25
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai mươi lăm
Hôm
nay là ngày 20 tháng hai năm 1994. Chúng ta kết thúc khoá tu mùa
Đông tại Làng Mai.
Chúng
ta đã bắt đầu khóa tu bằng Kinh Chuyển Pháp Luân. Trong bài
pháp thoại này Bụt nói đến Bốn Sự Thật và con đường
của Tám Sự Hành Trì Chân Chính. Trong suốt ba tháng qua chúng
ta đã học và thực hành giáo lý của Bốn Sự Thật và con
đường Tám Sự Hành Trì Chân Chính. Hôm trước chúng ta có
học một câu trong Luận Ngữ, đức Khổng Tử nói: Học nhi
thời tập chi, bất diệc lạc hồ, nghĩa là học mà được
thực tập hàng ngày, đó chẳng phải là niềm vui hay sao? Câu
đó rất hay. Chúng ta được học kinh, được nghe pháp thoại,
chúng ta lại có vô số cơ hội để đem các điều đó ra
thực tập trong đời sống hàng ngày. Học nhi thời tập chi
bất diệc lạc hồ, câu này ta cũng nên viết lên để treo
ở thiền viện.
Ai
tu học mà không nắm vững được nguyên tắc Tứ Diệu Đế,
không biết cách áp dụng Bát Chánh Đạo để giải quyết
những khổ đau trong đời sống hàng ngay thì cũng như người
muốn làm đậu hũ nhưng chưa có tay nghề, hễ nói sắp làm
đậu hũ là cảm thấy lúng túng. Các sư chú và sư cô nào
đã nắm vững nghệ thuật làm đậu hũ thì khi nghe nói tới
việc làm đậu hũ trong lòng sẽ có sự bình an vô úy. Biết
rằng ta có thể làm được việc đó, thành ra ta không sợ.
Cũng vậy, chúng ta chỉ sợ hãi cảnh khổ đau, chỉ sợ hãi
nỗi khó khăn, khi chúng ta chưa nắm vững được nguyên lý
Bốn Sự Thật, và chưa nắm vững được phương pháp áp dụng
tám chi phần của Bát Chánh Đạo vào đời sống.
Nguyên
tắc Tứ Diệu Đế là nguyên tắc trị liệu trong y học. Ngưòi
y sĩ trước hết phải nhận diện chứng bệnh. Phải biết
bệnh đó là bệnh gì, phải thấy được bản chất và hành
tướng của bệnh, rồi tìm hiểu căn do của chứng bệnh để
khám phá phương pháp làm cho bệnh ngưng lại. Ngưng lại tức
là Diệt Đế, Sự Thật thứ ba. Và những phương pháp để
làm bệnh ngưng lại là Sự Thật thứ tư. Đạo Đế. Người
thầy thuốc cũng thực tập Tứ Diệu Đế trong phạm vi y khoa.
Trong cuộc đời, niềm đau khổ của ta là một chứng bệnh.
Lo
âu là một chứng bệnh. Sợ hãi là một chứng bệnh. Cô đơn
là một chứng bệnh. Phải nhận diện, phải thấy được
hành tướng, thấy những nguyên do xa gần của bệnh. Chấm
dứt bệnh bằng con đường của Tám Sự Hành Trì Chân Chánh.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ (Sammyutta Nikaya), nhiều thầy đã nói
vể nội dung tương tức của giáo lý Bốn Sự Thật. Như thầy
Gamvapatti đã nói rằng nếu ta thấy được Khổ Đế thì ta
thấy được ba Đế khác là Tập Đế, Diệt Đế và Đạo
Đế.
Nỗi
khổ của ta là nỗi khổ nào? Nỗi khổ đó có phải là tâm
trạng ưu uất (depression), xao xuyến lo âu (anxiety), hay là sự
sợ hãi thiếu an ninh thường trực? Nỗi khổ đó có thể
là nỗi thất vọng vì cảm tưởng bị cuộc đời ruồng bỏ,
ngược đãi, đày đọa; là cảm tưởng một mình mình đang
gánh chịu mọi bất công của xã hội. Ta phải trực tiếp
nhìn vào nỗi khổ ấy để tìm thấy được bản chất của
nó. Do đó phải tu tập chi phần đầu tiên của Bát Chánh
Đạo là Chánh Kiến.
Ta
phải có Chánh Kiến về nỗi khổ của chúng ta. Phải sử
dụng niệm lực, sức mạnh của chánh niệm để tạo nên
hào quang chiếu vào sự thật thứ nhất, để nhìn thấy rõ
ràng những hành tướng và bản chất của cái khổ. Thường
thường chúng ta không làm như thế, vì ai cũng có khuynh hướng
tự nhiên là chạy trốn nỗi khổ. Cái khổ có mặt ở đó
nhưng ta quen tìm cách che phủ, ngụy trang, làm như nó không
có. Giống như một con đà điểu trước mối nguy thì chúi
đầu vào trong cát. Chúng ta phải có Chánh Kiến về Khổ,
phải dám đối diện trực tiếp với cái khổ của chính mình.
Việc
đầu tiên phải làm là dùng Chánh niệm và Chánh định để
can đảm nhìn thẳng vào nỗi khổ của mình. Sự quán chiếu
cho chúng ta thấy rõ bản chất của khổ, đó là Chánh Kiến.
Ta tìm hiểu những nguyên do gần xa nào đã đem tới khổ đau
trong hiện tại. Thường thường ta chỉ quy tội cho một nguyên
do nào đó. Chúng ta nói vì người này, hay là vì hoàn cảnh
đó mà ta khổ. Thường thường ta tìm một nguyên do ở ngoài
ta. Đó không phải là quán chiếu. Quán chiếu là phải can
đảm sử dụng chánh niệm và chánh định, chuyên cần không
ngưng nghỉ, tức là phải có chánh tinh tấn. Quý vị sống
trong thời đại mới, có bút mực, có máy vi tính, quý vị
có thể dùng những dụng cụ đó để ghi lại rõ ràng những
nguyên do xa gần đã đưa tới nỗi khổ đau của quý vị và
để quán chiếu từng đề mục trong đó. Có những nguyên
do trong ta, bắt nguồn từ thân thể, tâm lý, cách sống hay
cách tiếp xử với xã hội. Nguyên do có thể bắt đầu từ
cha mẹ, từ ông bà, tổ tiên, từ những người bạn của
mình, từ tình trạng đất nước… Ta liệt kê tất cả những
nguyên do gần xa đã đem đến khổ đau cho ta. Với chánh kiến
ta sẽ thấy những nguyên do ấy trùng trùng vô tận. Bây giờ
đến phương pháp thực tập giải bớt khổ đau. Nếu biết
rằng nỗi khổ kia đã được nuôi dưỡng bằng những chất
liệu nào thì chúng ta tìm cách cắt đứt nguồn thực phẩm
tạo khổ đó đi. Bụt nói tới bốn nguồn thực phẩm. Trước
hết là đoàn thực, thức ăn đưa vào cơ thể bằng đường
miệng, thứ hai là xúc thực, đi vào bằng sáu giác quan. Nó
đã mang theo những độc tố gây ra bệnh khổ. Thứ ba là tư
niệm thực, tức là những mơ ước, tham vọng, lý tưởng
làm mình tham đắm. Và thứ tư là thức thực tức là chính
tâm ta đã tạo tác ra thực phẩm ở trong tàng thức. Tâm ta
đã nấu nướng, đã tự nuôi dưỡng mình và tự đầu độc
mình bằng các món ăn khiến cho chứng bệnh đã phát xuất.
Người
thầy thuốc bao giờ cũng phải tin là có cách trị bệnh. Tín
lực là sức mạnh đầu tiên trong ngũ lực. Người khổ đau
cũng phải tin rằng có những phương pháp chấm dứt khổ đau
bằng sự hành trì với thầy và bạn, gọi là chánh pháp.
Không tin thì không có năng lực chữa trị. Nhận diện được
những nguồn thực phẩm nào đã gây đau khổ hay tiếp tục
nuôi dưỡng khổ đau, ta quyết định cắt đứt. Đó là sự
thực tập các giới, trong phạm vi chánh ngữ, chánh nghiệp,
và chánh mạng. Chánh ngữ là lời nói chân chánh, chánh ngữ
cũng là chánh thính, tức là biết lắng nghe. Hàng ngày chúng
ta nói những câu không từ ái, làm ung hoại khung cảnh chung
quanh. Và hoàn cảnh bị ung hoại sẽ truyền lại cho ta những
chất độc khác. Cho nên tà ngữ và ác ngữ là một loại
thực phẩm cần phải trừ bỏ. Thực tập chánh ngữ là để
thay thế dần ác ngữ và trừ bỏ ác ngữ đi. Chánh nghiệp
là hành động chân chánh. Bằng lời nói và hành động của
mình ta có thể làm ung hoại khung cảnh cuộc sống. Nếu một
dòng sông bị ô nhiễm thì cá trong dòng sông sẽ chết. Nếu
hoàn cảnh gia đình và hoàn cảnh xã hội của chúng ta đã
bị nhiễm độc thì chúng ta cũng sẽ bệnh, sẽ khổ. Vì vậy,
ta phải thực tập chánh nghiệp.
Trong
Bát Chánh Đạo còn có chánh mạng, tức là những phương tiện
sinh nhai chân chánh. Phương thức mưu sinh của ta có thể gây
độc hại cho đời sống chung quanh. Những độc tố đó sẽ
trở lại tác hại thân và tâm ta. Có những nghề bắt buộc
phải sát sanh, bắt buộc làm hư hỏng và ô nhiễm sinh môi,
có những nghề thất đức. Nếu ta làm một nghề có tác dụng
gây khổ đau cho chúng sanh và áp bức người khác thì trái
tim và tâm thức của ta cũng sẽ bị nhiễm độc. Có những
người làm giàu bằng những nghề không chính đáng, rồi họ
đi chùa, đi nhà thờ và cúng những món tiền rất lớn. Sự
cúng dường phát xuất từ sợ hãi, từ mặc cảm tội lỗi,
mà không phải từ ý chí muốn đem lại hạnh phúc và muốn
làm vơi bớt khổ đau. Khi nhà thờ hoặc nhà chùa nhận những
số tiền lớn như vậy, thì phải thấy rằng động cơ nào
đã khiến cho những đại thí chủ đó đến cúng dường.
Phải làm thế nào để cứu chuộc họ, mở con đường để
họ thoát khỏi vòng nghiệp chướng. Những người đó là
những người cần được cứu giúp, cần được giáo hóa
nhiều hơn hết.
Tất
cả những hành động và lời nói của chúng ta luôn luôn trở
về ảnh hưởng lại chúng ta. Hành trì giới luật có nghĩa
là nói có chánh niệm, hành động có chánh niệm, mưu sinh
có chánh niệm. Trong khi thực tập chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chúng ta sử dụng chánh niệm. Chánh niệm là bó
đuốc soi sáng, là tiếng chuông nhắc nhở. Để mỗi khi chúng
ta nói một lời không phải là chánh ngữ thì chúng ta biết
rằng đó không phải là chánh ngữ. Khi chúng ta hành động
không chân chánh thì chánh niệm báo cho biết rằng đó không
phải là chánh niệm. Cũng nhờ chánh niệm mà ta biết phương
tiện sinh sống của ta là chánh mạng hay tà mạng. Thực tập
chánh niệm từng giây phút không ngơi, đó gọi là chánh tinh
tấn. Chánh tinh tấn là làm mọi cách để cho những hạt giống
thiện, hạt giống của hạnh phúc và của từ bi được tưới
tẩm mỗi ngày. Có chánh niệm ta sẽ đạt tới chánh định.
Và niệm, định đi với tinh tấn sẽ đưa tới chánh kiến,
tức là cái thấy rõ ràng, là tuệ giác.
Các
tổ xưa nói rằng khi thấy rằng được một sự thật trong
bốn sự thật thì chúng ta thấy được ba sự thật khác.
Điều này chúng ta phải chiêm nghiệm, phải thực tập. Can
đảm đối diện với khổ đau thì ta có can đảm đi tìm những
gốc rễ của khổ đau, có thể nắm được sự thật thứ
hai là tập đế. Như thế là đã đi được nửa đường.
Nhận diện được những nguyên do gây khổ đau rồi, ta biết
cần cắt đứt những nguồn thực phẩm đưa tới khổ đau.
Trong lúc thực tập, ta cần tới anh, tới chị, tới em, cần
tới bạn, cần tới tăng thân. Không thể thực tập như sống
trên một hải đảo lẻ loi được. Chúng ta nhờ vào người
khác, rồi cũng yểm trợ cho những người khác thực tập.
Nắm được nguyên tắc Tứ Diệu Đế là nắm được nguyên
tắc của hành động. Trong thời đại mới chúng ta có thể
dùng bút, mực để thiền quán. Chúng ta ghi trên giấy những
hành tướng, những nguyên do của các niềm đau nỗi khổ.
Chúng ta hỏi bạn bè, hỏi sư anh, sư chị, nhờ thế chiếu
rõ hơn vào tình trạng của mình. Và nhờ sự soi chiếu của
tăng thân mà chánh kiến ta càng sáng, Tu không có nghĩa là
chỉ sử dụng niệm, định, tuệ của mình. Phải biết dủng
niệm, định, tuệ của thầy, của bạn. Có những điều sờ
sờ trước mắt mà ta không thấy, trong khi ấy, một em bé
có thể trông thấy. Đứa bé không chủ quan, không bị giam
hãm trong những thành kiến, và tập khí. Ý kiến, nhận thức,
tri giác là một nhà tù để mình tự giam mình. Có người
mang tri giác sai lầm mười năm, hai mươi năm mà không thấy
được nhiều điều rất đơn giản, những điều mà một
em bé năm bảy tuổi cũng có thể thấy được.
Cho
nên trong công trình quán chiếu ta phải có can đảm đặt câu
hổi. Và sẽ có những câu trả lời rất bất ngờ. Nỗi khổ
của chúng ta có thể từ bên ngoài đi tới, từ ông bà từ
tổ tiên, từ hoàn cảnh xã hội gây ra, hay chỉ vì ta không
may mắn. Nhưng cũng chính tại chúng ta mà một căn nguyên nhỏ
có thể trở thành một đầu mối lớn gây nên đau khổ. Có
những người mang căn nguyên như vậy, nhưng nhờ hiểu biết
và tu tập nên không làm cho nỗi khổ lớn thêm và nặng nề
thêm. Đó là quán chiếu về tập, về nguồn gốc của khổ
đau. Ngồi trong rừng, trong núi một mình, ngồi trong thiền
đường một mình để quán chiếu ta cũng có thể thấy. Nhưng
ngồi nói chuyện với tăng thân, giãi bày tâm trạng thao thức
với một người bạn, đôi khi ta thấy rõ hơn là ngồi một
mình ở trong thiền đường.
Và
khi biết được nguyên do đã đưa tới đau khổ thì ta áp
dụng những chi phần khác của Bát Chánh Đạo để làm thuyên
giảm nỗi đau khổ. Chỉ khi nào ta đóng cửa tâm thức lại,
khư khư ôm lấy nỗi đau khổ, không chịu chữa trị, thì
nỗi khổ mới tồn tại và sẽ càng ngày càng lớn. Đã có
ý nguyện chữa trị, đã có đức tin nơi con đuờng chữa
trị thì thế nào niềm đau khổ cũng sẽ giảm bớt. Mà theo
ánh sáng của đạo Bụt thì tới tám, chín mươi phần trăm
nguyên ủy gây khổ đau nằm ở tự thân. Tại sao người khác
cũng sống trong hoàn cảnh đó, mà không đau khổ? Vì phương
pháp thụ nhận và tiếp xử với hoàn cảnh của họ khác
ta.
Học
giáo lý Tứ Diệu Đế ta có một niềm tin rằng nếu có khổ
đau thì có sự chấm dứt khổ đau. Chúng ta cần diệt khổ,
nhưng phải gọi đúng tên nỗi khổ. Nói mơ hồ rằng đời
là bể khổ thì không ích lợi gì mà còn có hại. Thường
cái khổ của mình tác hại đến những người chung quanh.
Khi ta đối trị được cái khổ của mình thì ta cũng giúp
được những người xung quanh.
Nếu
ta thấy được sự thật thứ nhất và sự thực thứ hai,
thì ta sẽ thấy được sự thật thứ tư. Ta sẽ áp dụng
Bát Chánh Đạo vào cuộc sống hàng ngày để cắt đứt những
nguồn thực phẩm tạo nên khổ đau, thay vào đó những loại
thực phẩm lành mạnh, ta trị liệu cái khổ trong ta bằng
sự nuôi dưỡng lành mạnh. Tưới tẩm những hạt giống lành
mạnh, thương yêu, hiểu biết, vui sống và cắt đứt các
nguồn thực phẩm độc hại.
Các
vị giác ngộ như Bụt hay bồ tát cũng có vấn đề như chúng
ta nhưng họ không sợ hãi vì họ biết phương cách giải thoát.
Thánh nhân cũng có thân và có tâm, và trong thân trong tâm cũng
có hoa và có rác. Không thể nào có hoa mà không có rác. Điều
khác biệt là ở chỗ các vị biết chuyển biến rác thành
hoa một cách dễ dàng. Còn chúng ta thì ôm lấy cái rác mà
chịu đựng. Vì chúng ta chưa nắm vững được phương pháp
thực tập bốn sự thật và con đuờng của tám sự hành trì
chân chánh. Nếu “học nhi thời tập chi”, ngày ngày áp dụng
Bát Chánh Đạo thì chúng ta sẽ vững chãi nắm được phương
pháp đó. Mà khi đã nắm được thì pháp với Bụt là một.
Ta luôn luôn an trú với Tam Bảo. Quý vị về làng và thực
tập những điều rất đơn giản như bước chân chánh niệm
và tiếng chuông tỉnh thức. Có vị đã sống ba tuần tại
làng rồi mà đến khi về nhà không mang bước chân tỉnh thức
về được, không đem theo tiếng chuông chánh niệm về được.
Vì trong ba tuần ấy, quý vị không “học nhi thời tập chi”.
Bước chân của quý vị còn lao đao, còn run rẩy lắm. Tiếng
chuông tỉnh thức của quý vị không ngân dài, chỉ cần một
cử động, một âm thanh nào đó là tan biến như làn sương
mỏng. Bước chân đó và tiếng chuông đó làm sao đem về
thành phố được? Bước chân rất vững, tíếng chuông rền
vang mà về nhà còn bị đánh tan bởi hoàn cảnh xã hội. Huống
hồ là bước chân ngập ngừng, và tiếng chuông yếu ớt.
Học nhi thời tập chi, mỗi ngày chúng ta có hai mươi bốn
giờ để thực tập cho vững chãi. Bài thực tập Tứ Đế
và những chi phần của Bát Chánh Đạo là bài thực tập hàng
ngày của chúng ta. Không nên để những bài học đó nằm
dưới hình thức giáo lý. Không nên chỉ nói về giáo lý.
Giáo
lý đạo Bụt nói đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Trước
hết có Tứ Niệm Xứ (bốn lãnh vực quán niệm), Tứ Chánh
Cần, Tứ Như Ý Túc. Rồi tới Ngũ Căn, tức là năm căn cứ
để phát xuất ra Ngũ Lực, những sức mạnh hùng hậu của
sự thực tập. Tiếp đến là Thất Bồ Đề Phần, và Bát
Thánh Đạo Phần.
Về
Tứ Như Ý Túc, chúng ta chưa học trong khoá này. Như Ý có
nghĩa là thể hiện được như lòng mình mong mỏi như là phép
lạ. Phép lạ đó được thực hiện bằng bốn yếu tố. Thứ
nhất là ước muốn của mình, ý chí của mình gọi là dục
như ý túc. Thứ hai là cần như ý túc, tức là sự siêng năng,
Thứ ba là tâm như ý túc, tức là tâm có khả năng biến hiện
ra mọi thứ như ý. Và thứ tư là quán (định) như ý túc.
Như
ý túc là những phép lạ mà chúng ta có thể thực hiện được
trong đời sống. Trong đó phép lạ lớn nhất là giáo hóa.
Giáo hóa như ý túc có nghĩa là một hoàn cảnh khổ đau, tuyệt
vọng mà nhờ sự giáo hóa đã trở thành một hoàn cảnh có
hy vọng, có niềm tin, có an lạc và giải thoát. Ta tu tập
như thế nào để có khả năng giáo hóa chuyển đổi một
hoàn cảnh tối tăm tuyệt vọng thành một hoàn cảnh tươi
sáng đó là thần thông lớn nhất trong tất cả các thứ thần
thông.
Ba
Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo gồm mười yếu tố căn bản là:
Tín, Giới, Tư Duy, Tấn, Niệm, Định, Tuệ, Khinh An, Hỷ và
Xả.
Thứ
nhất là Tín. Tín là năng lượng của niềm tin và được
kể trong Ngũ Căn và Ngũ Lực. Thứ hai là Giới. Giới được
thể hiện trong Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Yếu
tố thứ ba là Chánh Tư Duy, tức là suy nghĩ đúng theo chánh
pháp, đúng theo chánh kiến. Thứ tư là Tấn. Tấn là một
trong Tứ Chánh Cần, cũng là Tấn Căn, Tấn Lực, là Tấn Giác
Chi và cũng là một chi phần của Bát Chánh Đạo, là Chánh
Tinh Tấn. Yếu tố thứ năm là Niệm, có trong Ngũ Căn, Ngũ
Lực, Thất Giác Chi và Bát Chánh Đạo. Yếu tố thứ sáu là
Định. Định có trong tứ Thần Túc, tức là Định Như Ý
Túc, và cũng có trong Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi và Bát
Chánh Đạo. Tuệ là yếu tố thứ bảy, thấy trong Tứ Niệm
Xứ, Ngũ Căn và Ngũ Lực. Trong Thất Giác Chi thì Tuệ là Trạch
Pháp Giác Chi, trong Bát Chánh Đạo Tuệ là Chánh Kiến. Yếu
tố thứ tám là Khinh An, một trong Thất Giác Chi. Yếu tố
thứ chín là Hỷ, cũng là một trong Thất Giác Chi. Và yếu
tố thứ mười là Xả, nằm trong Thất Bồ Đề Phần. Khi
làm lại một bản tổng kết thì Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo
góp lại thành mười yếu tố ấy thôi. Ba Mươi Bảy Phẩm
Trợ Đạo là những phép thực tập căn bản của đạo Bụt
Nguyên Thủy.
Để
kết thúc khoá tu, chúng ta nên nhớ giáo lý Bốn Sự Thật
như là nguyên tắc hành động và giáo lý Con Đường của
Tám Sự Hành Trì Chân Chánh được trao truyền như các phương
pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề trong đời
sống hàng ngày. Nếu chúng ta tiếp nhận mà không thực tập
thì chúng ta phụ công ơn của đức Thế Tôn, của cả Tổ
đã trao truyền cho ta những giáo lý cụ thể và thực tiễn
đó. Chúng ta phải biết rằng người nào cũng có niềm đau
nỗi khổ. Để giải quyết niềm đau nỗi khổ đó chúng ta
cần tới Chánh Pháp. Mà Pháp tức là Tứ Đế và Bát Chánh
Đạo. Những giáo lý khác có thể giúp chúng ta trong sự thực
tập Bát Chánh Đạo. Nhưng Bát Chánh Đạo là phương pháp
đầy đủ để giải quyết những khổ đau. Đừng nói rằng
chúng ta chưa học đủ. Chỉ cần học Tứ Đế và Bát Chánh
Đạo là ta đã có thể hành trì và giải quyết những khổ
đau của ta rồi. Phải nương vào tăng thân để thực tập.
Chắc chắn chúng ta có thể giải quyết được vấn để khổ
đau. Khóa tu đến hôm nay là chấm dứt. Có thể nhiều người
còn cơ hội gặp nhau trong khoá tu khác. Có thể một vài người
sẽ không có cơ hội để gặp lại tăng thân này. Nhưng nếu
chúng ta tiếp nhận Tứ Đế và Bát Chánh Đạo trong tinh thần
học nhi thời tập chi của Đức Khổng Tử thì như vậy cũng
đủ để chúng ta có thể đem Pháp Bảo áp dụng trong suốt
cuộc đời mình. Chỉ cần nhắc nhở thêm một lần nữa là
sự tu tập Tứ Đế và Bát Chánh Đạo sẽ dễ dàng hơn mười
lần hoặc hơn cả trăm lần nếu chúng ta thực tập trong khung
cảnh một tăng thân.