngày càng thu nhỏ lại
và thế giới loài người đã biến thành gần như một cộng
đồng. Những liên minh quân sự lẫn chính trị giữa nhiều
quốc gia cũng như sự hình thành các khối thịnh vượng và
thị trường chung tại những khu vực trên thế giới đã xóa
sạch các hàng rào ngăn cản thời xưa về khoảng cách, ngôn
ngữ và chủng tộc v..v
Chúng
ta cũng đang phải đối đầu với những vấn đề khó khăn
trầm trọng như nạn nhân mãn, tài nguyên thiên nhiên ngày
càng khô cạn và các môi trường sinh sống trên quả đất
như không khí, nước uống, cây cối, sông ngòi, núi đồi,
cùng biển cả đang bị nhiễm ô.
Tôi
tin rằng để vượt qua và khắc phục những thách thức khủng
hoảng nói trên của thời đại chúng ta ngày nay, con người
cần ý thức trách nhiệm phổ biến toàn cầu của mình.
Mỗi chúng ta nên biết hoạt động và phục vụ không chỉ
riêng cho lợi ích gia đình, tổ quốc và cá nhân mà còn vì
phúc lợi của nhân lọai. Nhận thức trách nhiệm phổ quát
là chìa khóa đích thực dẫn đến sự sống còn của loài
người. Nó xây dựng vững chắc cho nền hòa bình thế giới,
sự sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
tốt môi sinh và hạnh phúc cho những thế hệ tương lai. Bằng
cách nào để chúng ta có thể làm tăng trưởng tinh thần trách
nhiệm chung và phát triển lòng vị tha, giúp đỡ lẫn nhau?
Dưới đây là một vài ý kiến của chúng tôi.
Một
Đại Gia Đình Nhân Loại
Dù
muốn hay không tất cả chúng ta sinh ra trên quả đất này
đều được xem như một phần của đại gia đình nhân loại.
Giàu hay nghèo, học thức hay ngu dốt, người quốc gia này
hay dân tộc kia, theo tôn giáo này hay tín ngưỡng nọ, học
thuyết này hay chủ nghĩa kia, cuối cùng mỗi chúng ta như mọi
kẻ khác đều chỉ là một con người vì tất cả chúng ta
ai cũng muốn có hạnh phúc và không thích khổ đau. Hơn nữa,
mỗi chúng ta đều có quyền bình đẳng theo đuổi các mục
tiêu lợi ích này.
Thế
giới ngày nay đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận tính chất
duy nhất của một cộng đồng nhân loại. Thời xưa, các gia
đình, đoàn thể và bộ lạc đều sống rời rạc cách xa
nhau. Nhưng ngày nay, bất cứ biến cố gì xảy ra tại một
quốc gia nào thảy đều ảnh hưởng đến toàn cả thể giới.
Cho nên chúng ta cần nhận thức rằng khi ở địa phương gặp
phải vấn đề khó khăn thì các nơi khác đều gánh chịu
hậu quả chung của nó. Nếu chúng ta sống biệt lập với
óc kỳ thị, phân chia về quốc gia, chủng tộc, chủ nghĩa
hay tôn giáo thì chúng ta rất khó thành công trong cuộc đời.
Chúng ta nên đoàn kết, biết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
và luôn luôn xem quyền lợi kẻ khác như của chính mình.
Được
vậy, tôi nghĩ đó là nguồn hy vọng và mong ước của con
người. Sự hợp tác hổ tương là điều cần thiết bởi
lẻ nó giúp cộng đồng nhân loại vững mạnh. Hơn nữa, thế
giới tương lai con người hạnh phúc, không phải tùy thuộc
nương nhờ vào các liên minh kinh tế hay quân sự rộng lớn
mà do mỗi cá nhân biết thực hành tình thương và lòng từ
bi. Ngày mai nhân loại muốn có một cuộc sống tốt đẹp,
văn minh và an lạc hơn thì mọi người chúng ta ai cũng nên
phát triển tấm lòng chân thực, rộng mở và khoan dung, xem
nhau như anh chị em ruột thịt một nhà.
Phương
Thuốc Của Lòng Từ Bi
Người
ta bảo rằng ở Tây Tạng có nhiều bịnh nhân được chữa
lành nhờ thuốc từ bi và tình thương. Các thiện tánh này
là nguồn gốc chủ yếu của hạnh phúc con người. Nhưng rất
tiếc từ lâu, chúng chỉ được áp dụng giới hạn trong nhà
và gia đình chứ không thực hiện rộng rãi cho mọi người
ngoài xã hội. Đây là điều đáng buồn! Theo tôi, sự thể
hiện tình thương không phải hành động ảo tưởng mà là
con đường tu tập thực tế và kết quả nhất nhằm cứu
giúp những kẻ khác cũng như chính mình.
Tâm
từ bi như dòng suối mát dập tắt ngọn lửa tham sân si và
phiền não nơi lòng người. Nó là hạt giống lành, khi được
gieo trồng, sẽ phát sinh các thiện tánh khác như lòng bao dung
tha thứ, hỷ xã và độ lượng v..v...Lòng từ bi là thần
dược nhiệm mầu có thể cải đổi tâm con người từ ác
ra thiện, xấu trở nên tốt, khổ đau thành an lạc. Cho nên
chúng ta nên gieo rắt, ban bố tình thương bao la đến các thân
hữu và bà con quyến thuộc trong gia đình. Không riêng tu sĩ
các tôn giáo, nhân viên y tế và cán sự xã hội mà ngay cả
mọi người đủ thành phần trong quốc gia đều nên có tâm
từ bi.
Mọi
sự tranh chấp và xung đột trong các lãnh vực chính trị,
kinh tế cũng như tôn giáo, sự thể hiện tình thương và lòng
khoan dung vẫn luôn luôn là phương pháp hữu hiệu nhất để
giải quyết tốt đẹp những mâu thuẩn trên. Đôi khi ngay
cách thức chúng ta dùng nhằm hóa giải mối bất hòa lại
gây thêm nhiều rắc rối khác. Gặp trường hợp như vậy,
khi không đạt được được sự phân giải nào, cả hai phía
nên kêu gọi đến tình người, hầu mong tạo niềm thông cảm
đoàn kết. Điều này sẽ giúp chúng ta tháo gở sự bế tắc,
và cuối cùng đạt đến kết quả tốt đẹp. Mặc dù đôi
khi cả hai bên đều không hoàn toàn thõa mãn, nhưng nếu biết
nhân nhượng, tình trạng nguy hiểm xung đột đối đầu nhau
có thể tránh được. Tất cả đều biết rằng sự dàn xếp
như vậy là phương cách hữu hiệu nhất để giải quyết
ổn thỏa mọi cuộc tranh chấp, tại sao chúng ta không cố
gắng thực hiện?
Trong
xã hội, nếu con người sống không biết hợp quần, tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau thì chúng ta rất khó tồn tại. Các
bạn hãy nhìn tấm gương của đàn ong nhỏ bé. Định luật
tự nhiên đã dạy chúng biết đoàn kết, hợp tác và chung
nhau làm việc để sống còn. Kết quả là đàn ong theo bản
năng, đã ý thức được trách nhiệm tập thể. Chúng không
có quốc hội, hiến pháp, luật lệ, cảnh sát, tôn giáo hay
lời khuyên đạo đức, nhưng do bản tính tự nhiên, chúng
hết lòng cộng tác cùng nhau làm việc. Thỉnh thoảng chúng
có thể cắn nhau, nhưng căn bản cả đàn của chúng tồn tại
nhờ sức mạnh hợp quần. Trái lại loài người có đầy
đủ hiến pháp, lực lượng cảnh sát, công an, tôn giáo và
một trái tim biết yêu thương. Mặc dù con người có nhiều
lợi điểm đặc biệt như vậy, nhưng trên thực tế, ở vài
phương diện, tôi nghĩ chúng ta còn kém thua những con ong bé
nhỏ đó. Thật là điều đáng buồn!
Chẳng
hạn, mặc dù hàng triệu người hiện đang sống gần gũi
chung đụng với nhau tại các thành phố lớn khắp nơi trên
thế giới, nhưng có nhiều kẻ vẫn cảm thấy cô đơn. Một
vài bạn, ngay cả không có lấy một người thân để chia
xẻ nổi vui buồn khi gặp nghịch cảnh khổ đau. Thật là
bi đát! Chúng ta không phải là những con vật có thể sống
độc lập mà cần biết đoàn kết, hợp tác, nương tựa và
giúp đỡ lẫn nhau để tồn tại. Nhưng rất tiếc và bất
hạnh là chúng ta đã sống thiếu tình người và trách nhiệm
đối với đồng loại của mình. Khuyết điểm này phải chăng
là do hoàn cảnh xã hội được xây dựng trên nền tảng gia
đình và cộng đồng của chúng ta? Hay do ảnh hưởng của
đời sống vật chất, khoa học kỹ thuật và máy móc hiện
đại bên ngoài? Tôi không nghĩ vậy.
Tôi
vẫn tin rằng mặc dù nền văn minh nhân loại của thế kỷ
hôm nay đã tiến rất nhanh, nhưng nguyên nhân căn bản gây
ra những cuộc khủng hoảng, khó khăn và khổ đau cho con người
hiện tại là do bởi chúng ta chỉ nghĩ đến sự phát triển
đời sống vật chất không mà thôi. Chúng ta đã say mê theo
đuổi nó và không quan tâm đến các nhu cầu cần thiết nhất
của mọi người hôm nay là tình thương, lòng vị tha, sự
tương trợ và cộng tác giúp đỡ. Nếu chúng ta không nghĩ
tưởng đến nỗi khổ đau của cá nhân hay nhiều người khác,
như vậy là chúng ta đã quay lưng và bỏ quên họ. Nhưng sự
phát triển của xã hội nhân loại hoàn toàn đặt nền tảng
trên lòng thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau của con người.
Khi trái tim chúng ta khô héo và đánh mất tình người căn
bản này thì mục đích cuộc sống của chúng ta phải chăng
chỉ còn nhắm đến sự lợi dưỡng và tiến bộ của vật
chất?
Theo
tôi, rõ ràng là trách nhiệm cứu giúp mọi người khác của
chúng ta chỉ có thể thành tựu tốt đẹp khi chúng ta phát
triển được lòng từ bi. Tôi đã thuyết giảng nhiều nơi
về phương pháp tu tập và thực hành tình thương rộng lớn
này. Dưới đây tôi sẽ trình bày cùng quý vị trong hiện
tình thế giới với nhiều cuộc khủng hoảng tranh chấp về
chính trị, tôn giáo và chủ nghĩa v..v.., bằng cách nào chúng
ta có thể cải thiện và phát triển tinh thần trách nhiệm
phổ quát toàn cầu .
Trách
Nhiệm Phổ Biến
Trước
hết, tôi xin bày tỏ rằng tôi không tin tưởng vào các phong
trào, chủ nghĩa hay ý thức hệ.Tôi cũng không chủ trương
thành lập một tổ chức hay đảng phái để truyền bá một
lý thuyết đặc biệt nào, nhằm thu hút chỉ riêng một nhóm
ít người chứ không phải đông đảo đa số quần chúng tham
gia để thành đạt mục đích nói trên. Trong hoàn cảnh hiện
nay, không một cá nhân nào có thể giải quyết các vấn đề
khó khăn của chúng ta mà tất cả mọi người đều nên tích
cực góp phần hầu chia xẻ trách nhiệm chung phổ quát này.
Bằng
cách đó, số lượng những cá nhân trách nhiệm sẽ tăng trưởng
từ mười, trăm ngàn và cả hàng trăm ngàn; nhờ vậy mà các
cuộc khủng hoảng khó khăn chung của thế giới sẽ được
cải thiện. Những thay đổi tốt đẹp không thể xảy ra nhanh
chóng mà đòi hỏi sự cố gắng tu sửa liên tục của mỗi
chúng ta. Với tâm chán nản và thất vọng chúng ta không thể
thành đạt bất cứ một kết quả khiêm nhường nào. Trái
lại bằng ý chí cương quyết, nổ lực tinh tấn và cải đổi
vươn lên chúng ta sẽ dễ dàng khắc phục, vượt qua những
trở ngại khó khăn nhất. Chấp nhận tinh thần trách nhiệm
phổ quát là nền tảng căn bản đạo đức của mỗi cá nhân.
Thực hành lòng từ bi không phải là điều chúng ta chỉ biết
ngồi thảo luận suông mà cần nên ứng dụng nó vào trong
đời sống thực tế hằng ngày.
Mặc
dù không có một cơ quan chính phủ nào toàn hảo, tuy nhiên
sự thực thi dân chủ vẫn là điều tốt đẹp nhất mang lại
hạnh phúc cho mọi người. Do đó bất cứ ai muốn chia xẻ
hưởng lợi ích này, cần tranh đấu cho con người có quyền
thực hiện ước vọng trên. Hơn nữa, dân chủ là nền tảng
vững chắc nhất để xây dựng trên đó ngôi nhà chính trị
toàn cầu thế giới. Hoạt động như một đại gia đình chung
nhân loại, chúng ta nên kính trọng quyền bảo vệ nền độc
lập cùng nếp sống văn hóa đặc thù của mọi dân tộc quốc
gia.
Đặc
biệt, chúng ta hãy nổ lực cố gắng thể hiện lòng từ bi
trong lãnh vực sinh hoạt của thế giới. Nền kinh tế không
đồng đều giữa các quốc gia giàu và nghèo, đã phát triển
và kém mở mang là nguồn gốc gây nên nổi khổ đau lớn nhất
cho loài người trên quả đất này. Những nước giàu với
nền kinh tế vững mạnh cần chia xẻ giúp đỡ cho các quốc
gia nghèo khó, sẽ góp phần tạo sự ổn định cho tình hình
chính trị và kinh tế trên toàn thế giới. Chúng ta cũng cần
thẩm định lại giá trị của nền khoa học hiện đại trong
sự đóng góp cho đời sồng hạnh phúc của con người. Mặc
dù mục đích chính của khoa học là nghiên cứu tìm hiểu
về thực tại của vạn vật vũ trụ, nhưng mặt khác nó cũng
cần giúp làm thăng hoa, mang phúc lạc đến cho con người.
Nếu không có sự hướng dẫn của tình thương, các khoa học
gia có thể chế tạo những vũ khí giết người như chúng
ta đã biết trong nhiều thập niên qua, tạo nên khổ đau cho
đồng loại.
Các
tôn giáo lớn trên thế giới cũng cần có trách nhiệm phổ
quát này. Mục đích của tôn giáo không phải chỉ lo xây cất
những ngôi chùa và nhà thờ đồ sộ, nguy nga tráng lệ mà
cần hướng dẫn con người tu tập các tánh tốt như từ bi,
hỷ xã, khoan dung và tha thứ. Mọi tôn giáo dù triết lý có
khác biệt như thế nào, vẫn cùng dạy con người bớt tham
lam ích kỹ và cứu giúp nhân loại. Rất tiếc là đôi khi
tôn giáo đã gây nên những cuộc xung đột chiến tranh hận
thù chứ không mang lại hòa bình an lạc cho mọi người. Tín
đồ các tôn giáo cần nhận thức rằng mỗi tín ngưỡng đều
có một hệ thống giáo lý và phương pháp tu tập riêng để
giúp hành giả đạt đến sự an lạc và hạnh phúc. Mỗi tôn
giáo giống như một loại thức ăn không thể nào thỏa mãn
tất cả mọi người. Tùy trình độ hiểu biết và khả năng
tu hành khác nhau, vài người thích tôn giáo này, kẻ nọ lại
chọn tín ngưỡng kia. Các đạo giáo, đôi khi giáo lý có phần
mâu thuẩn đối nghịch nhau nhưng cuối cùng tất cả đều
hướng dẫn con người làm lành tránh ác, tìm về chân thiện
mỹ. Do đó, chúng ta không nên có óc kỳ thị tôn giáo hay
đức tin mù quáng mà cần biết kính trọng các tín ngưỡng
với tinh thần cởi mở khoan dung.
Chắc
chắn môi trường thuận lợi nhất để chúng ta gieo trồng
hạt giống từ bi là sự giao hảo liên quan quốc tế. Trong
những năm gần đây tình hình chính trị thế giới đã thay
đổi khá nhiều. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng ý
rằng cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Nga Mỹ kết
thúc kéo theo sự sụp đổ của các nước Đông Âu Cộng Sản
và Liên Bang Xô Viết đã mở ra một trang sử mới cho nhân
loại. Thế kỷ 20 vừa qua là thời kỳ tang thương nhất trong
lịch sử loài người với số lượng vũ khí tàn phá khổng
lồ được sản xuất, đã mang lại sự chết chóc và khổ
đau cho con người nhiều hơn các thế hệ trước.
Hơn
nữa, chúng ta cũng chứng kiến sự tranh chấp gần như vào
giai đoạn chót giữa hai ý thức hệ căn bản mà chúng luôn
luôn xâu xé cộng đồng nhân loại: đó là chủ thuyết độc
tài toàn trị một bên, còn phía kia là nền dân chủ, tự
do và nhân quyền. Tôi tin rằng cuộc đọ sức quan trọng giữa
hai lực lượng này, giờ đây đã thấy rõ. Mặc dù tư tưởng
hòa bình, tự do và dân chủ hiện đang còn phải đối đầu
với các thể chế độc tài và tàn bạo, tuy nhiên điều rõ
ràng là đa số mọi người khắp nơi trên thế giới đều
mong ước tư tưởng dân chủ và tự do sẽ chiến thắng. Sự
sụp đỗ của chính quyền Cộng Sản tại Liên Bang Xô Viết
đã chứng minh điều đó.
Mặc
dù chủ nghĩa Cộng Sản vẫn thường tán dương, đề cao lý
tưởng tự do, bình đẳng và công bằng xã hội, nhưng thực
tế với chính sách độc tài đảng trị, nhà nước đã tước
đoạt và ngăn cấm các quyền căn bản của con người như
tự do tư tưởng, hội họp, đi lại và tôn giáo v..v.. Chủ
thuyết cộng sản đã thất bại nặng nề bởi lẽ nó đã
được tuyên truyền phổ biến bằng sức mạnh của bạo lực.
Hậu quả là chủ nghĩa vô thần này đã gieo rắt và gây nên
không biết bao nhiêu khổ đau cho nhân loại.
Tuy
nhiên, Cộng Sản chủ nghĩa dù bạo tàn đến đâu vẫn không
bao giờ có thể đàn áp dập tắt được khát vọng tự do
căn bản của con người. Nhiều cuộc xuống đường, biểu
tình rầm rộ của hàng trăm nghìn người tại các thành phố
ở những nước Cộng Sản Đông Âu vài thập niên trước
đây đã chứng minh cho điều đó. Chúng bày tỏ nhu cầu thiết
yếu của con người là dân chủ và tự do. Sự đòi hỏi của
họ không có gì mới lạ trong ý tưởng mà giản dị chỉ
là tiếng nói xuất phát từ con tim, và mong chia xẻ với mọi
người khát vọng về hai chữ “tự do”.Đúng vậy, tự do
là nguồn sáng tạo cho cá nhân cũng như tập thể trong xã
hội.
Nếu
con người sống chỉ biết có thức ăn, đồ mặc và nhà ở
không thôi như lý thuyết Cộng Sản chủ trương thì chưa trọn
vẹn. Bởi lẽ dù chúng ta có được hưởng đầy đủ các
tiện nghi vật chất trên mà thiếu không khí quý báu của
tự do thì chúng ta mới sống với một nửa con người, và
như loài vật, chúng ta chỉ nghĩ đến sự thỏa mãn các nhu
cầu thể xác mà thôi.
Tôi
nghĩ rằng phương pháp giải quyết hòa bình các chính biến
xảy ra trong khối Liên Bang Xô Viết cũ và những nước Đông
Âu Cộng Sản hàng chục năm trước đây đã dạy cho chúng
ta nhiều bài học bổ ích. Trước tiên là về giá trị của
sự thật. Mọi người dân không muốn bị đàn áp, dối trá
hay lường gạt bởi cá nhân hay tập thể. Các hành động
lừa đảo trên đã phản lại những quyền lợi căn bản tự
do và dân chủ của con người. Cho nên, mặc dù những kẻ
âm mưu lừa bịp và chủ trương dùng bạo lực để khống
chế quần chúng có thể thành công trong nhất thời, nhưng
cuối cùng họ sẽ thất bại bị lật đổ.
Trái
lại, mọi người đều ham chuộng, tán dương lẻ thật vì
nó là máu huyết nuôi sống chúng ta. Sự thật là người bảo
vệ, xây dựng nền tảng vững chắc nhất cho quyền tự do
và dân chủ. Bất luận các bạn yếu hay mạnh, mục tiêu có
ít hay nhiều người ủng hộ nói sự thật vẫn là điều
cần thiết. Rất tiếc trong sinh hoạt chính trị, nhiều nhà
lãnh đạo đã không dám nói sự thật. Đặc biệt trong vấn
đề bang giao quốc tế, chúng ta lại rất ít quan tâm đến
sự thật. Các quốc gia yếu kém thường bị những nước
mạnh điều khiển, áp đặt và khống chế, cũng giống như
hạng người đói nghèo và cô thế trong xã hội đều chịu
nhiều khổ đau dưới bàn tay bóc lột tàn bạo của giai cấp
thống trị. Mặc dù trong qua khứ, tinh thần tôn trọng sự
thật thường bị các nhà độc tài gạt bỏ đi xem như việc
làm không thực tế, nhưng vào những năm gần đây điều ấy
chứng tỏ cho thấy rằng nó là một sức mạnh vĩ đại của
quần chúng, giúp con người làm nên lịch sử.
Một
bài học ý nghĩa thứ hai mà chúng ta rút tỉa được từ các
nước Đông Âu Cộng Sản là cuộc cách mạng hòa bình. Thời
quá khứ các dân tộc bị nô lệ thường chọn phương thức
đấu tranh bạo động để được giải phóng tự do. Nhưng
sau này theo gương Thánh Gandhi của Ấn Độ và Mục Sư Martin
Luther King tại Hoa Kỳ, những cuộc cách mạng ôn hòa đã đóng
góp cho các thế hệ ngày mai tấm gương thành công sáng ngời
của quần chúng trong sự nghiệp đấu tranh bất bạo động.
Tương lai, nếu xã hội cần đến những cải cách thay đổi,
con cháu chúng ta có thể nhìn lui thành quả rực rỡ mà chúng
ta đã đạt được hôm nay, như là mẩu mực cho cuộc đấu
tranh hòa bình không đổ máu, một thành công rực rỡ chưa
từng có trong lịch sử nhân loại với sự tham dự của hơn
mười quốc gia, và hàng trăm triệu người trên thế giới.
Hơn nữa các biến cố chính trị xảy ra trong những thập
niên gần đây chứng tỏ cả hai điều mong ước tự do và
hòa bình là niềm khát vọng sâu xa chân chính của con người.
Trước
khi tìm hiểu nền trật tự thế giới nào sẽ đóng góp, phục
vụ toàn hảo nhất cho nhân loại trong thời kỳ hậu chiến
tranh lạnh, tôi nghĩ việc cốt yếu là chúng ta cần loại
bỏ ý tưởng bạo động trong mọi trường hợp như điều
căn bản cần thiết cho nền hòa bình thế giới và là mục
tiêu tối hậu của một trật tự ổn định toàn cầu.
Bất
Bạo Động Và Trật Tự Thế Giới
Hằng
ngày, qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình và trên mạng
lưới (internet), chúng ta đọc nghe và xem thấy nhiều tin tức
về khủng bố, tội ác và chiến tranh xâm lược. Những bản
báo cáo và thông tin đó đã trở thành đề tài thu hút nhiều
ký giả, độc giả cũng như khán thính giả. Tuy nhiên đa số
mọi người đều không thích sự tàn phá, giết chóc và rất
ít trong số hơn năm tỷ người trên quả đất này ham muốn
chiến tranh. Phần đông chúng ta ai cũng ước mong được sống
trong hòa bình.
Tất
cả mọi người đều mến chuộng sự yên tỉnh, bình an. Chẳng
hạn khi mùa xuân đến ngày trở nên dài, trời nắng ấm hơn,
cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, và cảnh vật trời đất xanh
tươi mát mẻ. Chúng ta ai nấy đều ưa thích và cảm thấy
hạnh phúc. Trái lại thu về từng chiếc lá vàng rơi rụng,
những cánh hoa đẹp úa tàn và nhìn xung quanh cây cối nơi
đâu cũng trơ cành trụi lá. Lòng chúng ta cảm thấy buồn
bả thê lương. Tại sao vậy? Bởi lẽ tâm chúng ta muốn nhìn
thấy cảnh trí xây dựng và phát triển chứ không thích chứng
kiến những gì phá hoại, sụp đổ hay chết chóc. Mọi hành
động hủy diệt đều chống đối lại nhân tính của con
người là luôn luôn muốn bảo vệ, phát triển và xây dựng.
Tôi
tin mọi người đều đồng ý rằng chúng ta cần khắc phục,
khống chế bạo động, nhưng muốn loại bỏ nó hoàn toàn,
trước hết nên tìm hiểu lợi hại thế nào khi chúng ta sử
dụng bạo động. Chúng ta nhận thấy rằng trong vài trường
hợp sẽ có ích lợi khi chúng ta áp dụng bạo động. Người
ta có thể giải quyết vấn đề nhanh chóng bằng bạo lực.
Tuy nhiên, cùng lúc chúng ta phải trả giá rất đắt cho kết
quả đó, nghĩa là chúng ta đã vi phạm đến nhân quyền và
quyền lợi của những kẻ khác. Hơn nữa khi giải quyết được
khó khăn này thì chúng ta lại gây ra thêm vấn đề khác.
Trái
lại, nếu mục tiêu đấu tranh được hướng dẫn bởi lý
trí sáng suốt, con người sẽ không dùng đến bạo động.
Chỉ những kẻ đầy tham vọng ích kỷ và không thể thành
đạt mục đích của mình bằng lý luận chân chính mới dựa
vào sức mạnh. Ngay cả bạn bè và thân nhân trong gia đình
khi xảy ra chuyện bất hòa, những người hiểu biết có thể
nêu lên từng điểm của vấn đề để thảo luận ôn hòa
với nhau, trong khi những kẻ thiếu bình tĩnh sáng suốt sẽ
dễ dàng nổi nóng tức giận đưa đến sự đổ vỡ thất
bại. Tánh nóng giận này là dấu hiệu của sự yếu hèn chứ
không phải sức mạnh.
Có
hai loại bạo động và bất bạo động, nhưng chúng ta sẽ
không thể phân biệt được chúng, khi quý vị xét đoán chỉ
dựa vào các yếu tố bên ngoài mà thôi. Nếu nguyên nhân thúc
đẩy là bất thiện và xấu ác thì dù hành động của các
bạn ngoài mặt có vẻ như ôn hòa tử tế, nhưng kết quả
dẫn đến vẫn là bạo động. Trái lại, nếu chủ đích nhằm
đến việc lành và thiện ý, dù cho cách hành xử có gay gắt
cứng rắn, việc làm của bạn căn bản vẫn là bất bạo
động.
Người
Tây Phương có quan niệm bảo rằng cuộc tranh đấu bất bạo
động trường kỳ của Thánh Gandhi để giành lại nền độc
lập cho Ấn Độ từ chính quyền thực dân Anh trước đây
là tiêu cực, không thích hợp với mọi người, nhưng theo
tôi, đường lối đấu tranh bất bạo động như thế lại
rất phù hợp đối với các dân tộc Đông Phương. Lý do vì
người Tây Phương thích năng động trong mọi hoàn cảnh, họ
muốn đạt được kết quả liền cho dù phải hy sinh nhiều
mạng sống của kẻ khác. Tôi nghĩ hành động như vậy thì
chẳng có lợi ích gì, mà còn gây muôn vàn khổ đau cho đồng
loại. Tôi tin tưởng rằng nếu mọi người trên thế giới
này có tâm từ bi và luôn biết thực hành đức tánh bất
bạo động trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân, thì
chắc chắn thế kỷ tương lai toàn thể nhân loại sẽ sống
trong một thế giới hòa bình và an lạc vĩnh cửu.