(Trích
lược bài phát biểu tại cuộc hội thảo "Ðạo Phật và
sự lãnh đạo về hòa bình" tổ chức tại Ulan Bato, Mông Cổ,
từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 năm 1989)
(...)
Khi loài người đang tiến dần tới ngưỡng cửa của Thế
kỷ XXI, một câu hỏi có tính cách hoàn cầu đang làm nhiều
người ưu tư lo lắng: "Kỷ nguyên sẽ là kỷ nguyên gì đây
trong lịch sử của nhân loại?" Trong những năm bản lề cuối
cùng giữa hai thế kỷ mà chúng ta đang sống, chúng ta đã
và đang rút ra những kinh nghiệm, những bài học gì, khả
dĩ làm chúng ta yên tâm hơn, tin tưởng hơn?
Trước
hết, chúng ta đã ý thức được tầm cỡ có tính cách toàn
cầu của một số vấn đề bức xúc đang đối mặt với
chúng ta. Như vậy, chúng ta sẽ biết được làm thế nào để
huy động trí tuệ và sức mạnh của nhân dân thế giới để
giải quyết một cách tốt đẹp những vấn đề đó. Thí
dụ các vấn đề chiến tranh và hòa bình, vấn đề xây dựng
một nền trật tự kinh tế mới, một nền trật tự đạo
đức mới cho thế giới, vấn đề bảo vệ môi trường của
chúng ta.
Tầm
cỡ của những vấn đề này vượt qua biên giới các quốc
gia các dân tộc, vượt ngoài tầm tay của các người chuyên
môn, của các người có quyền lực. Một vấn đề như chiến
tranh và hòa bình, quan hệ đến sự sống còn của nhân loại
không thể giao phó cho một số nhà quân sự và nhà chính trị.
Ðó là lý do giải thích tại sao các phong trào hòa bình thế
giới đã và đang lôi cuốn vào hàng ngũ của mình một số
rất đông các tầng lớp dân chúng. Gần hết các nước trên
thế giới, tất cả các lục địa, dân tộc tuổi tác, nghề
nghiệp, xu hướng chính trị và các hệ phái tôn giáo đã
và đang tham gia vào các phong trào ấy. Chỉ có một lực lượng
bảo vệ hòa bình, hùng hậu và năng động như thế, mới
có sức mạnh để chặn đứng sự nguy hiểm của một cuộc
chiến tranh hạt nhân, chiến đấu chống lại những thế lực
hiếu chiến nguy hiểm, và bảo đảm sự chiến thắng của
hòa bình và tiến bộ. Chỉ có một cái nhìn toàn cầu đối
với vấn đề chiến tranh và hòa bình mới có thể đem lại
cho các phong trào hòa bình thế giới một thắng lợi lịch
sử như vậy.
Hiểm
họa của một chiến tranh toàn cầu đã huy động được nhân
dân thế giới chống lại sự hiện hữu của chiến tranh.
Những năm cuối của thế kỷ XX đã và đang chứng kiến những
bước đi lịch sử, tiến tới một kỷ nguyên không có vũ
khí hạt nhân và không có vũ khí hóa học. Nhưng chúng ta không
được buông lơi cảnh giác. Dầu cho hiểm họa của một chiến
tranh hạt nhân được chận đứng lại, nhưng các chiến tranh
cục bộ với tất cả sự biểu hiện tàn khốc và phi nhân
vẫn còn tồn tại. Bạo lực chánh trị và quân sự vẫn diễn
ra giữa một số quốc gia, giữa nhân dân sắc tộc khác nhau,
cho đến giữa những dân tộc cùng tôn thờ lý tưởng giống
nhau, cùng một ý thức hệ chính trị như nhau. Trong những
năm gần đây, sự quan hệ giữa các quốc gia đã có một
sự thay đổi lớn theo chiều hướng tốt đẹp. Chung sống
hòa bình thông cảm lẫn nhau, đối thoại hơn là đối đầu,
thị trường thay vì chiến trường. Còn trong tình hình chính
trị, nội bộ của nhiều nước cũng có xu hướng tốt đẹp
mở rộng dân chủ, tránh áp đặt và áp lực trong lãnh vực
văn hóa và tư tưởng, coi trọng và thông cảm đối với những
tư tưởng dị biệt.
Chúng
tôi tha thiết hy vọng rằng tiến trình dân chủ hóa và nhân
bản hóa chính trị trong mối quan hệ giữa các nước, cũng
như trong tình hình nội bộ mỗi nước, sẽ được tăng cường
và đi sâu hơn nữa từ nay cho đến năm 2000. Như vậy, chúng
ta chuẩn bị cho một kỷ nguyên thật sự hòa bình, hòa bình
cho toàn thể hành tinh, không phải chỉ cho một số khu vực,
hòa bình cho toàn thể loài người, không phải chỉ cho dân
chúng sống trong một vài địa danh. Mọi hình thức chiến
tranh, không phải chỉ chiến tranh hạt nhân, cần phải loại
bỏ. Tất cả mọi biểu hiện bạo lực cần phải bị diệt
trừ một cách vĩnh viễn.
Chúng
ta thấy, và đây là một bài học thứ hai của chúng ta, mọi
vấn đề bức xúc và nguy kịch có tánh cách toàn cầu cần
phải giải quyết với cái nhìn toàn cầu và với lực lượng
toàn cầu, và cần phải giải quyết một cách sâu sắc, triệt
để từ bên trong nội tâm của mọi người, và chính ở đây,
đạo Phật với môn tâm lý học nội quán và nội tâm đặc
sắc của mình, có thể có phần đóng góp.
Trước
tiên, đạo Phật hoan nghênh mọi phong trào hòa bình và động
viên mọi Phật tử tích cực tham gia vào các phong trào đó.
Vì bảo vệ hòa bình tức là bảo vệ sự sống, là thực
hiện giới sát sanh, giới cấm hàng đầu của đạo đức
Phật giáo. Ðạo Phật nhất định chống lại mọi chiến
tranh xâm lược, vì chiến tranh xâm lược bao giờ cũng kèm
theo tước đoạt đất đai và tài sản, xâm phạm vào công
việc nội bộ của nước khác và dân tộc khác. Ðây là phạm
vào hai giới cấm quan trọng của đạo đức Phật giáo: Cấm
lấy của không cho và
cấm những hành động bất thiện.
Ðạo Phật phủ nhận mọi hành động và mọi biểu hiện
bạo lực, dưới bất cứ lý do nào, trừ trường hợp tự
vệ chính đáng.
Tất
cả Phật tử chúng tôi đều ghi nhớ lời dạy như sau của
Ðức Phật trong Kinh Pháp cú, số 5:
"Với
hận diệt hận thù,
Ðời
này không có được.
Không
hận, diệt hận thù,
Là
định luật ngàn thu."
Ðạo
Phật đề cao nỗ lực toàn thể cá nhân, hướng tới tạo
ra giữa các dân tộc giữa các quốc gia cũng như giữa con
người với nhau một bầu không khí thông cảm lẫn nhau, tin
tưởng và kính trọng lẫn nhau, loại bỏ mọi thành kiến,
như tự ty mặc cảm, tự cao tự đại, rất hại đến nhân
phẩm và giá trị con người.
Chúng
tôi, những người Phật tử xem là hết sức khẩn thiết xây
dựng một nền kinh tế mới, một nền trật tự đạo đức
mới có khả năng làm lắng dịu mọi sân hận và mọi biến
động, làm lành mạnh hóa không khí chính trị quốc tế hiện
tại, chuẩn bị cho một kỷ nguyên mới nhân đạo hơn và
có ý nghĩa hơn.
Chúng
tôi nghĩ rằng tình trạng kinh tế phân cực hiện nay, một
bên là một ít nước công nghiệp hóa, khéo phát triển và
giàu có, và một bên là đa số các nước nghèo đói và chậm
tiến, là một tình trạng xây dựng trên sự buôn bán không
công bằng, mua nguyên liệu giá rẻ mạt và bán hàng công nghiệp
với giá cắt cổ. Sự buôn bán không công bằng này không
thể kéo dài hơn nữa, vì nó nuôi dưỡng nguy cơ chiến tranh
và bạo loạn.
Chúng
tôi nghĩ rằng muốn loại trừ tình trạng kinh tế phân cực
hiện tại và xây dựng một nền trật tự kinh tế mới với
nhiều công bằng và bình đẳng hơn, chúng ta cần phải xây
dựng một nền trật tự đạo đức mới, dựa trên những
nếp tư duy đổi mới, và dựa trên một số nguyên lý nhân
bản được toàn thể loài người có thể chấp nhận.
Nếu
không có một nền trật tự đạo đức thế giới mới làm
nền tảng đạo đức, thời rất khó mà xây dựng thành công
một nền trật tự kinh tế thế giới mới. Và dầu cho có
xây dựng thành công cũng không có thể vững bền. Tình trạng
phân cực rồi sẽ được tái diễn như cũ, và có thể trầm
trọng hơn.
Vì
vậy theo ý chúng tôi, ưu tiên một số dành cho sự xây dựng
một nền trật tự đạo đức mới, dựa vào một số nguyên
lý căn bản nhân đạo, được cộng đồng thế giới chấp
nhận. Và đối với vấn đề hiện đại này, đạo Phật
với truyền thống là một đạo hòa bình, có thể có những
đóng góp có giá trị.
Chúng
tôi nghĩ rằng một trong những đóng góp lớn nhất của đạo
Phật vào nền trật tự đạo đức thế giới mới này là
thuyết "Vô Ngã". Lý thuyết này, trên bình diện đạo
đức, đóng một vai trò tích cực trong sự nghiệp xây dựng
một nếp sống đạo đức cho con người hiện đại của chúng
ta. Ðặc điểm tâm lý bệnh hoạn của con người hiện đại
là tìm kiếm các dục lạc và tích tập tài sản. Ðể đảm
bảo cá nhân hưởng thụ, con người hiện đại cố gắng
chiếm hữu cho mình mọi của cải vật chất có thể có được.
Trong xã hội, của cải vật chất có sự hạn chế, còn lòng
tham con người thời không đáy. Ðây là lý do vì sao không
thể tránh khỏi xung đột và tranh đấu giữa người với
người, giữa quốc gia với quốc gia, giữa dân tộc với dân
tộc. Nguồn gốc của chiến tranh chính nằm ở nơi đây. Với
thuyết vô ngã, chúng ta có thể nói, đạo Phật đã đào bới
lên cội rễ tất cả hiện tượng chiến tranh, các cuộc xung
đột và đối đầu. Với một cái nhìn sâu vào thuyết "vô
ngã", một Phật tử có thể sống hòa hợp và thân hữu với
tất cả mọi người. Một Phật tử một khi đã giác ngộ
sẽ thoát khỏi sự kềm kẹp của tham (Lobha) và sân
(Dosa). Con người tham đắm một vật gì cho mình, nhưng khi
tự mình không có mặt, thời lòng tham sẽ không còn đối
tượng và không có sự kích thích để tồn tại. Ðối với
sân cũng vậy. Khi cái ta bị chống đối không có thỏa mãn,
thời lòng sân sẽ nổi lên. Nhưng khi không còn cái Ngã thời
lòng sân biến mất một cách tự nhiên.
Một
danh từ khác "Lòng vị tha" có ý nghĩa tương tự, nhấn
mạnh đến sự giúp đỡ tích cực cho các người khác. Một
Phật tử đã thấm nhuần với nguyên tắc "Vô ngã" sẽ hưởng
mọi ý nghĩ, lời nói và hành động của mình đem lại hạnh
phúc và an lạc cho loài người và các loài hữu tình như là
cứu cánh và mục đích của mình. Trong khi đức Phật còn
tại thế và cả sau khi Ngài nhập diệt tại Ấn Ðộ, chỗ
đản sanh đức Phật, và trong bất cứ nước nào có đạo
Phật hiện diện, lý tưởng "Vô Ngã, Vị Tha" luôn luôn là
chuẩn mức của nếp sống đạo đức Phật Giáo, dù là đối
với người xuất gia hay tại gia. Như chúng ta đã được biết,
lý tưởng Bồ Tát của Ðại Thừa Phật Giáo chỉ là sự
nối tiếp của lý tưởng Vô Ngã Vị Tha đã được tìm thấy
trong đạo Phật Nguyên Thủy. Trong Kinh tạng Pàli của đạo
Phật Nguyên Thủy, đức Phật đã khích lệ các đệ tử của
mình như sau:
"Này
các Tỷ kheo, các người cần phải du hành, vì an lạc cho số
đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì hạnh phúc của Chư Thiên và Loài người. Các người
hãy thuyết giảng Chánh pháp tuyệt diệu trong ban đầu, tuyệt
diệu ở chặng giữa, tuyệt diệu ở đoạn cuối, đầy đủ
trong ý nghĩa và ngôn thuyết. Các người hãy đề cao đời
sống Phạm Hạnh toàn diện và thanh tịnh". (Mahavagga 19)
Ngoài
ra lý thuyết "Vô Ngã" của đạo Phật còn có ý nghĩa bản
thể luận và giải thoát luận rất sâu sắc. Mọi
sự vật trong thế giới này là vô thường, là vô ngã, là
không có thực thể, thời cứu cánh thực sự, dù là sắc
đẹp lộng lẫy, dù là danh vọng cao xa, dù là tiền rừng
bạc biển v.v... tất cả đều là vô thường, vô ngã, không
có thực thể nội tại. Không có gì cần phải tham đắm,
không có gì để vơ lấy của mình. Con người phải thấu
triệt lý vô ngã là con người giải thoát, tuy sống giữa
đời mà không bị đời trói buộc, với thái độ luôn luôn
bình tĩnh, thanh thoát, an nhiên và tự tại.
Ðức
Phật được tôn thờ như một sứ giả hòa bình tuyệt diệu.
Khi Du sĩ Dìghajànu hỏi Thế Tôn dạy những gì, đức Phật
đã giải thích rất rõ ràng: "Theo lời dạy của Ta, giữa
thế giới của Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên, trong quần
chúng Sa Môn và Bà La Môn, Chư Thiên và loài người, không
có sự tranh luận với một ai ở đời". (M.i 109a). Ngài lại
tuyên bố thêm: "Này các Tỳ kheo, Ta không có tranh luận với
đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ kheo, một
vị thuyết Chánh pháp không có tranh luận với một ai ở đời"
(Tương Ưng III, 165). Ðức Phật tuyên bố rất rõ ràng, mục
đích thuyết pháp của Ngài là không có tranh luận với các
bậc lãnh đạo các tôn giáo khác và không có tranh luận, tranh
thắng trong những lời dạy của Ngài. Ngài chỉ rõ con đường
thoát khỏi đau khổ, con đường đưa đến giác ngộ, giải
thoát. Với những ai bị lòng sân chi phối, hệ thuộc, Ngài
dạy Mettà hay lòng Từ để chinh phục lòng sân. Với
những ai thiên về làm hại người khác, Ngài dạy Karunà
hay lòng Bi để trở thành những người không làm hại
ai. Ðối với những ai không có lòng hoan hỷ trước thành
công của những người khác, Ngài dạy Mudità hay lòng
Hoan Hỷ để chúng biết như thế nào là san sẻ hạnh phúc
đối với các người khác. Ðối với những ai ai ưa thích
trả thù trả oán, Ngài dạy Upekkha hay Xả để vô hiệu
hóa sự hận thù của chúng. Như vậy, Ngài có những liều
thuốc để chữa trị nhiều chứng bệnh tâm thần và những
bệnh lý của thế giới.
Ở
Việt Nam trong quá khứ, dưới hai triều đại nhà Lý và nhà
Trần, có những ông vua kiêm Thiền sư như vua Trần Thái Tông,
từng tuyên bố ông xem Ngai Vua như chiếc giày rách. Cháu Vua
Trần Thái Tông là Trần Nhân Tông, sau khi lãnh đạo thành
công trong cuộc kháng chiến thắng lợi chống quân xâm lược
Nguyên Mông đã đắp áo cà sa, và trở thành vị sáng lập
phái Thiền Tông Việt Nam đầu tiên gọi là Trúc Lâm Yên Tử.
Vua Trần Nhân Tông có làm bài phú bằng tiếng Nôm nổi tiếng,
kết thúc bằng bốn câu thơ chữ Hán, nói lên phong thái an
nhiên tự tại của Vua, khi đối mặt với những thăng trầm
của cuộc đời:
"Ở
đời vui đạo mặc tùy duyên,
Hễ
đói thì ăn, mệt ngủ liền.
Báu
sẵn trong mình, thôi tìm kiếm,
Lặng
lòng đối cảnh, hỏi chi Thiền."
Hai câu
cuối của bài thơ ngắn này xác chứng phong thái an nhiên tự
tại của nhà Vua: "Khi đối mặt với thử thách, chúng ta giữ
tâm chúng ta an nhiên tự tại". Ở đây có nghĩa là đối với
tánh vô thường của thế giới khách quan, tâm nhà Vua luôn
luôn an nhiên tự tại, không một chút gợn sóng. Câu này cũng
nói lên một tư tưởng rất cơ bản của đạo Phật. Mỗi
con người đều tự có trong mình nền móng giác ngộ được
gọi là Phật tánh. Con người đã sẵn có trí tuệ giác ngộ
chói sáng và bừng sáng. Như vậy con người không cần hướng
ra ngoài để tìm hạnh phúc và giác ngộ.
Các
thiếu sót cơ bản của con người hiện đại của chúng ta
là chiều hướng đánh mất con người thật của mình, và
chạy theo cái Ta giả với những khao khát, thèm muốn cuồng
loạn, không bao giờ có thể thỏa mãn. Với một nếp sống
văn minh vật chất rất cao, con người hiện đại sống một
đời sống vật chất rất phong phú. Nhưng đời sống tinh
thần và nguyện vọng tâm lý của con người không được
thỏa mãn và bị dao động. Con người hiện đại luôn luôn
có cảm giác bất an dao động và mất thăng bằng. Với một
tâm lý như vậy rất dễ hướng dẫn nhiều người đi đến
ma túy các bệnh viện tâm thần và có khi đi đến tự sát.
Dĩ
nhiên đạo Phật không tán thán một đời sống túng thiếu
nghèo đói và khổ hạnh. Ðạo Phật cũng không đề cao một
đời sống chạy theo dục vọng vật chất, thật sự đê tiện,
hạ liệt và đầy thú tánh, làm con người trở thành ươn
hèn về thể xác, hôn ám, ngu đần về trí tuệ. Trái lại,
đạo Phật luôn luôn đề cao an lạc và hạnh phúc tinh thần,
một đời sống có đạo đức cao đẹp hướng thượng, một
sự rạng rỡ hạnh phúc giác ngộ và giải thóat. Ðạo Phật
khuyến khích mọi người trở về với con người thật của
chính mình, với bản tánh chân thật của chính mình, trở
về với đời sống hòa hài với xã hội, hòa hài tự mình
với thiên nhiên, giữa thân với tâm, giữa từ bi với trí
tuệ, giữa cảm giác với lý trí. Ðạo Phật xác nhận mọi
người đều có thể thành tựu một đời sống nội tâm hòa
hài như vậy, nếu con người ước muốn và hành động theo
lời Phật dạy, phù hợp với một nếp sống Phật giáo đầy
đủ giới hạnh và trí tuệ. Một đời sống tránh xa hai sự
cực đoan, một bên là hưởng thọ các dục hèn mọn hạ liệt,
một bên là hành hạ xác thân, hành trì khổ hạnh, một nếp
sống chói sáng trong suốt, hướng thượng, giới hạnh cao
đẹp, một nếp sống mà mọi người, từ phương đông, phương
tây, nam và nữ, trẻ và già, xuất gia hay tại gia đều có
thể sống và hướng đến. Chính là nếp sống thánh đạo
tám ngành có danh tiếng, một nếp sống bao gồm cả giới,
định và tuệ.
Một
đời sống đạo đức như vậy sẽ đem lại thiền định
nội tâm, và một thiền định nội tâm như vậy sẽ bảo
đảm sự sáng suốt của trí tuệ, và một người có trí
tuệ có thể nhìn sự vật như Thật. Chính nhờ thái độ
như vậy, con người có khả năng làm chủ bản thân, làm chủ
sự vật khách quan, chớ không phải nô lệ cho chúng. Thật
đáng tiếc, thông điệp Giới-Ðịnh-Tuệ của đức Phật
đã trở thành nạn nhân của chính con người, đã bị phủ
lên trên bao nhiêu lớp màn huyền bí, mê tín, dị đoan, kinh
viện, khiến cho tinh thần và lời văn của bản thông điệp
trong sáng và giản dị đó đã bị xuyên tạc, bóp mép, trở
thành đổi khác, xa lạ với chính ngay con người.
Nay
đã đến lúc các nhà học giả, các Phật tử hãy trả lại
cho những nguyên lý căn bản của đạo Phật tánh trong sáng
và giản dị nguyên thủy. Chính nhờ tánh trong sáng và giản
dị này, các nguyên lý căn bản của đạo Phật mới có thể
đi sâu vào lòng người, mới được đông đảo nhân dân thế
giới tiếp thu trở thành lẽ sống căn bản của mình, biến
thành những hành động về thân, về lời, về ý của mình.
Chúng trở thành một sức mạnh vật chất vô địch, biến
đổi thế giới chiến tranh và bất ổn này thành một thế
giới hòa bình và hạnh phúc, và như vậy biến đổi kỷ nguyên
thứ XXI này thành một kỷ nguyên của con người, một kỷ
nguyên trong ấy các giá trị nhân bản là thước đo, là tiêu
chuẩn của mọi giá trị. Hạnh phúc hay không hạnh phúc của
con người sẽ trở thành sợi chỉ đỏ, con đường ranh giới,
phân biệt rõ ràng thật hay giả, thành công hay thất bại,
chánh kiến và tà kiến, một kỷ nguyên trong ấy con người
trở thành vị quan tòa sáng suốt tối thượng, đánh giá mọi
hệ thống chính trị và xã hội xem hệ thống nào là ưu việt,
đầy những sức sống, hệ thống nào đã lỗi thời và phải
rút lui khỏi vũ đài lịch sử.
Phương
châm hướng nội, quay về với chính mình, với con người
thật của mình, không được hiểu lầm là đạo Phật kêu
gọi một nếp sống tiêu cực chán đời và phi xã hội. Trái
lại, đó là phương châm thiết thực nhất, sống động nhất
và tích cực nhất để cải tạo xã hội và thế giới. Ðạo
Phật cũng đã nói đến xây dựng Niết bàn ngay trên thế
giới này. Toàn thể vấn đề xoay quanh câu hỏi: "Phải bắt
đầu từ đâu?" Bắt đầu từ xã hội để cải tạo xã hội
chăng? Bắt đầu từ thế giới để cai tạo thế giới chăng?
Ðạo
Phật quan niệm rằng bắt đầu như vậy là không thiết thực,
như vậy là đặt cái xe trước con vật. Ðạo Phật chủ trương
rằng con người phải bắt đầu với chính mình, làm cho con
người hoàn toàn ý thức được chính mình, con người phải
hiểu chính mình thay cho đổi chính mình, tự hoàn thiện mình,
tự cải tạo mình cho được tốt đẹp hơn, trong một sự
chiến đấu không mệt mỏi, trong từng giờ trong từng ngày,
trong toàn bộ cuộc sống của mình. Chỉ có như vậy xã hội
và thế giới mới trở thành lành mạnh hơn, tốt đẹp hơn
và hiền thiện hơn. Nếu không có con người lành mạnh, làm
sao chúng ta chờ đợi một sự quan hệ xã hội lành mạnh,
thật sự đạo đức, hiền thiện và cao đẹp? Nếu những
tư tưởng hòa bình, hạnh phúc, hòa hợp không có thấm nhuần
sâu đậm vào trong nội tâm của mỗi con người, thời làm
sao có thể chờ đợi một thế giới hòa bình, hạnh phúc
và hòa hợp được?
Kính
thưa quí vị,
Cho
phép chúng tôi trích dẫn một vài lời dạy của Ðức Phật,
những lời rất đơn giản nhưng tràn đầy trí tuệ và từ
bi:
"Chiến
thắng sinh thù oán,
Thất
bại chịu khổ đau.
Sống
tịch tịnh an lạc.
Bỏ
sau mọi thắng bại."
(Pháp
cú 201)
Người
Phật tử thấu triệt lý vô ngã, không đặt mình đối lập
với một người nào khác, không tranh giành hơn thua với những
người khác. Chính ở đây giải thích thái độ thăng bằng,
thanh thoát, đứng lên trên tất cả, bỏ ra đằng sau mọi
thắng bại. Người Phật tử xem quan trọng bậc nhất là sự
chiến thắng đối với tham sân si đang tiềm ẩn trong chính
mình. Người Phật tử xem chúng là những kẻ thù từ bên
trong. Không những chúng làm bản thân chúng ta đau khổ, chúng
còn là nguồn gốc sầu muộn và đau khổ cho người khác.
"Tự
thắng tốt đẹp hơn
Hơn
chiến thắng người khác.
Người
khéo điều phục mình,
Thường
sống tự chế ngự".
"Dầu
tại bãi chiến trường,
Thắng
ngàn ngàn quân địch
Tự
thắng mình tốt hơn
Thật
chiến thắng tối thượng".
(Pháp
cú 104-103)
Ðể
kết thúc bài thuyết trình chúng tôi muốn giới thiệu một
nền trật tự đạo đức mới, được xây dựng từ những
lời dạy Ðức Phật, và được áp dụng trong thời điểm
hiện tại, nếp sống đạo đức này sẽ làm giảm thiểu
những nguy cơ một chiến tranh hạt nhân và mở đầu một
kỷ nguyên trong đó hòa bình, an toàn và hòa hợp sẽ trở
thành những đặc điểm thường hằng nổi bật nhất, và
các giá trị con người được tán dương và tôn trọng:
-
Hiến
dâng đời sống của chúng ta cho hạnh phúc và an lạc của
mọi loài hữu tình, phục vụ cho hòa bình, giải trừ quân
bị và tình huynh đệ quốc tế.
-
Sống
một đời sống bình dị, lành mạnh và biết đủ, để hiến
nhiều thì giờ, nhiều năng lực cho hòa bình và hạnh phúc
của mọi loài hữu tình.
-
Từ
bỏ mọi hành động đưa đến xung đột và chiến tranh, thực
hiện mọi hoạt động đưa đến hòa bình hòa hợp và thông
cảm quốc tế.
-
Tôn
trọng đời sống của mọi loài hữu tình, tôn trọng đời
sống hành tình của chúng ta, tôn trọng môi trường sống
trong sạch của chúng ta.
-
Chung
sống hòa bình, cộng đồng hợp tác, trong tinh thần hòa hợp
quốc tế và tình huynh đệ con người.
(Thích
Minh Châu, 1989)