23
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai mươi ba
Hôm
nay là ngày 13 tháng 2, năm 1994. Chúng ta ở tại Xóm Hạ và
chúng ta học tiếp về Bốn Tâm Vô Lượng.
TU
TẬP TỪ QUÁN
Trong
Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), phẩm nói về Nhất Pháp,
Bụt có nói một câu: “ Nếu một vị khất sĩ tu Từ Quán,
dầu chỉ thực tập trong một chốc lát, thời gian bằng một
cái búng tay thôi, thì vị khất sĩ đó đã xứng đáng là
một vị khất sĩ rồi.” Câu nói đó chứng tỏ rằng Từ
Quán rất quan trọng trong đạo Bụt. Bụt nói tiếp: “ Thầy
khất sĩ đó sẽ không thất bại trong thiền định, sẽ làm
được theo lời bậc đạo sư chỉ dạy, sẽ đáp ứng được
những lời khuyến dụ của các vị đạo sư. Và vị đó ăn
cơm tín thí không uổng.” Nếu hàng ngày vị khất sĩ hành
trì Từ Quán, thì còn công đức gì nhiều hơn, và lớn hơn
nữa?
Đứng
về phương diện đối trị cái giận, Từ Quán và Bi Quán
là những phương pháp rất thực tế mà rất mầu nhiệm. Kinh
có nói tới bảy cái bất lợi của sự giận hờn, của người
không chịu buông thả, không chịu chuyển hoá cơn giận của
mình.
Thứ
nhất, người đó trông xấu xí. Cái giận làm tôi xấu. Ta
chỉ cần nhìn vào gương là ta biết Bụt nói đúng. Ý thức
được điều đó, tự nhiên ta nghe một tiếng chuông chánh
niệm, và ta muốn làm một cái gì ngay để nét mặt mình bớt
xấu. Có một bài thực tập để thở khi giận. Thở vào,
chúng ta nói: Cái giận làm tôi xấu. Thở ra, chúng ta nói:
Biết vậy, tôi mỉm cười.
Cái
giận làm tôi xấu
Biết
vậy tôi mỉm cười
Quay
về thủ hộ ý
Từ
quán không buông lơi.
Thở
vào thì ta biết quay về, nắm giữ và thủ hộ tâm ý của
mình. Thở ra, ta biết phải thực tập Từ Quán: Từ Quán không
buông lơi. Chúng ta nên mô phỏng theo bài kệ trên đặt thêm
những bài khác về các điểm bất lợi tiếp theo để thực
tập.
Điểm
bất lợi thứ hai là ta nằm kẹt đau đớn trong cơn giận
của ta. He lies in pain. Người giận nằm co quắp trong niềm
đau của mình. Niềm đau này là do cái giận làm ra. Thứ ba
là không có sự phát triển phong phú. Thân thể cũng như tâm
hồn không phát triển và bừng nở được như một đoá hoa.
Thứ tư là nghèo đi về tiền tài cũng như về hạnh phúc.
Thứ năm là không được tiếng tốt. Thứ sáu là không có
nhiều bạn. Thứ bảy là người đó sẽ tái sanh trong cõi
A Tu La, không có hạnh phúc. Đó là bảy điều bất lợi của
những người ôm cái giận của mình mà không biết buông bỏ
để chuyển hoá.
Cũng
trong Kinh Tăng Chi Bộ, Bụt nói tới mười một cái lợi của
người thực tập Từ Quán và Bi Quán. Ngài nói rằng cái lợi
thứ nhất của người thực tập Từ Quán là ngủ ngon. Thứ
hai là khi thức dậy thấy khoẻ khoắn, nhẹ nhàng trong lòng.
Thứ ba là ngủ không có ác mộng. Thứ tư là được gần
gũi và thân cận với nhiều người. Thứ năm là được thân
cận với cả những loài không phải loài người. Những loài
không phải người tức chim muông, tôm cá, v.v.. cũng không
sợ hãi lánh xa. Thứ sáu là được chư thiện ủng hộ, bảo
vệ. Thứ bảy là không bị lửa, bị chất độc, gươm súng
ám hại. Thứ tám là dễ đi vào thiền định, ta định tâm
rất dễ, (get concentration easily). Thứ chín là nét mặt mình
luôn luôn trầm tĩnh. Thứ mười là lúc chết không có lú
lẫn. Mười một là sau khi chết, ít nhất là sinh vào cõi
trời Phạm Thiên, những người ở trên đó đều ít nhiều
đã tu Từ Quán và Bi Quán.
Trong
Kinh Như Thị Ngữ (Itivutthaka), Bụt cũng nói: Tất cả những
công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không
bằng công đức của sự thực tập Từ Quán. Làm chùa, đúc
chuông, hay làm việc xã hội… tất cả những công đức đó
chỉ bằng một phần mười sáu của công đức thực tập
lòng Từ. Cũng như nhìn lên trời chúng ta thấy trăng và sao,
và nếu ánh sáng của tất cả các ngôi sao họp lại không
bằng ánh sáng của mặt trăng, thì tất cả các công đức
khác gộp lại cũng không bằng ánh sáng của Từ Quán.
QUÁN
CHIẾU ĐỂ TỰ CHUYỂN HÓA
Tu
tập Từ Quán, Bi Quán, Hỷ Quán, và Xả Quán có thể chuyển
hóa hạt giống giận dữ trong ta. Giận luôn luôn có nghĩa
là giận ai, giận gì. Giận những người đã làm cho mình
khổ, trong đó có những người mình gọi là kẻ thù. Đối
tượng của cái giận là đối tượng của tâm, nghĩa là của
nhận thức, của tri giác. Trước hết ta có Tưởng, những
tri giác của ta về đối tượng. Ví dụ khi ta giận cha, giận
mẹ, giận cái thân phận của mình, thì ta phải có tri giác
về cha, về mẹ, về cái thân phận của ta. Vì vậy Từ Quán,
và Bi Quán có liên hệ tới tri giác. Từ sự sai lầm của
tri giác phát sinh sự giận dữ. Quán Từ, Bi, Hỷ, và Xả,
ta phải trở về quán chiếu tri giác của ta thì mới thành
công được. Đó không phải là những ức tưởng, những tưởng
tượng, những mong ước suông (wishful thinking). “Mong rằng
các loài có hạnh phúc. Mong rằng các loài bớt đau khổ”
là một mong ước. “May all beings be happy, may all beings suffer
less”. Đó đã là bắt đầu Từ Quán rồi, nhưng vẫn còn
ở phạm vi ức tưởng. Điều chúng ta phải làm là chiếu
ánh sáng quán niệm vào tri giác của chúng ta về các đối
tượng của tâm. Quán chiếu những gì ta thấy, ta nghe về
cảnh cùng khổ, nỗi chán chường, sự sợ hãi của người,
của các sinh vật chung quanh ta, chúng ta đánh động được
tâm Từ và muốn làm một việc gì đó để tạo ra niềm vui
cho họ. Khi ta thấy đuợc niềm đau, nỗi khổ của một người,
hay một loài nào đó, thì năng lượng của Bi trong ta phát
khởi. Nếu chúng ta không tiếp xúc, không quán chiếu thì ước
muốn không đủ mạnh để chuyển thành hành động.
Cho
nên các bộ Luận phân biệt ra ba loại quán chiếu. Thứ nhất
là quán chiếu tổng quát, chung cho tất cả mọi người, mọi
loài. Biến mãn thành tựu du là bao trùm tất cả, hành giả
theo dõi hơi thở và tập trung tâm ý, tự nói rằng: mong cho
tất cả các loài đều có hạnh phúc. Hay thầm nói: mong cho
các loài bớt khổ đau.
Phép
Quán thứ hai là phân chia ra, để quán từng chủng loại, Ví
dụ thay vì nói về tất cả các loài, thì chỉ nói về loài
người. Mong rằng loài người có thêm hạnh phúc. Mong rằng
loài người nhẹ bớt khổ đau. Rồi thu nhỏ phạm vi đối
tượng của mình lại, thí dụ: mong các trẻ em ở Sarajevo
đừng bị đau khổ nhiều quá, mong rằng hàng ngày các em không
còn bị bom đạn nữa. Vì đối tượng thu nhỏ lại nên ta
thấy rõ hơn, và ta có thể phát triển năng lượng của Từ,
của Bi cụ thể hơn. Thứ ba là hướng tâm mình về một phía,
như phía Đông, phía Tây, phía Nam, phía Bắc, v.v.. Như khi nghĩ
tới các em bé mồ côi, nghèo khổ ở quê hương, thì chúng
ta đang ở Pháp sẽ phóng tâm mình về phương Đông. Ở đó
có các trẻ em miền Bắc, miền Trung, và miền Nam thiếu ăn,
không được đi học, năm bảy tuổi đã phải đi lượm rác
mà sống, v.v..
Trong
Kinh, Bụt chỉ nói một cách tổng quát. Người tu Từ phát
khởi tâm Từ về từng hướng một. Tâm dữ Từ câu biến
mãn nhất phương thành tựu du tức là tâm ta cùng đi với
năng lực của Từ, trùm cả một phương không bỏ sót. Như
thị nhị, tam, tứ phương, tứ duy, thượng, hạ, phổ châu
nhất thiết, tâm dữ Từ câu. Vô kết, vô oán, vô nhuế, vô
tranh, cực quảng, thậm đại, vô lượng thiện tu.
Như
thị nhị, tam, tứ phương nghĩa là đối với phương thứ
hai, thứ ba, thứ tư cũng như vậy. Tứ duy, thượng, hạ là
bốn phương chính và phía trên, phía dưới, Đông, Tây, Nam,
Bắc, Đông Nam, Tây nam, Đông Bắc, Tây Bắc; cộng phía trên
và phía dưới nữa là mười phương. Phổ châu nhất thiết
là bao trùm tất cả, không gian cũng như thời gian. Trong lòng
không có nội kết, không có oán hận, không có căm thù, giận
dữ, không cãi cọ, tranh chấp. Cực quảng thậm đại là rất
rộng, rất lớn. Vô lượng thiện tu là khéo léo tu tập không
biết chừng nào. Khéo léo tu tập như thế nào để tâm Từ
của ta có thể bao trùm tất cả, đi tới tất cả các phương,
và bên trong lòng ta không còn nội kết, không còn oán hờn,
không còn giận dữ, không còn sự tranh chấp; tâm ta trở thành
mỗi lúc càng lớn, càng rộng.
Đoạn
tiếp theo nói rằng đối với Bi, Hỷ, và Xả ta cũng làm như
vậy. Đây là kinh Trung A Hàm, Kinh thứ 86, gọi là Thuyết Xướng
Kinh. Bản dịch tiếng Anh dựa trên tạng Pali như sau: He dwells
suffusing, first, one direction with the heart linked to friendliness,
then the second, then the third, then the fourth, then above, then below,
around and everywhere. Ans so he dwells recognizing himself in all, suffusing
the entire world with the heart linked to friendliness, far reaching, gone
great, unlimited, free from wnmity and malice. Câu recognizing himself
in all là thấy được mình trong tất cả, dịch từ chữ samba
attaya. With the hearth linked to friendliness: đây cũng lập lại
bốn chữ “tâm dữ từ câu”. Hai bên, một bên Nam truyền,
một bên Bắc Truyền, đều lập lại bốn chữ tâm dữ từ
câu lần thứ hai. Mấy ngàn năm rồi so lại ta thấy vẫn còn
giống. Far reaching: cực quảng. Gone great: thậm đại. Và sau
đó cũng nói rằng đối với Bi, Hỷ, và Xả cũng quán tưởng
giống hệt như vậy.
Những
tiếng nhuế, và oán có thể có nghĩa gần giống nhau, nhưng
vẫn có những chi tiết khác nhau. Vì vậy, bản chữ Hán dịch
đủ hết, lời văn đi rất mạnh: Vô kết, vô oán, vô nhuế,
vô tranh, cực quảng, thậm đại, vô lượng thiện tu. Thanh
Tịnh Đạo Luận cắt nghĩa sabattaya là ta thấy mình ở trong
tất cả, (he should indentify himself with all). Atta tức là mình,
sambbe là ở trong tất cả mọi loài. Đó không phải là chuyện
tưởng tượng, không phải là chuyện cầu mong, mà là công
phu quán chiếu. Đồng nhất mình với người, đó là cách
duy nhất để có thể hiểu được người. Tìm hiểu ai, ta
có thể chỉ tiếp xúc hời hợt bên ngoài thôi, nhưng có cách
thứ hai là quán chiếu. Thực tập Từ Quán cũng vậy, ta phải
đi sâu vào trong xương thịt của kẻ đó để thấy rõ được
tình trạng của những niềm đau, nỗi khổ của họ.
Trong
Kinh Niệm Xứ, Bụt thường hay nói: “ Quán niệm thân thể
trong thân thể, quán niệm cảm thọ trong cảm thọ, quán niệm
tâm ý trong tâm ý, quán niệm đối tượng của tâm ý trong
đối tượng tâm ý.” Chữ Hán: Quán thân ư thân. Quán thọ
ư thọ. Quán tâm ư tâm. Quán pháp ư pháp. Có nghĩa là ta không
đứng ngoài để nhìn đối tượng kia như là một thực thể
riêng biệt, mà phải đi vào, đồng nhất mình với đối tượng
đó, thì quán chiếu mới thành tựu. Đó là nguyên tắc quán
chiếu trong đạo Bụt. Có một lần ở Hồng Kông, đi cứu
trợ cho đồng bào ở các trại tị nạn, tôi gặp một thầy
người Đức tu theo Nam Tông. Trong khi ngồi thuyền ra trại
Chimawan, tôi hỏi: Thầy nghĩ sao về câu Kinh đó? Quán thân
trong thân là sao? Thầy trả lời: Lập như vậy để cho người
ta nhớ đây là quán thân chứ không phải là quán tâm hay pháp.
Rồi đến khi nói quán tâm trong tâm cũng vậy, để nhắc cho
người ta nhớ đây là quán tâm trong tâm chứ không phải là
quán tâm trong cái khác. Tôi nói: Nếu như vậy thì nhấn mạnh
không cần thiết. Rồi tôi cắt nghĩa rằng quán tâm trong tâm
là mình đừng nhìn đối tượng đó là một đối tượng
ngoài mình. Mình phải đi vào đối tượng đó. Mình phải
phá được ranh giới giữa chủ thể quán chiếu với đối
tượng được quán chiếu thì mình mới có thể hiểu được
đối tượng. Điều đó có nghĩa là trong đạo Bụt, sự thực
tập quán chiếu phải căn cứ trên nguyên tắc bất nhị. Đối
tượng mình đang quán chiếu, với mình là chủ thể quán chiếu,
chừng nào chúng vẫn là hai khối riêng biệt thì kết quả
sự quán chiếu không thành tực. Thầy ấy đã hiểu và đồng
ý.
Điều
này rất là quan trọng. Khi nào ta làm mất ranh giới giữa
chủ thể và đối tượng thì lúc đó trí tuệ thật sự mới
xuất hiện. Đó là đặc tính rất căn bản trong thiền quán
của đạo Bụt. Quán chiếu cách mấy mà đối tượng kia vẫn
còn tách biệt ở ngoài ta, thì ta chưa có tuệ giác. Điều
này đúng với việc quán chiếu thân thể, với cảm thọ,
với tất cả những tâm hành khác và những đối tượng của
các tâm hành khác. Quán thân như thân. Quán thọ như thọ.
Quán tâm như tâm. Quán pháp như pháp. Nhà thần học đạo
Do Thái Martin Buber, trong tác phẩm I and Thou cũng nói những
kinh nghiệm tương tự. Ông nói rằng khi mình quán chiếu và
tiếp xúc với thượng đế, thì thượng đế không phải là
một đối tượng cứng ngắc, gọi là It. Liên hệ giữa tín
đồ với thượng đế không thể là liên hệ I – It, (không
phải là liên hệ Tôi – và Ngài ở ngoài tôi) mà phải là
liên hệ I – Thou. Trong khi tiếp xúc, làm sao cái bản ngã
của ta phải được tan ra, hòa nhập với đối tượng quán
chiếu, thì ta mới tiếp xúc được với Thượng đế đích
thực. Đó là phương pháp của nhà thần học Martin Buber. Cũng
vậy, phép quán chiếu trong đạo Bụt là phải đi vào, trở
thành một, phải xóa bỏ ranh giới, thì tuệ giác bắt đầu
mới có được.
TỪ
BI LÀ HÀNH ĐỘNG
Gởi
tâm Từ bao trùm tất cả một phương, hai phương, ba phương,
bốn phương... có thể chúng ta chưa hiểu được nỗi khổ,
và niềm đau. Tâm Từ và tâm Bi làm phát sinh những nguồn
năng lượng. Phải thực tập quán chiếu, phải thấy rất
rõ những nỗi khổ, niềm đau, và nhu yếu hạnh phúc của
người thì năng lượng Từ, Bi mới trào dâng. Khi mà năng
lượng của Từ, của Bi, của Hỷ, và của Xả trào dâng sung
mãn, như là đào giếng tới lúc mạch nước phun lên, thì
những nội kết, oán thù, giận hờn, và tranh chấp mới tiêu
tan, và con người của ta mới đổi mới. Lúc đó thì năng
lượng của Từ và Bi mới biến được ra thành hành động,
ngay trong đời sống hằng ngày của ta. Dù không ai khuyên nhắc,
ta vẫn làm việc độ sanh giúp đời như thường.
Cụm
từ « như trở thành một với tất cả » rất quan trọng.
Ví dụ khi ta giận một người, nghĩ rằng người đó là nguồn
gốc bao nhiêu khổ đau của ta. Căn cứ trên nhận thức đó,
ta nuôi dưỡng niềm oán hận, tự làm cho ta khổ, và cũng
làm cho người ấy khổ. Vậy ta phải quán chiếu. Nhưng quán
chiếu thế nào ? Không thể chỉ nói: người ơi, tôi thuơng
người lắm. Phải quán chiếu sâu vào nội tâm và cuộc đời
của con người mà ta đang giận. Phải thấy được chính người
đó cũng có những niềm đau, và nỗi khổ sâu xa. Những niềm
đau nỗi khổ này có thể đã từ các thế hệ trước truyền
lại, có thể từ xã hội, giáo dục, và học đường gây
ra. Khi suy nghĩ thật sâu, ta thấy được tất cả những điều
đó. Thấy được như vậy là tiếp xúc trực tiếp và sâu
sắc. Đó là quán chiếu. Tiếp xúc được sâu sắc thì mạch
nước của Từ, của Bi, của Hỷ, và của Xả mới trào lên.
Khi mạch nước của Từ, Bi, Hỷ, Xả đã trào lên thì những
nội kết, những khổ đau của chính ta mới tan loãng và được
chuyển hóa. Không phải chỉ do ước mơ hay chúc tung mà cơn
giận chuyển hóa.
Trong
truyền thống đạo Bụt, các thầy luôn luôn khuyên ta phát
khởi Từ, Bi, Hỷ, và Xả đối tới những người ta thân
cận trước. Thí dụ ta bắt đầu từ thầy, tổ, nơi những
vị mà ta đã tiếp nhận pháp môn tu học. Khi ta nghĩ tới
các vị, đi vào tâm tư các vị, thì lòng thương mến, biết
ơn, và nỗi vui mừng phát sinh trong ta một cách dễ dàng. Lễ
năm lễ hôm tết, chúng ta đã thực tập theo truyền thống
này. Năm lễ bắt đầu bằng việc quán tưởng về những
người máu mủ thân thiết và gia đình tâm linh. Trong khi lạy
xuống một lạy ta đồng thời quán chiếu, làm nảy sinh trong
lòng những năng lượng của Từ, Bi, Hỷ, và Xả. Nếu lạy
xuống mà không quán chiếu, ta sẽ không thể đi sâu vào trong
gia đình tâm linh của ta, không thể thấy rõ được Thầy,
được các vị Tổ Sư, được Bụt. Như thế thì trong thời
gian hai phút, hoặc ba phút lễ lạy những nguồn năng lượng
của Từ, Bi, Hỷ, Xả không thể phát sinh.
Khi
ta lạy cái lạy thứ nhất, năm vóc sát đất, ta tiếp xúc
với cha mẹ ta rất cụ thể. Xương, thịt, máu huyết, những
nhiễm thể của cha mẹ, và ông bà truyền lại. Ta thấy rất
rõ cha mẹ, và ông bà với tất cả hạnh phúc và khổ đau,
đang có mặt trong ta. Trong thời gian hai phút, nằm rạp xuống
để quán chiếu, ta đi vào gia đình huyết thống và gia đình
huyết thống cũng đi vào ta. Từ, Bi, Hỷ, và Xả phát sinh
ra những nguồn năng lượng. Đó gọi là phổ châu nhất thiết.
Lạy
thứ tư là để tiếp xúc với những người ta thương. Người
ta thương có thể là những người đã quá cố. Lạy xuống,
ta đem những năng lượng Từ, Bi, Hỷ, và Xả hướng đến
cha, mẹ, anh, chị, em, ta mong ước cho ta họ vui tươi, có khả
năng sống hạnh phúc mỗi ngày. Người hướng dẫn nói: Con
xin truyền năng lượng cho những người con thương. Người
thực tập phải thấy cho được cha mẹ hoặc anh chị em mình
một cách cụ thể. Đó là quáng tưởng và thực tập.
Lạy
thứ nhất, thứ hai và thứ tư đều dễ thực tập. Lạy thứ
ba là để tiếp xúc với xứ sở, với quốc gia nơi ta sống,
tiếp xúc với tất cả những người đã từng khai phá, thành
lập, xây dựng đất nước, giữ gìn bờ cõi, xây cầu cống,
làm đường xá, thiết lập các định chế bảo vệ đời
sống và hạnh phúc cho cộng đồng. Mỗi khi lái xe qua cầu,
ta có chánh niệm, biết rằng cây cầu này xây lên được
là do công sức bao nhiêu người. Đất nước này có an ninh,
có trật tự, v.v.. là công trình của rất nhiều người. Khi
lạy xuống như vậy, ta phải phổ nhập nhất thiết, (recognizing
oneself in all), thì mới phát sinh lòng cảm thương, lòng biết
ơn, và niềm hoan hỉ.
Trong
cái lạy thứ năm, ta dùng năng lượng nuôi dưỡng từ bốn
lạy đầu để tiếp xúc với những người đã làm ta khổ.
Ta lạy xuống, nhìn cho rõ người ấy, với tất cả những
yếu đuối, và sai lầm của người ấy. Người ấy đã không
may tiếp nhận những hạt giống khổ đau nhiều quá. Vì thế
người ấy đã làm khổ ta, làm khổ gia đình, làng xóm, và
đồng bào ta. Nhưng người ấy cũng đang đau khổ, và những
nỗi khổ đó vẫn kéo dài. Có một cựu chiến binh Hoa Kỳ
trong thời gian chiến tranh đã gây ra cái chết của năm đứa
trẻ con ở Việt Nam. Trong suốt 20 năm sau đó, ông ta vẫn
khổ đau mãi về hình ảnh kia. Bạn đồng đội của ông ta
bị phục kích chết. Ông đã chứng kiến, đã căm thù, đã
bày ra một cuộc phục kích để trả thù lại bên địch.
Trong số những dân làng chết, có năm đứa trẻ. Hình ảnh
đó nằm mãi trong đầu ông. Trong hai mươi năm, hễ nhận ra
là mình đang ngồi trong phòng với trẻ em là ông ta hoảng
hốt, thét lên, và chạy ra ngoài. Mãi cho đến khi gặp thầy,
gặp bạn, học quán chiếu, và tu tập thì người cựu chiến
binh ấy mới tự giải thoát được. Sau bảy tháng thực tập,
ông ta đã được chuyển hóa. Lấy oán trả oán thì không
bao giờ hết. Thù oán sẽ luân hồi mãi mãi, và khổ đau của
ta cũng vậy. Lạy thứ năm là phát nguyện cho những người
đã làm khổ mình cũng cùng chấm dứt được luân hồi, hết
khổ, biết lấy Từ Bi để đáp lại căm thù. Cho nên khi lạy
xuống, ta phải tâm niệm: « Con không muốn người đó khổ.
Con không muốn gia đình người đó khổ. Con muốn người đó
có thể nở được nụ cười. Con muốn người đó có thể
có được niềm vui. Thật tình con mong muốn người ấy chấm
dứt nỗi khổ. Và vì vậy con sẵn sàng truyền sang ngưòi
ấy năng lượng Từ Bi Hỷ Xả của con. Xin Bụt, xin các vị
Tổ Sư, xin ông bà, cha mẹ giúp con truyền cho người ấy những
năng lượng và niềm vui đó. » Lạy xong tâm ta sẽ nhẹ đi,
và ta tự giải thoát.
Các
Tổ hay khuyên ta bắt đầu quán Từ Bi với những người mình
thương trước. Rồi mới tới những người ta thương ít,
hay những người gọi là người dưng nước lã. Ta dửng dưng
với họ tại vì lâu nay ta coi họ là người xa lạ. Như những
em bé bị giết ở Rwanda, những em bé đã chết và đang chết
vì nội chiến ở Sarajevo, hay những em bé đang chết đói ở
Somali. Đọc báo ta biết họ khổ nhưng ta không có thì giờ
để quán chiếu, vì ta nghĩ họ là « người dưng ». Sau khi
đã tiếp xúc sâu sắc với người mình thương rồi, ta phải
tiếp xúc với những người gọi là người dưng và quán chiếu
như thế ta làm cho người dưng trở thành người thân thiết,
trở thành đối tượng đích thực của Từ Bi ta. Sau cùng,
ta tiếp xúc với những người mà ta thù ghét, những người
đã làm khổ ta. Nếu thành công trong hai bước đầu thì đến
bước thứ ba này thế nào cũng thành công. Có người thực
tập lạy suốt ngày. Học lạy một ngàn không trăm tám mươi
lạy (1080) lạy buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Nhưng
lễ lạy thành công hay không, là do ta có quán chiếu hay không.
Lễ lạy như một cái máy, cũng chỉ là tập thể thao thôi
chứ không có ích lợi gì mấy.
TỨ
VÔ LƯỢNG TÂM VÀ THIỀN QUÁN
Tóm
lại, Tứ Vô Lượng Tâm là một phương pháp tu tập thiền
quán. Mới nghe đến Tứ Vô Lượng Tâm, ta cảm nghĩ giáo lý
này hướng về tình cảm, nhưng tình cảm của Tứ Vô Lượng
Tâm được tạo bằng chất liệu trí tuệ, tức là thiền
quán. Tâm Từ chứa Bi, chứa Hỷ, và chứa Xả. Tình thương
mà còn kỳ thị, còn phân biệt, tình thương mà không có niềm
vui thì chưa phải là tình thương trong đạo Bụt. Tâm Bi cũng
phải được làm bằng chất liệu của Từ, Hỷ, và Xả mà
không có Từ, bi, và Xả thì cũng không phải là Hỷ trong đạo
Bụt. Xả trong đạo Bụt có nghĩa là không dính mắc, không
phân biệt, kỳ thị nhưng không có nghĩa là trốn tránh trách
nhiệm. Phải có một thệ nguyện, một sự cam kết. Đây không
phải là dửng dưng như người ta hiểu khi dịch Xả là indifference.
Xả đây có nghĩa là Bất Xả, tức là buông nhưng không bỏ.
Chúng ta khấn nguyện: « Xin chư Phật từ bi bất xả
». « Các vị Bụt xin đừng bỏ con tội nghiệp ». Xả
đây không có nghĩa là không thương mà lại là bí quyết của
tình thương chân thật trong đạo Bụt. Tứ Vô Lượng Tâm
là giáo lý của Bụt về tình thương (the Buddhist teachings on
love). Edward Conze khi viết về Từ, Bi, Hỷ, và Xả đã gọi
giáo lý này là « The cultivation of social emotions », như vậy
đã là làm nghèo nội dung của bốn tâm vô lượng.
Tu
tập bốn tâm này, ta sẽ đi tới giải thoát hoàn toàn, chứ
không phải chỉ để có mục đích sanh lên cõi trời Phạm
Thiên. Trong thời đại Bụt nhiều người tin tưởng ở Phạm
Thiên (Brahma). Ao ước của họ là khi chết được sinh lên
và cộng trú với Phạm Thiên, cũng tương tợ như những tín
hữu Cơ Đốc Giáo mong được về nước Chúa. Trong kinh, Bụt
đã có một thái độ rất từ ái đối với những người
tin vào một Đấng Tối Cao và ước ao sau khi chết trở về
gần gũi với Đấng Tối Cao ấy. Bụt không có thái độ đả
phá, Bụt nói rằng Phạm Thiên, Brahma, là một đấng có Từ,
có Bi, có Hỷ, và có Xả. Nếu quý vị muốn lên sống bên
Ngài thì quý vị phải tu Từ, Bi, Hỷ, và Xả. Bụt không nói:
« Không có Phạm Thiên đâu. Bạn đừng hy vọng hão huyền.
Bạn hãy tu theo tôi và hãy từ bỏ tất cả những tín ngưỡng
của bạn. »
Nếu
bậc Thầy của chúng ta đã làm như thế thì ta cũng nên theo
con đường ấy. Giáo lý Cơ Đốc dạy rằng Thượng Đế là
tình thương (Dieu est amour). Người Phật tử chúng ta cũng phải
nói: « Thượng đế là tình thương. Nếu muốn được Chúa
yêu mến, nếu muốn về nước Chúa, quý vị phải thực tập
tình thương chân thật. » Và theo chúng tôi, tình thương chân
thật phải có chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, và Xã. Rồi chúng
ta đề nghị những phương pháp thực tập tình thương cụ
thể. Tình thương mà người đời xử dụng có ý nghĩa rất
mù mờ. Có khi thương nghĩa là đam mê, vướng mắc, khổ đau;
đó không phải là tình thương đích thực ta nên thực tập.
Vì vậy quí vị có thể sử dụng những phương pháp nuôi
dưỡng, và phát triển tình thương nơi mình. Như thế chuyện
trở về với Thượng đế, sống bên Thượng đế mới trở
thành sự thật được. Con người đầy hận thù làm sao có
thể sống chung với Đấng Tình Thương?
Giáo
lý Tứ Vô Lượng Tâm mầu nhiệm vô cùng. Chúng ta hay nói
về thương yêu nhưng chúng ta ít biết được bản chất của
thương yêu. Chúng ta đã học, chúng ta đã biết những yếu
tố nào có thể làm nên tình thương yêu đích thực, và biết
những phương pháp cụ thể để tạo ra chất liệu thương
yêu, để chuyển hóa cả người thuơng và ngưòi được thương.
Phưong pháp năm cái lạy, chẳng hạn, rất cụ thể. Ngoài
phương pháp đó ra chúng ta còn rất nhiều phương pháp khác
nữa. Có một loại tình thương gọi là tình thương chiếm
hữu (possesive love) không mang lại tự do, không đích thực
là thương. Tình thương đích thực phải có Xả, tức là không
kỳ thị và vướng mắc. Vậy tại sao chúng ta không thực
tập và không chia xẻ ? Tại sao không viết một bài về tự
do trong tình thương ? Đó là những đề tài rất mới, và
cũng rất cũ. Niềm vui trong tình thương là một đề tài khác
nên viết. Khi viết ta lấy kinh nghiệm của ta, lấy khổ đau
của ta, lấy hạnh phúc của ta làm chất liệu. Ta thấy rằng
thực tập đạo Bụt không khô khan chút nào. Thực tập trong
đạo Bụt đem lại niềm vui và sự chuyển hóa. Đó là nhờ
tình thương đích thực trong bốn tâm vô lượng.