24
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai mươi bốn
Hôm
nay là ngày 17 tháng 2, năm 1994. Chúng ta ở tại Xóm Thượng,
trong khóa tu mùa Đông, chủ đề là Phật Pháp Căn Bản. Hôm
nay chúng ta học về niềm tin nơi Tam Bảo, tức là nơi Bụt,
Pháp và Tăng.
Chúng
ta phải học đạo Bụt như thế nào để những điều chúng
ta học có thể được biểu hiện thành sự sống. Những điều
ta học phải được áp dụng vào đời sống hàng ngày thì
đó mới là Phật Pháp đích thực. Trong quá trình tu học đó,
ta phải luôn luôn soi lại sự học hành của mình trong tấm
gương của Tăng thân. Đôi khi chúng ta chưa thật sự hiểu
Pháp, hoặc hiểu sai, do đó ta áp dụng không được. Rồi
ta không có đức tin nơi Pháp. Mất đức tin nơi Pháp thì ta
sẽ không còn đức tin nơi Bụt, và nơi Tăng.
Có
nhiều điều ta tưởng đã hiểu, kỳ thực chưa hiểu. Ví
dụ ý niệm về Tích Môn và Bản Môn. Có một thiền sinh nói:
“… Tôi chưa muốn đi vào Bản Môn: tôi muốn ở lại trong
Tích Môn để giải quyết các vấn đề Tích Môn.” Nói như
vậy là chưa hiểu được giáo lý Tích Môn và Bản Môn, nghĩ
rằng đi vào Bản Môn là rời bỏ Tích Môn. Sự thật là không
bao giờ rời bỏ Tích Môn cả. Trang đầu của tập thơ Call
me by my true name (Hãy gọi đúng tên tôi), tôi viết câu này:
“Nếu ta sống sâu sắc với Tích Môn thì ta tiếp xúc được
với Bản Môn. Khi tiếp xúc được với Bản Môn thì ta chưa
bao giờ rời bỏ Tích Môn cả. If you live deeply the historical
dimension, you touch the ultimate dimension. When you touch the ultimate
dimension, you have not left the historical diemension.”
Cũng
như khi nói về năm cái lạy, có vị bảo:” Lạy thứ ba là
lạy nhớ ơn đất nước. Lạy thứ tư là lạy những người
mình thương. Lạy thứ năm là lạy những người mình ghét.
Ta đâu có lạy người ta thương và người ta ghét đâu? Và
ta lạy cũng không phải là để nhớ ơn. Nhớ ơn là một phần
nhỏ. Mục đích của lễ lạy ở đây là quán chiếu, là tiếp
xúc được với gốc rễ của tổ tiên, đất nước, tiếp
xúc được với những người mình thương, và tiếp xúc được
với những người mình ghét, để thấy rằng trong ta cũng
có những yếu tố và những người đó. Việc chính là quán
chiếu và tiếp xúc. Gốc rễ có đó, ta lạy xuống là để
tiếp xúc, để thấy được gốc rễ ấy, để đánh tan ảo
tưởng bơ vơ, và lạc long. Lạy là để thấy người ta ghét,
và người ta thương có liên hệ với ta tới mức ta không
thể tự tách rời ra khỏi họ được. Đó là quán chiếu.
NIỀM
TIN THỂ HIỆN TRONG ĐỜI SỐNG
Chúng
ta biết rằng đức tin cần thiết cho niềm vui, và cho sự
tinh tấn tu tập của chúng ta. Đức tin mang lại cho chúng ta
nhiều năng lượng. Người theo đạo Bụt là người có đức
tin nơi Tam Bảo. Tam Bảo trước hết là đối tượng của
tri giác, của Tưởng. Nếu tri giác sai lầm thì niềm tin của
chúng ta sẽ không có cơ sở. Ví dụ tin Bụt là một vị thần
linh sáng tạo ra vũ trụ, hay là một đấng có quyền ban phước,
trừ họa. Đó là một vọng tưởng về Bụt. Đặt niềm tin
trên một vọng tưởng, trên một tri giác sai lầm, đó không
phải là chánh tín. Đến khi ta lâm vào tình trạng khổ đau
thì niềm tin đó không đủ để nâng đỡ, che chở và bảo
vệ ta. Niềm tin phải căn cứ trên sự quán chiếu. Đức tin
với công phu thực tập quán chiếu là một đức tin căn cứ
trên kinh nghiệm. Sự sống của ta, thân thể, tâm trí ta, tất
cả đều công nhận niềm tin đó là sự thật.
Hàng
ngày chúng ta thường thực tập quay về nương tựa nơi Tam
Bảo. Phép thực tập quay về nương tựa chỉ thành công khi
ta đạt tới một cái thấy, một kinh nghiệm sâu sắc về
Tam Bảo. Trong truyền thống Việt Nam, chúng ta hay nói tự quy
y. Tự quy y có nghĩa là quay trở về nương tựa Bụt trong
tự thân của mình. Chữ tự này rất đặc biệt. Tự nghĩa
là chính ở đây. Quy y là trở về, là nương tựa. Phật là
đối tượng của sự trở về, nương tựa. Và Phật có mặt
nơi tự thân của mình. Vì vậy nếu đi tìm một đối tượng
quy y ở ngoài ta là đã sai rồi. Phật không ở trong, cũng
không ở ngoài, đâu cũng có Bụt cả. Đó là điểm hẹn để
ta quay về, nơi chúng ta nương tựa, Bụt có mặt trong trái
tim chúng ta. Người Phật Tử nào cũng nói Phật tức tâm,
Bụt là trái tim, là tâm linh ta.
Nếu
Bụt không có thật, mà chỉ là một hình tượng do trí óc
con người vẽ ra thì sao? Niềm tin nơi Bụt có thể đổ vỡ
dễ dàng. Người ta có thể tin Bụt như tin ông già Noel, Ngọc
Hoàng, hay Táo Quân không? Tin như vậy nguy hiểm lắm. Nếu
tin Bụt, rồi một ngày nào đó khám phá ra rằng Bụt chỉ
là một sản phẩm của trí óc con người, thì niềm tin đó
rất nguy hiểm. Khi lâm vào nguy biến, mà trong niềm tin lại
có một dấu hỏi đặt ra thì chúng ta sẽ bơ vơ và đau khổ.
Vấn
đề này được đặt ra cho tất cả các tôn giáo. Có người
bàn rằng:” Câu hỏi có Trời Phật hay không là một vấn
đề quan trọng thật. Nhưng chúng ta hãy cứ tin đi, có lỗ
lã gì đâu? Nếu chúng ta tin Chúa mà Chúa có thật, thì chúng
ta được về thiên đường. Nếu không có Chúa thì ta cũng
đâu mất mát gì!” Đức tin mà được đặt trên sự tính
toán so đo như vậy thì thật bi đát. Cứ tin đi, nếu đúng
thì mình lời to, không thì cũng chả lỗ lã gì. Không tin,
lỡ có “ông ấy” thật thì lỗ nặng. Trí óc ưa tính toán
quá nên con người mới đánh cuộc, và bắt cá hai tay như
thế.
Đạo
lý Duyên Sinh giúp chúng ta đi vào đức tin một cách vững
chãi từng bước một vì đạo lý ấy giúp ta tiếp xúc được
với Bụt. Trong Ki Tô Giáo, các nhà thần học nói tới bước
nhảy thần học (The Theological Leap). Đức Tin phải mang một
chút tính chất liều lĩnh. Ví dụ thường được đưa ra là
một đứa bé đứng ở trên bờ hồ, bố nó đứng dưới
hồ nói:” Con nhảy đi, con nhảy xuống đi. Có ba đỡ.”
Đứa bé biết rằng nếu nó nhảy xuống thì thế nào cũng
được đón nhận trong vòng tay của ba, nó sẽ được yên
ổn. Thế là đứa bé nhảy và ba nó đón lấy con, như vòng
tay của Thượng đế. Nếu anh không làm một động tác nhảy
vào trong vòng tay của đức tin, thì anh không thể có đức
tin. Đức tin đuợc diễn tả như một ân sủng của Thường
Đế ban cho. Đức tin đạt được do một hành động quyết
định giữa tin và không tin; vì vậy người ta dùng chữ bước
nhảy (leap).
Trong
đạo Bụt, đức tin phát khởi từ những căn bản sự học
hỏi về Tam Bảo trong tinh thần duyên sinh và tương tức. Quý
vị tới với đạo Bụt là do cửa ngõ của Pháp, hay do cửa
ngõ của Tăng. Quý vị tiếp xúc được với Bụt là do quý
vị tiếp xúc được với Pháp và với Tăng. Tiếp xúc thực
sự được thì niềm tin Bụt của quý vị vững chãi như núi
Thái Sơn.
Pháp
là một thân của Bụt (the dharma is a body of the Buddha) và Pháp
có mặt ở đây và bây giờ, chứ không phải chỉ 2.600 năm
trước. Có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với Pháp ta sẽ thấy
được tính cách mầu nhiệm của Pháp. Có cơ hội kiểm chứng,
thí nghiệm về Pháp ta sẽ thấy được khả năng chuyển hóa
của Pháp. Đức tin nơi Pháp sẽ là đức tin về Bụt. Pháp
thân tức là một trong ba thân của Bụt, và may mắn thay ta
có thể tiếp xúc thật sự với thân ấy. Pháp thân trước
hết có nghĩa là thân giáo lý. Trước khi thị tịch, Bụt
dạy rằng:” Cái thân của tôi đây chẳng qua chỉ là nhục
thân. Nhục thân của tôi có thể không còn biểu hiện đối
với quý vị, nhưng pháp thân của tôi sẽ ở lại với quý
vị mãi mãi.” Chữ Pháp Thân đã được dùng ngay từ thời
đó. Pháp thân của Bụt vẫn còn nguyên, có thể được tiếp
xúc qua việc hành trì kinh điển và qua những người đang
hành trì kinh điển, tức là tăng thân. Cho nên Pháp và Tăng
là hai cửa ngõ để chúng ta có thể tiếp xúc với Bụt. Do
đó, đối tượng đức tin của chúng ta rất cụ thể, được
làm bằng trí tuệ, kinh nghiệm. và cuộc đời của chúng ta.
Và Bụt không còn là đối tượng của riêng tri giác. Bụt
trở thành đối tượng của tất cả cuộc sống, của sắc,
thọ, tưởng, hành và thức. Bụt không còn là một ý niệm
nữa. Nhờ tu tập, nhờ sự chuyển hóa mà khái niệm ngây
thơ, sai lạc về Bụt lúc ban đầu đã tan biến, Càng ngày
chúng ta càng tới gần bản chất của Bụt.
Bụt
có Pháp thân nhưng cũng có Tăng thân. Danh từ Tăng thân này
trong quá khứ không thông dụng, bây giờ chúng ta sẽ sử dụng
nhiều hơn. Thời Bụt còn tại thế, vua Prasenahit nước Kosala
là một người bạn thân, và một vị đệ tử của Bụt.
Nhà vua từng nói: “Bạch đức Thế Tôn, nhìn vào Tăng đoàn,
con có đức tin nơi Ngài.” Câu đó có nghĩa Tăng đoàn là
Tăng thân, một trong những thân của Bụt. Nhìn vào Tăng đoàn,
nhà vua thấy những vị khất sĩ trầm tĩnh, an lạc, giải
thoát. Họ đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm và nhà vua
tiếp xúc được với chánh pháp và với Bụt. Chúng ta có
thể tiếp xúc với Pháp thân và Tăng thân ngay ở đây và
bây giờ. Ngay trong chính con người của chúng ta cũng có tăng.
Như câu kệ ta vẫn đọc: năm uẩn là tăng, phối hợp tinh
cần.
Như
vậy, đức tin của chúng ta được căn cứ trên những tiếp
xúc cụ thể chứ không phải chỉ trên những ý niệm. Chúng
ta phải sử dụng trái tim và trí tuệ thì mới tiếp xúc được
với Pháp thân và Tăng thân của Bụt. Có chân pháp thân và
có khi không phải đích thực là chân pháp thân. Đôi khi người
ta dạy một giáo lý ngược với tam pháp ấn vô thường, vô
ngã và niết bàn, pháp đó không phải là chân pháp, mà là
tà pháp.Tăng thân cũng vậy. Khi một tăng đoàn tu học, có
chánh niệm, có hộ trì sáu căn, có an lạc, giải thoát thì
đó là chân tăng. Ngược lại, một đoàn thể không chánh
niệm, không giải thoát và an lạc thì không thể gọi là chân
tăng. Phật thân cũng có chân và ngụy. Trong Kinh Kim Cương,
Bụt nói về Phật thân:” Nếu tìm ta qua hình sắc, nếu tìm
ta qua âm thanh, thì người đó đang hành tà đạo và không
bao giờ thấy được Như Lai.” Không thấy Như Lai vì chỉ
thấy một ngụy thân của Phật, không phải chân thân của
Phật.
Tiếp
xúc được với chân pháp thân chúng ta tiếp xúc được với
Phật thân. Tiếp xúc được với chân tăng thân ta sẽ thấy
Pháp thân và Phật thân. Bản chất của Bụt là pháp và tăng.
Nhìn vào một thân chúng ta thấy hai thân khác. Đó là giáo
lý tương tức giữa tam bảo, gọi là tam vị nhất thể, tức
là ba ngôi cùng một thể tính. Thấy được như vậy rồi
thì ta sẽ không còn than vãn tại sao mình sanh ra đời quá
muộn, khi Bụt đã nhập diệt 2600 năm về trước rồi. Quý
vị sẽ vượt được 2600 năm một cách dễ dàng, có thể
tiếp xúc với Bụt bất cứ lúc nào. Pháp và Tăng có đó,
cố gắng hành trì thì chân pháp và chân tăng càng ngày càng
hiển lộ. Cũng như khi ánh sáng mặt trời đã chọc thủng
được bức màn sương, mặt trời tiếp tục chiếu rọi thì
màn sương sẽ tan. Chúng ta phải chọc thủng tấm màn sương
của tà pháp và tà tăng để cho chân pháp và chân tăng hiển
lộ, và để cho chân Phật hiển lộ. Triratna là ba viên ngọc
quý. Chúng ta biết Bụt được kết tinh bằng chân pháp và
chân tăng. Không thể tưởng tượng được có Bụt mà không
có pháp, có Bụt mà không có tăng. Cho nên tất cả các kinh
điển luôn luôn nói rằng Bụt bao giờ cũng được bao quanh
bởi quyến thuộc của Ngài. Quyến thuộc của Ngài tức là
đệ tử, từ các vị đại bồ tát cho đến các vị thanh
văn, duyên giác, thánh hiền, các cư sĩ nam Phật tử, và nữ
Phật tử. Nhìn vào chân tăng ấy, người ta tiếp xúc được
chân Pháp và chân Phật.
TĂNG
THÂN VÀ PHÁP THÂN
Bây
giờ chúng ta hãy tìm hiểu thêm về chân pháp và chân tăng.
Chúng ta biết pháp tức là con đường hành trì, con đường
diệt khổ, con đường chuyển hóa. Pháp là con đường của
bốn sự thật, của tám sự hành trì chân chánh, của thất
giác chi, của ngũ lực. Nhưng pháp không phải chỉ là con đường.
Pháp là sự thực tập, sự thể hiện con đường đó. Chúng
ta có thể nói kinh điển là pháp, giới luật là pháp. Các
bộ kinh, luật, luận là pháp, dưới hình thức của những
bộ sách (và bây giờ chúng ta có thêm băng cassettes, băng video).
Chúng ta có thể lạy xuống trước các biểu tượng đó. Tất
cả các thức đó là pháp nhưng chưa phải là pháp. Pháp đích
thực là những giáo lý thể hiện qua sự sống, sự hành trì.
Nơi đâu có sự áp dụng tứ diệu đế và sự hành trì bát
chánh đạo trong đời sống là có chân pháp (the living dharma).
Chúng ta học hỏi kinh sách, nghe pháp thoại, rồi đi lên bước
nữa để thấy những Kinh. Luật, Luận, hay những pháp thoại
đó được áp dụng vào trong đời sống hàng ngày. Khi bước
sang bước thứ hai này thì chúng ta có chân pháp, có ánh mắt,
có nụ cười chánh niệm, có an lạc, có từ, bi, hỷ và xả.
Nếu không có tăng thân thì không có sự thể hiện được
những điều nói trên, vì vậy bước thứ ba là tăng thân.
Bụt ở trong Pháp và Tăng cũng ở trong Pháp. Có chánh niệm
thực sự trong Pháp thì đó là chân Pháp. Cho nên Bụt là chánh
niệm, chánh niệm là Bụt.
Tăng
đoàn từ bốn người trở lên gọi là sangha, nhưng tăng đoàn
đôi khi chỉ mới là hình thức: có đắp y, có ngồi thiền,
có đi thiền hành, có ăn cơm im lặng, có tụng giới. Đôi
khi hình thức nặng, và nội dung còn nghèo nàn. Nếu ta tiếp
xúc với Tăng đoàn mà thấy Pháp và Bụt rất ít, đó là
vì tăng thân còn nhẹ về nội dung. Khi tăng đoàn thực sự
hộ trì sáu căn, thực tập chánh niệm, trở thành chân tăng
thì Tăng đoàn sẽ biểu dương được Bụt và Pháp. Tiếp
xúc với tăng thân này chúng ta tiếp xúc được với Phật
thân và Pháp thân.
Bụt
cũng có thể là một pho tượng, một bức họa. Bụt có thể
là một người, người đó có yếu tố giác ngộ, có chánh
niệm, có từ bi hỷ xả. Chân Phật luôn luôn có Pháp và có
Tăng làm bản chất; Chân Pháp luôn luôn có Bụt và có Tăng
làm bản chất; Chân Tăng luôn luôn có Bụt và có Pháp làm
bản chất.
Chúng
ta tu tập thế nào để cho ba viên ngọc quý đó càng ngày
càng sáng tỏ trong tự tâm của chính chúng ta. Trong bài Quy
Nguyện, chúng ta tiếp xúc với Bụt:
Bụt
là thầy chỉ đạo
Bậc
tỉnh thức vẹn toàn
Tướng
tốt đoan trang
Trí
và bi viên mãn
Tụng
những câu đó mà tiếp xúc được với Bụt thực sự thì
quý vị tiếp xúc được với Pháp và với Tăng.
Pháp
là con đường sáng
Dẫn
người thoát cõi mê
Đưa
con trở về
Sống
cuộc đời tỉnh thức
Khi
đọc bốn câu đó ta phải tiếp xúc được với chân Pháp
chứ đừng nên tụng niệm như là ca hát, chỉ có âm thanh
có mặt mà thôi.
Tăng
là đoàn thể đẹp
Cùng
đi trên đường vui
Tu
tập giải thoát
Làm
an lạc cuộc đời
Tiếp
xúc được với Tăng tức là tiếp xúc được với Bụt, với
Pháp và chúng ta có chân Tăng.
Tụng
niệm là một pháp môn tu tập rất quan trọng. Tụng niệm
cũng quan trọng như ngồi thiền. Nếu tụng niệm đúng phép,
thì trong khi tụng niệm chúng ta có thể quán chiếu, tiếp
xúc với Bụt, với Pháp và với Tăng. Tụng niệm ở đây
không có nghĩa là cầu khẩn, năn nỉ. Tụng niệm là thực
tập quán chiếu và tiếp xúc.
Đức
tin khiến chúng ta đi tìm Bụt. Phật thân có ba thân: Bụt,
Pháp và Tăng. Ta đã hiểu Tăng thân cũng là Phật thân. Cho
nên ta trở về nương tựa Tăng thân và xây dựng Tăng thân.
Săn sóc Tăng thân tức là săn sóc Bụt. Mỗi chúng ta là một
phần của Tăng thân. Khi sư chú bước đi từng bước thảnh
thơi. Khi sư chú ăn uống có điều độ chừng mực là sư
chú đang chăm sóc thân của Tăng và của Bụt. Khi sư chú đang
săn sóc một sư anh hay một sư em, giúp cho người đó nở
được nụ cười, cho người đó an lạc, là sư chú đang săn
sóc Phật thân. Khi sư cô chăm sóc, hoà giải được cho sư
chị và sư em, đem lại hạnh phúc thêm cho Tăng đoàn, tức
là sư cô đang chăm sóc thân của Bụt. Thành ra không phải
chỉ vào thiền đường, dâng hương, lau bụi trên bàn thờ
là chăm sóc Bụt. Cầm tay một người sư em, an ủi người
sư chị của mình tức là đang chăm sóc Bụt. Đây là giáo
lý tương tức của tam thân.
Chính
Bụt nói rằng: « Khi các thầy săn sóc cho nhau tức là các
thầy săn sóc Như Lai. » Câu chuyện xảy ra ở tại Kosali.
Một bữa Bụt đi với thầy A Nan tới một tu viện. Các thầy
đi khất thực hết, chỉ có một thầy bị bệnh kiết lị
nằm ở nhà. Thầy đó nằm mệt lả, phân chảy đầy cả
áo quần và giường chiếu. Bụt với thầy A Nam vào tu viện
thấy như vậy. Ngài hỏi: « Các thầy khác đi đâu ? Không
có ai săn sóc thầy sao ? » Thầy nói: « Bạch đức Thế
Tôn, các sư anh đi khất thực hết rồi. Lúc đầu anh em săn
sóc con, nhưng sau con thấy chứng bệnh kéo dài, tăng thân săn
sóc cực nhọc mãi thì tội, cho nên con nói để con tự làm
lấy cũng được. » Bụt mới ở lại đó với thầy A Nan.
Trong khi chờ các thầy khác đi khất thực về, Bụt và thầy
A Nam đi dọn dẹp căn phòng, giặt quần áo của thầy, lấy
y mới cho thầy mặc. Khi các thầy đi khất thực trở về,
Bụt nói: « Này các thầy, chúng ta đã xuất gia, nếu
chúng ta không săn sóc cho nhau thì ai săn sóc chúng ta? Vì vậy,
các thầy nên nhớ: săn sóc cho nhau tức là săn sóc cho Như
Lai. » Khi mà các sư chú săn sóc cho nhau về thể chất, và
về tinh thần là các sư chú đang săn sóc cho Như Lai. Khi mà
các sư cô hoà hợp với nhau, sống với nhau có nhường nhịn,
thương yêu, khoan thứ là các sư cô săn sóc Bụt. Cả khi tăng
thân của chúng ta còn là phàm tăng cũng vậy. Phàm tăng mà
tu tập thì trở thành thánh tăng.
Pháp
thân cũng có ba thân. Trong Pháp thân có Bụt, có Pháp và có
Tăng. Khi chúng ta săn sóc Bụt tức là chúng ta săn sóc Pháp
thân của Bụt. Chúng ta biết tâm chúng ta là Bụt. Mỗi khi
tâm có chánh niệm thì chúng ta làm cho hào quang của Bụt chiếu
sáng. Trở về nương tựa Bụt tức là bảo vệ Pháp thân.
Đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, hộ trì sáu căn là
chúng ta tiếp xúc với Pháp, đó là nuôi dưỡng Pháp thân.
Săn sóc và tạo hạnh phúc cho tăng đoàn là yểm trợ Pháp,
tiếp xúc được với Pháp. Điều này được thể hiện trong
mỗi giây phút của sự sống.
Tăng
thân cũng có ba, có thân Bụt của tăng thân, thân Pháp của
tăng thân và thân Tăng của tăng thân. Chúng ta phải thấy
thân Bụt ở trong tăng thân, thân Pháp ở trong tăng thân, như
vậy mới thấy được thân tăng trong tăng thân. Nguyện một
lòng trở về nương tựa tăng thân là vậy. Có người dại
dột nói rằng: « Trong tam bảo tôi chỉ quy y Phật bảo và
Pháp bảo, còn Tăng vì chưa đáng kính đáng phục nên tôi
chưa quy y ». Nói như vậy là chưa hiểu được giáo lý tam
vị nhất thể. Và có người lại nói rằng là: « Tôi quy
y tăng nhưng chỉ quy y thánh tăng thôi. Chỉ có Hội Linh Sơn
với Hội Pháp Hoa mới xứng đáng là đối tượng của niềm
tin của tôi. Hiện giờ không có thánh tăng nên tôi không quy
y được ». Nói vậy cũng là chưa hiểu. Dầu tăng thân của
chúng ta còn là phàm tăng, nhưng đó là tất cả tăng thân
chúng ta đang có. Tăng thân ở Việt Nam, tăng thân ở Hoa Kỳ,
tăng thân ở Thụy Điển, tăng thân ở Đan Mạch, tăng thân
ở Nhật Bổn, ở Triều Tiên, chúng ta chỉ có tăng thân ấy.
Chúng ta chỉ cần đọc lịch sử thời Bụt tại thế để
hiểu tại sao các giới luật đã được thiết lập, thì chúng
ta biết rằng chính tăng thân chung quanh Bụt thời đó cũng
đầy chất phàm. Trong tăng thân ta có chất phàm, nhưng cũng
đã có chất thánh.
TAM
BẢO LÀ ĐỐI TƯỢNG TU HỌC
Những
viên ngọc ở trong tăng thân là những người đang đi trên
con đường, mỗi chặng đường được đánh dấu bằng một
quả vị. Những người đang đi vào dòng gọi là hướng nhập
lưu. Người đã vào dòng rồi gọi là nhập lưu (tu đà hoàn).
Quý vị chưa chứng quả nhập lưu, nhưng nếu đang đi trên
đường thì quý vị đã có chất thánh của quả nhập lưu.
Đó là hai quả vị thấp nhất trong tăng đoàn. Tiến lên nữa
là quả vị nhất lai. Nhất lai là chỉ cần trở về trong
chốn bụi hồng này một lần nữa thôi. Trên đường tới
nhất lai là bậc thứ ba của thánh quả. Chứng được quả
nhất lai rồi thì ta thuộc về bậc thứ tư của thánh quả.
Tiếp đến quả bất lai. Bất lai là không trở lại chốn
đầy những khổ đau và hệ lụy nữa. Đang trên con đường
bất lai là ta đã có quả vị thứ năm, và đạt được quả
vị bất lai rồi đó là thứ sáu. Thứ tư là A la hán, hoặc
Ứng Cúng (đáng được cúng dường). Bậc A la hán chặt đứt
được sinh tử, đi đâu cũng không còn sợ hãi nữa. Trên
đường đi tới A la hán là bậc thứ bảy của thánh quả.
Đạt tới cái quả vị A la hán là bậc thứ tám của thánh
quả. Trong một tăng thân có những viên ngọc quý như vậy.
Cố nhiên lẫn lộn với những viên ngọc đó có những uế
tạp mà bất cứ một tăng đoàn nào cũng có. Có những người
phạm giới nặng, có những người phạm giới nhẹ và cũng
có những người chứng thánh quả. Vì trong tăng thân có từ
bi, có trí tuệ và có từ bi hỷ xả nên những yếu tố phàm
tục của tăng thân được chăm sóc, được nuôi dưỡng, được
chuyển hóa. Một tăng đoàn với những người có chánh niệm,
có giải thoát, những người có nhiều chất nhập lưu, nhất
lai, bất lai và có người ứng cúng, thì đó đích thực là
tăng bảo. Khi tiếp xúc với tăng thân ấy, ta tiếp xúc được
với Bụt, với Pháp và với Tăng.
Chúng
ta không cần đi đâu xa, chỉ cần nhìn vào tăng thân tại
Làng Mai. Chúng ta thấy có những người quyết tâm tu học,
đóng lại hết tất cả những cửa ngõ phía sau lưng của
cõi đời tục lụy, phiền não. Những người đó có thể
chưa bước lên được chiếc xe đưa về thánh quả, nhưng
đang hướng về nẻo ấy thì họ đã có chất thánh, gọi
là nhập lưu hướng. Khi đã vững chãi rồi gọi là nhập
lưu quả. Nhập lưu hướng, nhập lưu quả; nhất lai hướng,
nhất lai quả; bất lai hướng, bất lai quả; a la hán hướng,
a la hán quả; đó là tam bậc thánh trong tăng thân. Vì vậy,
khi thấy còn có chất phàm ở trong tăng thân mà đã chán nản
và bỏ đi, tức là ta bỏ luôn chất thánh trong tăng thân.
Công trình tu học của chúng ta phải là công trình xây dựng
tăng thân. Không xây dựng tăng thân thì chúng ta thiếu sót
rất nhiều trong sự tu học. Xây dựng được một tăng thân
có hạnh phúc, an lạc, tạo ra được chất thánh ở trong tăng
thân thì công đức rất lớn. Đây không phải là công trình
riêng của vị chúng trưởng mà là công trình của tất cả
mọi người trong tăng đoàn. Người nào cũng có bổn phận
phải nuôi dưỡng tăng thân. Và nuôi tăng và nuôi pháp là
nuôi Bụt, công đức vô lượng. Ban đầu chúng ta đã nói
có tam thân. Nhưng vì mỗi thân gồm có ba thân, cho nên tất
cả có chín thân. Giáo lý về chín thân là giáo lý của thầy
Nhất Hạnh. Khai triển nữa thì giáo lý của thầy là giáo
lý của hai mươi bảy thân. Nhưng thuyết hai mươi bảy thân
có thể trở nên phiền toái, cho nên ta nói thuyết chín thân
cũng đủ. Sau đây là bài tán tam bảo:
PHẬT
BẢO
Phật
bảo sáng vô cùng
đã
từng vô lượng kiếp thành công
đoan
nghiêm thiền tọa giữa non sông
sáng
rực đỉnh linh phong
trên
trán phóng hào quang rực rỡ
chiếu
soi mọi nẻo hôn mông
Long
Hoa hội lớn nguyện tương phùng
tiếp
nối pháp chánh tông
xin
quy y thường trú Phật đà gia
PHÁP
BẢO
Pháp
bảo đẹp vô cùng
lời
vàng do chính Bụt tuyên dương
chư
thiên trỗi nhạc tán hoa hương
pháp
mầu nhiệm tỏ tường
ghi
chép rõ ràng ba tạng
lưu
truyền hậu thế mười phương
chúng
con nay thấy được con đường
nguyện
hết sức tuyên dương
xin
quy y thường trú Đạt ma gia
TĂNG
BẢO
Tăng
bảo quý vô cùng
Phước
điền hạt tốt đã đơm bông
ba
y một bát bước thong dong
giới
định tuệ dung thông
đi,
đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm
thiền
cơ chứng đạt nên công
chúng
con tất cả nguyện một lòng
xin
trở lại với tăng thân
xin
quy y thường trú Tăng già gia
Tam
bảo là đối tượng của sự thực tập trong đời sống hàng
ngày, không phải chỉ là đối tượng của đức tin. Chúng
ta hãy thực tập như thế nào để mỗi phút mỗi giây Bụt,
Pháp và Tăng sáng thêm trong ta và xung quanh ta. Không nên nhìn
Bụt, Pháp, Tăng là ba thực tại riêng biệt. Không chuyển
hóa tăng thân, không săn sóc tăng thân là chúng ta không săn
sóc Phật thân. Vì vậy Tăng sự tức là Phật sự. Thường
thường chúng ta nói làm Phật sự, nhưng kỳ thực làm Tăng
sự chính là làm Phật sự. Tổ chức đời sống như thế
nào để có hạnh phúc và giải thoát, để chánh niệm có
mặt trong từng giây từng phút là làm Tăng sự. Nấu ăn cũng
là Tăng sự, giặt áo cũng là Tăng sự, quét nhà cũng là Tăng
sự, săn sóc cho các bạn tu cũng là Tăng sự, mà Tăng sự
tức là Pháp sự, Pháp sự tức là Phật sự. Những hành động
thương yêu chăm sóc của chúng ta phải có chất liệu của
Bụt và của Pháp thì mới thực sự là Tăng sự. Ví dụ chúng
ta săn sóc một người bạn tu. Nếu chúng ta không có chánh
niệm thì từ sự săn sóc đó sẽ nẩy sinh tình cảm vướng
mắc. Người kia có thể bị lệ thuộc vào ta, không có ta
thì một mình đứng không vững. Sự săn sóc đó có rất ít
tính chất tăng sự vì đã gây nên những vướng mắc. Tăng
sự phải nằm trong tinh thần chánh pháp. Tăng thân có hạnh
phúc, thành quả tu học được tăng tiến thì chất thánh của
tăng thân càng ngày càng lớn. Chất thánh của tăng thân ngày
càng lớn thì sự có mặt của chân Phật và chân Pháp ngày
càng rõ. Đó là giáo lý và sự hành trì tam bảo. Những lúc
nguy biến không biết là sống hay chết thì tam bảo phải là
nơi nương tựa vững chãi cho chúng ta. Sống hay chết không
quan trọng nữa. Khi nền tảng sự sống của ta đã là tam
bảo.
TU
TẬP TRONG TÍCH MÔN THẤY ĐƯỢC BẢN MÔN
Chúng
ta biết rằng hàng ngày thực tập, nếu tiếp xúc được với
tính vô thường và vô ngã của thực tại là chúng ta đang
tiếp xúc với tính niết bàn. Tiếp xúc sâu sắc với tích
môn cũng là tiếp xúc với bản môn. Khi ta lạy để tiếp
xúc với tổ tiên huyết thống và tâm linh thì ta cũng tiếp
xúc được với bản môn. Tiếp xúc với bản môn làm vơi
đi nỗi đau khổ của tích môn.
Ban
đầu mới lạy xuống, ta có hình ảnh của sự sinh ra và của
cái chết đi của mình. Trong Kinh có những câu hỏi: trước
đó có ta hay không ? Sau đó sẽ còn ta hay không ? Bây giờ
ta có hay không ? Thường thường chúng ta nghĩ bây giờ
thì có ta ở đây, nhưng không biết là trước đó ta đã có
hay chưa, và sau đó còn có ta hay không. Đó là một nhận thức
sai lầm lớn, nhờ quán chiếu ta mới thấy được. Lạy xuống,
ta thấy ta sinh ở thời điểm này và ta diệt ở thời điểm
kia. Quán chiếu sâu thêm, ta sẽ thấy nhận thức ấy tan biến.
Cũng như một đợt sóng trồi lên trên mặt biển, nghĩ rằng
nó phảt sinh ở một nơi, và tới nơi kia nó sẽ tan vào biển
cả. Trước đó nó không có, và sau đó nó sẽ không còn nữa.
Nếu đợt sóng tiếp xúc được với nước thì thấy rằng
lúc nào nó cũng là nước. Không có chỗ bắt đầu, cũng không
có chỗ chấm dứt. Chúng ta thấy là mình đã hiện hữu ở
trong cha mẹ. Rồi ta cũng là tổ tiên của những thế hệ
tương lai. Đối với người xuất gia, các vị tổ sư tuy không
phải là cha mẹ nhưng thực sự đã sinh ra trong dòng mạch
tâm linh của mình, ta là con cháu trong một gia đình tâm linh,
gia đình này sẽ tiếp tục trong các thế hệ sau.
Sinh
mạng của ta không có bắt đầu, cũng không có sự chấm dứt,
nó là sự tiếp nối của một dòng lưu chuyển liên tục.
Cho nên trong bài hát mừng sinh nhật, happy birthday, nên hát
là mừng sự tiếp nối, happy continuation. Thời điểm nào cũng
là happy continuation cả. Chúng ta đang sống đời sống hiện
tại của chúng ta, nhưng cũng đang sống quãng đời của chúng
ta từ các thế hệ trước, và đồng thời đang sống cuộc
đời sau nữa. Như vậy thì nỗi sợ sống chết sẽ tan biến.
Sống chết là sự tiếp tục. Trong năm cái lạy đó chúng
ta đã có thể tiếp xúc được với bản môn.
Hai
vợ chồng ông kia giận nhau. Bà đã nói câu gì đó làm ông
nổi giân, Ông đau khổ lắm, muốn nói lại một câu cho bà
đau đớn, để mình nhẹ bớt khổ đi. Tôi đề nghị ông
nhắm mắt lại, và nghĩ tới trong 60 năm nữa thì ông sẽ
như thế nào và bà sẽ như thế nào. Chỉ cần nửa phút quán
chiếu thôi, ông ta đã thấy được rằng trong 60 năm mình
với người kia sẽ trở thành tịch mịch. Lúc đó ông sẽ
tiếp xúc được với bản môn, không còn trôi nổi ở trên
tích môn nữa. Thở một hơi vào, ta quán chiếu mình 100 năm
về sau hay là 300 năm về sau. Khi thở ra ta sẽ thấy giận
nhau là điên rồ, là uổng phí. Giây phút này mà không nói
được với người thương những lời thương yêu dịu ngọt
thì thật là ngu dại. Bao nhiêu giận hờn và si mê sẽ tan
biến hết. Tiếp xúc được với bản môn ta được chuyển
hoá ngay tức khắc. Các sư cô, sư chú hãy thí nghiệm phương
pháp này. Hãy đứng ở cõi tích môn, tiếp xúc với bản môn
để thấy mình chuyển hóa. Và khi đã chuyển hóa rồi thì
ta thấy tích môn và bản môn nào khác gì đâu. Bao nhiêu năm
nữa thì các sư chú và sư cô sẽ mỗi người một ngả ?
Giây phút này là giây phút quý báu nhất.