Khi
được vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước sau chiến thắng
quân Tống, Thiền sư Pháp Thuận (915-990) đã trả lời: “Quốc
tộ như đằng lạc. Nam thiên lý thái bình. Vô vi cư điện
các. Xứ xứ tức đao binh”. Đây là câu trả lời nghiêm
túc và dũng mãnh, bởi nó vượt ra khỏi các suy nghĩ logic
thông tục. Vượt ra khỏi những suy nghĩ thông tục vì vấn
đề quan trọng và thường trực của dân tộc là luôn luôn
phải sống trong tình trạng chiến tranh (nội chiến và ngoại
xâm).
Nghiêm
túc và dũng mãnh vì điều đó được nói với một người
đứng đầu đất nước. Chúng ta thấy cách nhìn về vận
nước của Thiền sư Pháp Thuận một mặt đã thoát khỏi
cái nhìn lấy chiến tranh làm điểm quy chiếu cho sự vận
động của lịch sử, mặt khác không xem chiến thắng là điểm
đến duy nhất của thái bình.
Trước
khi đi vào tư tưởng của Thiền sư Pháp Thuận, chúng ta đọc
lại lời hỏi đáp của Đức Phật và Tôn giả Tu Bồ Đề
trong kinh Kim Cương: Đức Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề: “Ông
nghĩ sao, một vị A la hán có nghĩ rằng mình đắc quả A la
hán chăng?”. Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Đức Thế Tôn!
Không. Tại sao vậy? Bởi vì một vị A la hán không thấy mình
chứng đắc quả A la hán mới gọi la A la hán”…
Câu
trả lời của Tôn giả Tu Bồ Đề không có bóng dáng của
người chứng đắc. Cũng như vậy, câu trả lời của Thiền
sư Pháp Thuận không có bóng dáng của người chiến thắng.
Tức là đã về nhà rồi thì đừng mất công hỏi con đường.
Đã qua sông rồi thì đừng phí sức vác chiếc thuyền. Ngay
từ thời xa xưa, các bản kinh, sử thi của Đông và Tây đều
thống nhất cho rằng, chiến tranh dù là chính nghĩa hay phi
nghĩa thì hậu quả nhân đạo, nhân văn để lại cho con người
đều hết sức nặng nề. Có nghĩa rằng, nói đến chiến
tranh là nói đến sự rối loạn xã hội. Thiền sư Pháp Thuận
gợi ý cho vua Lê Đại Hành giữ thái độ “vô vi” để
tập trung sức lực vào xây dựng đất nước, bởi chỉ có
trụ vào chỗ “vô vi” thì cái ý nghĩa thanh bình mới thực
sự có giá trị. Nói như Đạo gia: “Mất một mảy lông mà
có lợi cho “thiên hạ” cũng không làm”, bởi có “làm”
là có góp cho phần “tranh” đó tăng lên. “Thiên hạ”
là ai? Ai làm cho ai? Ai tranh với ai? Phải bước ra ngoài chữ
“ai” đó thì mới có câu trả lời thích đáng. Và chỉ
có tu vô tu, hành vô hành thì mới có thể thực sự “vong
nhị kiến”. Nói như Thiền sư Huyền Quang: “Vong thân, vong
thế dĩ đô vong”. Tạo ra sự thanh bình cho mọi người không
phải để nổi sử, sôi danh…
Lịch
sử cho thấy, Trung Quốc thường xuyên tiến hành những cuộc
xâm lăng Việt Nam. Đó là tình thế khách quan, nhưng xảy ra
với ai? Cố nhiên là với một dân tộc. Có xâm lấn thì có
bảo vệ, nhưng ai bảo vệ ai? Khó mà có câu trả lời công
bằng và nghiêm túc cho những toan tính “vì mình”. Chính
vì vậy mới có người quyết tâm bảo vệ dân tộc đến
cùng, có người “cõng rắn về cắn gà nhà”, có người
buông xuôi… Ngoài những diễn biến khách quan, nội lực dân
tộc, còn có những diễn biến “té nước theo mưa”, “may
mắn” và đôi khi “láu cá”, nhờ vậy mà lịch sử cũng
có phen được điểm tô. Nhưng dù thế nào, mọi điều cũng
nhanh chóng cần phải được chuẩn hoá, chuẩn hoá từ trong
cách nghĩ, cách đi đứng, nói năng và ra các quyết định
hành chính. Trong Hậu tự huấn, Nguyễn Trãi dạy thái tử:
“Thi hành nên gắng sức, chăm chỉ chớ ham vui. Hoà thuận
tôn thân, nhớ giữ một niềm hữu ái, thương yêu dân chúng,
nghĩ làm những việc khoan nhân. Chớ thưởng bậy vì tư ân,
chớ phạt bừa vì tư nộ. Đừng thích tiền của mà buông
tuồng xa xỉ, đừng gần thanh sắc mà bừa bãi hoang dâm. Cho
đến những việc dùng nhân tài, nghe can gián, ra một chính
sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm,
đều giữ chính trung…”. Và ngay cả cái mong ước “Bốn
dân nghiệp có cùng cao thấp. Đều hết làm tôi thánh thượng
hoàng” của ông cũng không có gì là quá đáng. Nhưng cái
điều minh quân lương tướng từ nghìn xưa vẫn còn là khát
vọng. Không những thế, chính ông và dòng tộc của ông đã
phải trả giá cho những khát vọng chính đáng ấy.
Nhưng
ngược thay, cũng trong thời điểm đó, lịch sử dân tộc
có một bài học khá sâu sắc cho vấn đề chiến tranh và
hoà bình: “Hoàn Kiếm”. Nếu lịch sử không cố tình viết
theo một ý thức “bào chữa” hành vi, thì hành động hoàn
kiếm đã đạt và đã đẹp đến mức “vô vi”, “tức
đao binh”. Nhưng nếu không phải vậy thì rất có thể xảy
ra hai trường hợp, một là tự mình ý thức việc dùng “kiếm
thần” không còn cần thiết nữa nên trả lại, hai là bị
đòi lại “kiếm thần” do sử dụng để thanh trừng lẫn
nhau, sai với mục đích trị quốc an dân.
Trong
bài phú “Trảm xà kiếm” có đoạn: “Kiếm ni, kiếm ni
là vật chẳng lành, bậc thánh túng kế với dùng đến mi,
phải đâu vật quý…”. Hoá ra, nhận thức được kiếm là
“vật chẳng lành” ấy không xa lạ gì với con người. Nhưng
vấn đề không phải ở “cái kiếm” mà ở “người cầm
kiếm”. Riêng cái kiếm để đó thì chẳng thể hại được
ai, nhưng động cơ của người cầm kiếm mới nói lên chuyện
lành hay dữ. Dân tộc đã từng được thần Kim Quy “cho mượn”
một cây kiếm, dĩ nhiên nó có giá trị hơn cả thượng phương
bảo kiếm vì đó là “kiếm thần”. Nhưng những điều ngay
gian, chính tà xưa nay vẫn chẳng có lịch sử nào viết kịp.
Phục tùng là ngay, là phe ta; chống đối là gian, là phe giặc.
Không có một tương quan nhân bản nào thoát khỏi điều đó,
nên công và tội, người hiểu thì ít, người “méo mó”,
bào chữa thì nhiều. Mà đã là chuyện của “cõi người
ta”…, thì kiếm thần nhiều khi cũng phải “thua” quyền
thần, gian thần…
Vua
Lê Đại Hành vì hiểu được mọi vận mệnh không nằm trong
quyết định của một bộ óc đặc thù nào nên mới hỏi
Thiền sư về vận nước. Thiền sư lại đặt vận nước
vào bài giải “vô vi”, có nghĩa rằng nằm ngoài thắng thua,
được mất, và dĩ nhiên là nằm ngoài thù hận, định kiến…
Vận nước là vận nhân, vận dân mà chiến tranh, thiên tai,
dịch bệnh luôn luôn chỉ ra rất nhiều những bất ổn trong
ứng xử giữa con người và con người, giữa cá nhân và cộng
đồng. Chính vì vậy, vận nước không xa rời mệnh người.
Lúc nào mệnh người trở nên mong manh thì vận nước khó
hưng thịnh và bền vững.
Nguyễn
Trãi cũng đã từng phát biểu về thế nước: “Tuy từng
lúc mạnh yếu khác nhau. Song hào kiệt đời nào cũng có”.
Hào kiệt là chí khí của dân tộc, không phải sản phẩm
độc tôn và lớn lao của bất kỳ triều đại nào. Đó là
một khái quát mang tính quy luật khi các điều kiện lịch
sử xã hội hội đủ và các thế “phò”, “tranh” đã
sẵn sàng. Nhưng lịch sử là một diễn biến có ý thức.
Cho nên câu hỏi đặt ra là, những hào kiệt đó phục vụ
ai, vì mục đích gì? Trước Nguyễn Trãi, Thiền sư viên Thông
(1080-1151) đã trả lời vua Lý Thần Tông về cách trị nước
an dân: “Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan. Được người
thì nước trị, mất người thì nước loạn… Chưa từng
có ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng
tiểu nhân mà bị tiêu vong… Sửa mình thì cẩn thận ở trong
lòng, run sợ như giẫm trên băng mỏng. Yêu dân thì yêu mến
người dưới, cẩn thận như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn.
Làm đúng thế thì nước không thể không hưng. Làm trái thế
thì nước không thể không vong…”.
Bước
ra ngoài những quan kiến sẵn có, Thiền sư Pháp Thuận nhấn
mạnh vào tâm điểm “vô vi”. Đã “vô vi” thì không có
“ai thắng ai”, “ai thua ai”. Đã “vô vi” thì không có
ai phục vụ ai. Đã “vô vi” thì không có tham vọng ai đánh
đổ ai… Còn mang nặng tâm lý thắng thua thì còn có chiến
tranh, có binh đao, có việc ngấm ngầm chuẩn bị binh đao,
thế lực và những rắp tâm điêu linh. Cách ứng xử “vô
vi” là một “biện chứng vong thân”, làm mà không có lòng
mong cầu, làm mà không thấy người lam và kẻ được làm.
Đó chính là “Hậu kỳ thân nhi thân tiền, ngoại kỳ thân
nhi thân tồn” (Đặt mình ra sau thì mình lên trước, đặt
mình ra ngoài thì mình còn”. Đó chính là “Bất thượng
hiền sử dân bất tranh” (Không đề cao “người hiền”
khiến dân không tranh giành nhau). Bởi cả bên thắng và bên
thua đều muốn kéo “dân” vào cuộc, nên sự tranh thủ lớn
nhất của mọi thế lực là “dân”. Ai cũng phần nào ý
thức được việc chở thuyền và lật thuyền là ở dân.
Nhưng “dân” trong thời chiến và “dân” trong thời binh
không bao giờ hoàn thiện hay đồng nhất trong nhận thức đối
tượng qua tác dụng “chở” và “lật”. Chính vì thế,
“dân” là một liều thuốc thử cho những tham vọng quyền
lực, chính trị…
May
thay, mọi kết cấu xã hội, mọi thành phần ưu liệt, mọi
ranh giới địa vị… đều được nhà Phật khái quát bằng
hai từ “chúng sinh” (tập chúng duyên sinh và tập chủng
duyên sinh). Trong khi “sống với nhau”, trật tự ở mặt
này, đảo lộn ở mặt kia và ngược lại đều là những
diễn biến khác nhau của các trạng thái tâm thức, không phải
là “định mệnh”, càng không phải là những mô hình “tiến
bộ” hay “lạc hậu”. Chưa bước vào cửa vô vi thì còn
có ta có người, có thắng có thua, có sang có hèn…, và không
thể sống với nhau một cách thật bụng. Dĩ nhiên, cái thanh
bình ấm no không bao giờ là tuyệt đối, bởi việc sống
chết của con người luôn nằm trong giới hạn, việc thịnh
suy của dân tộc cũng là lẽ vô thường. Và người nào càng
sớm nhận ra điều đó thì càng đến gần với “vô vi”.
Trong
“cõi người ta”, chỉ vì không có động cơ “vô vi” nên
lịch sử “chuộng kiếm” mới dày lên, kiếm dùng để bảo
vệ người cũng nhiều mà người chết bởi kiếm cũng không
ít, cho nên kiếm mới đầy trong thiên hạ và đầy cả trong
bụng người. Sau chiến thắng quân Tống, những vết thương
chiến tranh, những mất mát di sản, những thiếu hụt văn
hoá, những thương tổn tinh thần còn đó, nên Thiền sư Pháp
Thuận không khuyên vua “bế quan toả cảng” hay vội vã dựa
thế đến “cầu hoà” với nước này, “giao hảo” với
nước kia… mà Thiền sư khuyên vua đặt mình vào chỗ “vô
vi” để bồi dưỡng lại lòng nhân, sức dân và nội lực
dân tộc. “Vô vi” là chấm dứt ảo tưởng binh đao, ảo
tưởng tranh danh đoạt lợi; là hoà kỳ quang đồgn kỳ trần…
Nếu không có một điểm tựa cho vận nước, không có nội
lực tự thân, không thể đặt mình vào chỗ “vô vi”, thì
cho dù “món ngon, vật lạ” có khắp trong trời đất Đông-Tây,
nhưng “thuốc bổ” dành cho một thể trạng suy, nào có ích
gì? Bài trả lời về vận nước của Thiền sư Pháp Thuận
đáng để suy ngẫm. Tư tưởng lớn của một nước nhỏ bé
cũng là ở đây.
(Văn
hóa Phật giáo số Phật đản 2551)
05-29-2007
04:50:24