21
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai mươi mốt
Hôm
nay là ngày 3 tháng 2 năm 1994, chúng ta ở Xóm Thượng và học
tiếp về bát chánh đạo. Bài hôm nay đề cập đến giáo
lý duyên khởi.
Duyên
khởi là căn bản của Chánh Kiến. Có Chánh Kiến tức là
cái thấy sâu sắc và đứng đắn về Duyên Khởi. Chúng ta
đã biết Vô Thường và Vô Ngã cũng chỉ có nghĩa Duyên Khởi.
Chữ Duyên tiếng Phạn là pratyaya, tiếng Pali là paccaya. Trong
kinh Bụt thường nói rất đơn giản về Duyên Khởi. Ngài
nói: “cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia
không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia
diệt.” Có khi Ngài dùng hình ảnh của một bó lau: một cọng
lau, hai cọng lau, ba cọng lau nương vào nhau mà đứng vững.
Khi một trong những cọng lau đổ xuống thì các cọng lau kia
cũng đổ theo.
Đạo
Bụt Nam Truyền nói tới hai mươi bốn Duyên. Tư tưởng về
24 Duyên này được ghi lại trong tác phẩm Visuddhimagga (Thanh
Tịnh Đạo Luận) của thầy Phật Âm (Buddhaghosa). Thầy Phật
Âm phối hợp giải thích Hai Mươi Bốn Duyên đó với Mười
Hai Nhân Duyên. Cách diễn giảng rất chi li, phức tạp, đối
với những người mới học khó mà hiểu được. Đạo Bụt
Nam Truyền trong hệ phái Xích Đồng Diệp Bộ (nay là Theravada)
đã tiếp nhận sự truyền thừa từ Phân Biệt Thuyết Bộ
trong Thượng Toạ Bộ. Trong khi ở miền Nam nói về 24 Duyên
thì Hữu Bộ tại miền Bắc lại có ý niệm về Bốn Duyên.
Mà Hữu Bộ cũng xuất phát từ Thượng Toạ Bộ. Chắc hẳn
ngày xưa đã từng có những lý thuyết chi li hơn về Duyên
Khởi. Nhưng sau đó vì sự học hỏi và hành trì nên người
ta đã thâu tóm và giản lược lại. Đầu khóa tu chúng ta
đã đọc tên 24 Duyên của Đạo Bụt Nam Truyền. Bây giờ
chúng ta nhìn lại Bốn Duyên Khởi theo Đạo Bụt Bắc Truyền.
BỐN
DUYÊN VÀ SÁU NHÂN
Duyên
nói chung là những điều kiện để cấu thành các hiện tượng
về tâm cũng như thân. Trong Bốn Duyên, loại duyên thứ nhân
là Nhân Duyên. Nhân tức là hạt giống từ đó sinh ra quả.
Duyên là một điều kiện. Khi ta nói Nhân Duyên thì Nhân là
một thứ duyên, một điều kiện để tác thành. Điều kiện
đầu tiên là có sẵn hạt giống. Ví dụ chúng ta có một
hạt giống của giác ngộ, của chánh niệm trong ta. Đó là
một duyên đầu, gọi là Nhân duyên. Bụt dạy rằng tất cả
mọi chúng sinh đều có hạt giống của giác ngộ, của hạnh
phúc. hạt giống đó vì còn bị ngăn trở không cho trưởng
thành nên ta cứ trầm luân trong biển khổ. Chúng ta cũng có
hạt giống của niềm tuyệt vọng. Nếu chúng ta cứ tự tưới
tẩm hoặc để cho người khác tưới tẩm hạt giống đó,
thì một ngày kia niềm tuyệt vọng cũng sẽ lớn lên, tràn
lấp tâm ta và sẽ làm ta đau khổ. Chúng ta có hạt giống
của giác ngộ, của niềm tin, của tình thương nhưng chúng
ta cũng có hạt giống của niềm tuyệt vọng và của
sự căm thù. Hạt giống đó là điều kiện tác sinh, gọi
là Nhân.
Loại
điều kiện thứ hai gọi là duyên Tăng Thượng. Tăng tức
là thêm. Thượng tức là trồi lên. Loại điều kiện thứ
hai là giúp vun trồng và tưới tẩm thêm cho hạt giống đầu
phát triển. Nếu hạt giống của niềm tin trong ta mỗi ngày
được tăng thân, được thầy, được bạn tưới tẩm cho,
thì niềm tin đó ngày càng lớn. Duyên Tăng Thượng có hai
trường hợp: thuận và nghịch. Những điều kiện thích hợp,
nâng đỡ, bổ túc thì gọi là thuận. Ví dụ niềm tin của
chúng ta mỗi ngày đều được các bài Pháp Thoại của thầy
hay lời khuyên nhủ của các sư anh, sư chị hỗ trợ, thì
đó gọi là duyên Tăng Thượng thuận. Nếu có người ngày
nào cũng nói những điều làm cho chúng ta nghi ngờ, thì niềm
tin của chúng ta ngày càng bị yếu, đó là duyên Tăng Thượng
nghịch. Nhiều khi duyên nghịch cũng có thể giúp chúng ta được
chứ không phải chỉ có duyên thuận. Nếu chỉ gặp những
thuận duyên thôi thì có thể chúng ta không biết quý. Gặp
sóng gió ba đào, khó khăn trắc trở, niềm tin và sức mạnh
có thể nhờ thế lớn lên. Gặp những duyên nghịch thì mình
mới biết sức mình, được đào luyện trong những điều
kiện khó khăn như thép đã được tôi luyện trong lửa. Thành
ra những duyên nghịch cũng có thể có ích lợi. Nếu Bụt
không trải qua những năm tháng tu khổ hạnh thất bại thì
Bụt đã không dạy con đường Trung Đạo, con đường không
hành hạ xác thân mà cũng không đắm chìm trong năm thứ dục
lạc.
Thứ
ba là duyên Thứ Đệ, có khi gọi là Đẳng Vô Gián Duyên.
Thứ Đệ tức là có trước có sau. Đẳng tức là bằng nhau,
bình thường, đều đều. Vô-gián nghĩa là không gián đoạn.
Sự hình thành nào cũng cần được liên tục, không gián đoạn.
Ví dụ như sự tu học cần được tiếp tục ngày này sang
ngày khác không gián đoạn thì mới thành công được. Tục
ngữ có câu “cóc bỏ vào đĩa” là nói những người không
đủ kiên trì, không tạo được duyên thứ ba là duyên Thứ
Đệ. Luộc khoai mà đốt lửa thật lớn trong ba phút rồi
tắt lửa, rồi hai phút sau đốt lửa rồi lại tắt, cứ như
vậy thì không bao giờ khoai chín cả. Đó là thiếu Đẳng
Vô Gián duyên.
Thứ
tư là duyên Sở Duyên. Sở duyên là đối tượng. Nếu không
có đối tượng thì không có chủ thể; như niềm tin thì có
đối tượng của niềm tin, niềm tuyệt vọng cũng có đối
tượng của niềm tuyệt vọng. Đối tượng đó gọi là Sở
Duyên (object), còn chủ thể gọi là Năng Duyên (subject).
Muốn
hiểu vai trò và tác động của bốn loại duyên chúng ta nên
nhìn dưới ánh sáng của Duy Biểu Học - thường gọi là Duy
Thức Học. Trước hết, các tâm hành đều có chủ thể và
đối tượng, không thể tách rời nhau. Thử hình dung tâm của
chúng ta, phía trên là ý thức và phía dưới là tàng thức.
Chúng ta hãy nói đến một tâm hành, ví dụ một niềm đau
khổ. Niềm đau khổ ấy có hạt giống sẵn trong tàng thức.
Hạt giống đó có thể nằm im trong bao nhiêu năm ta không cảm
thấy gì hết. Niềm đau không phát hiện lên trên ý thức,
vì hạt giống ấy chưa được tưới tẩm. Hạt giống là
duyên Nhân.
Bây
giờ nếu có những điều kiện tưới tẩm từ cha mẹ, anh
em, xã hội, học đường thì hạt giống đó có cơ hội nẩy
mầm. Mọi người có thể tưới tẩm nó bằng lời nói, cử
chỉ, cái nhìn và hành động. Một hạt giống có thể được
tưới tẩm bằng sự có mặt của những hạt giống khác.
Những hạt giống phiền não khác tưới tẩm hạt giống phiền
não này. Những yếu tố nội tại và những tác động bên
ngoài đó đều được gọi là những duyên Tăng Thượng.
Việc
tưới tẩm xảy ra liên tục. Ngày ngày ta cũng nghe, cũng thấy,
ngày nào cũng xúc tiếp, hạt giống đau buồn ấy tiếp tục
lớn lên, biểu hiện trên mặt ý thức. Và đây là loại duyên
thứ ba, gọi là duyên Thứ Đệ. Giả thử niềm đau đó
không có duyên Thứ Đệ, như ta được đưa về một môi trường
khác, một tăng thân có hạnh phúc để tu học, để thực
tập chánh niệm, chánh ngữ, chánh kiến, thì sự tưới tẩm
hạt giống khổ đau tự nhiên ngừng lại, bị gián đoạn,
và duyên Thứ Đệ không còn nữa. Sự phát hiện hạt giống
bất thiện có thể ngừng lại để ta thực tập tưới tẩm
những hạt giống thiện.
Và
cuối cùng, đến các điều kiện thứ tư là duyên Sở Duyên.
Niềm đau khổ phải có một đối tượng để phát hiện,
như đau khổ về một chuyện gì: về tương lai, thân phận,
hạnh phúc hoặc tình thương. Đối tượng đó gọi là duyên
Sở Duyên.
Trong
truyền thống đạo Bụt Bắc Tông, từ bộ phái Hữu Bộ đã
phát xuất quan niệm về Bốn Duyên và Sáu Nhân mà sau này
tông Duy Thức trong Đại Thừa đã khai triển. Tất cả mọi
hiện tượng đều có thể giải thích do bốn loại duyên mà
thành hình.
Khi
chúng ta quán chiếu về một hiện tượng của tâm hay của
thân, chúng ta phải quán chiếu đến cội nguồn và phải thấy
được bốn loại điều kiện ấy. Riêng về điều kiện đầu,
Nhân duyên, chúng ta có thêm lý giải về Sáu Nhân, tức là
sáu loại hạt giống của sự hình thành.
Trước
hết là nhân Năng Tác (nói lối Hán Việt là Năng Tác Nhân),
tức là nhân đầu tiên điều động và tạo tác. Nhân Năng
Tác có hai tác dụng: tác dụng dữ lực, nghĩa là tạo cho
sức mạnh (empowering); và tác dụng bất chướng, nghĩa là
không gây chướng ngại (non-resistant). Nhân thứ hai là Câu
Hữu. Câu Hữu (co-existing) tức là cùng có mặt, tiếng Phạn
là sahabhuta, là những nhân có đồng thời với nhau, không
có cái nào trước, không có cái nào sau. Ví dụ như khi ta
vẽ một đoạn thẳng AB thì ta thấy đầu A và đầu B đều
hiện diện, nếu đầu B không có thì đầu A cũng không có;
dù đường ngắn hay đường dài cũng vậy. Có A là có B, có
B là có A; B làm ra A, A làm ra B; B và A cùng có một lần. Câu
hữu có nghĩa như vậy. Điều này cũng là đặc tính của
những ý niệm có và không, trên và dưới, trong và ngoài,
trước và sau, sinh và tử.
Thứ
ba là nhân Đồng Loại. Đồng Loại tức là cùng chủng loại
(of the same kind, same category). Những nhân đó cùng là nhân tốt
hay cùng là nhân xấu. Ví dụ ta có hạt giống của niềm tin
và có thêm hạt giống của niềm vui; tin tưởng đưa đến
sự vững chãi và sự vui tươi lại đưa tới sự tin tường
và vũng chãi. Hai nhân đó cùng nâng đỡ nhau, gọi là nhân
Đồng Loại.
Thứ
tư là nhân Tương Ưng. Tương Ưng (sampayupta) là hai cái đáp
ứng với nhau, cộng tác với nhau (associating). Hai cái có thể
là khác nhau nhưng tương ứng với nhau. Nhân này tiếp ứng,
hỗ trợ cho nhân kia để lớn mạnh thì gọi là Tương ưng.
Thứ
năm gọi là nhân Biến Hành (sanvatraga). Biến Hành tức là
hoạt động khắp nơi, có mặt khắp nơi (all pervading, universal).
Ví dụ như nước có tính cách biến hành, chỗ nào nước
cũng có mặt: trong cơ thể chúng ta, trong cây cối, trong đất,
trong không khí đều có nước. Những tâm hành Xúc, Tác Ý,
Thọ, Tưởng, Tư là những tâm sở biến hành ở đâu cũng
có.
Nhân
thứ sáu gọi là nhân Dị Thục (vipaka). Dị thục ở đây
tức là nói về Tàng Thức. Dị tức là khác nhau. Thục tức
là chín. Chữ Dị có ba hình thức: khác thời, khác loại và
thay đổi. Dị thời nhi thục tức là có những nhân chín sớm,
có những nhân chín trễ. Ví dụ như một nải chuối; nải
chuối chưa chín lắm chúng ta mang về để trên bàn, nải chuối
ở trong nhà ấm áp sẽ từ từ chín. Nghĩa thứ hai của Dị
là khác loại. Dị loại nhi thục tức là không cùng một loại.
Ví dụ như xoài và chuối khác nhau; khi chuối chín thì thành
ra chuối chín, khi xoài chín thì không thành ra chuối chín.
Khác nhau là dị loại. Nghĩa thứ ba của Dị là Biến Dị
Nhi Thục. Khi còn xanh, còn non thì quả nó khác, khi chín thì
nó khác. Hạt giống thế này, đến khi thành trái cây chín
muồi nó lại khác. Người ngồi thiền, mới ngồi thì thấy
hơi khó chịu, không được thoải mái lắm. Nhưng ngồi được
chừng 20, 30 phút thì chuyện thiền toạ đã chín và ta cảm
thấy thư thái, an lạc; trong đó cũng có nhân Biến Dị Nhi
Thục. Ngồi cho đúng phép, có duyên Nhân, duyên Tăng Thượng,
duyên Thứ Đệ và duyên Sở Duyên thì ngồi thiền thành công.
Tại sao có người trông mong đến giờ để được đi thiền
hành, lại có người nghe chuông thiền hành thấy mệt nhọc
trong lòng? Đó là tuỳ thuộc những thứ duyên khác nhau.
MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN
Thuyết
Duyên Sinh mà cả Bắc Tông và Nam Tông đều nói tới một
cách rất kỹ lưỡng gồm Mười Hai Chi Phần (Anga). Đó là
Mười Hai Nhân Duyên, từ Vô minh cho tới Lão tử. Trong Kinh
Đại Duyên (Mahanidana) và trong nhiều Kinh khác Bụt cũng nói
tới 12 Nhân Duyên. Vì thế con số 12 có tính chất linh thiêng.
Trước
hết là Vô Minh, không sáng. Vô Minh tức là sự mù mờ, là
bóng tối, không hiểu, hiểu lầm, mê mờ, hồ đồ, rối rắm.
Duyên
thứ hai được nói tới là Hành. Hành tức là một động
lực trong tâm khi bị quấy động lên bởi Vô Minh. Cái giận,
cái thù, cái ghét, cái bực bội của mình, tất cả đều
do Vô Minh quấy động. Ta muốn nói cái này, muốn làm cái
kia là vì những Hành do Vô Minh quấy động.
Thứ
ba là Thức, Thức ở đây phải được hiểu là toàn thể
tâm thức của chúng ta: cá nhân và tập thể, ý thức và tàng
thức, chủ thể và đối tượng. Mà nói đến Thức là chúng
ta đã thấy có Vô Minh và Hành trong ấy. Tại vì Thức được
làm bởi Vô Minh và Hành. Vì chứa tính sai lầm, vì chứa mầm
khổ đau cho nên gọi là Thức. Nếu không thì nó đã được
gọi là Trí. Có Vô Minh gọi là Thức, có Minh gọi là Trí.
Thức
làm phát hiện ra Danh Sắc. Sắc tức là phần vật chất, sinh
lý và Danh là phần tâm lý. Danh Sắc nằm trong Thức. Sắc
là đối tượng của Thức mà Danh cũng là đối tượng của
Thức. Ví dụ khi chúng ta nhìn bàn tay, thì bàn tay là đối
tượng của Thức. Khi chúng ta tiếp xúc với cái giận, cái
buồn, với hạnh phúc của chúng ta thì cái giận, cái buồn,
và cái hạnh phúc ấy cũng là đối tượng của Thức.
Lục
Nhập tức là sáu căn và sáu trần. Căn là mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý. Trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và
pháp. Lục Nhập nằm trong Danh Sắc. Sáu căn tiếp xúc với
sáu trần tạo thành sáu thức.
Lục
Nhập tạo ra Xúc, một tâm sở Biến Hành mới nói ở trên.
Có sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý và có sáu trần
sắc. thanh, hương, vị, xúc và pháp làm đối tượng, thì
có xúc. Xúc là tác động giữa căn và trần.
Sự
xúc chạm đó tạo ra Thọ, cảm thọ dễ chịu, khó chịu hay
là trung tánh. Trong trường hợp đó là lạc thọ thì chúng
ta có thể vướng vào Ái. Ái tức là sự vướng mắc. Thứ
chín là Thủ. Thủ tức là bị kẹt vào. Vì vướng mắc cho
nên ta bị kẹt vào. Kẹt vào mới sinh chuyện ra, gọi là Hữu.
Hữu tạo ra Sinh. Và có Sinh thì thế nào cũng có già chết,
tức là Lão - Tử. Đó là mười hai Nhân Duyên.
Trong
những Kinh đầu nói về đạo lý Nhân Duyên, có khi Bụt chỉ
nói tới 9 Nhân Duyên, có khi nói tới 10 Nhân Duyên. Trong những
lần thuyết pháp sau, Bụt thêm vào thành ra mười hai. Luận
Đại Tỳ Bà Sa của Hữu Bộ nói đạo lý Nhân Duyên có thể
trình bày qua một chi cũng được, hai chi cũng được, ba, bốn,
năm, sáu, bảy, chín, mười hoặc mười hai chi cũng được.
Nếu một chi thì nói rằng các pháp hữu vi nương nhau mà có.
Nếu hai chi thì nói là Nhân và Quả: đạo lý Nhân Duyên cũng
gọi là Nhân Quả. Nếu là ba nhân duyên thì sẽ là Tam Thế:
Quá khứ, Hiện tại và Vị lai. Nếu là bốn nhân duyên thì
kể Vô Minh, Hành, Sinh và Lão Tử; tám duyên kia cũng nằm gọn
trong bốn duyên này. Nói năm nhân duyên thì kể Ái, Thủ, Hữu,
Sinh và lão Tử. Nếu chia ra sáu thì ba lần (Tam Thế) nhân
với hai (Nhân và Quả), tức là Nhân và Quả của Quá khứ
là hai, thêm Hiện tại vào là bốn, và thêm Tương lai vào
thì tất cả là sáu Nhân Duyên.
Chín
Nhân Duyên là do chính Bụt nói. Trong Kinh Đại duyên (Mahanidana).
Trường Bộ Kinh thứ 19 ở tạng Pali, Bụt không nhắc tới
ba duyên Vô Minh, Hành và Lục Nhập. Sở dĩ Bụt không nói
đến Vô Minh và Hành là vì trong Thức đã có bản chất Vô
Minh, có vọng tưởng và vọng động là Hành. Nếu không có
vọng tưởng và vọng động thì không gọi là Thức, phải
gọi là Trí. Không có Lục Nhập là vì trong Xúc, và Thọ đã
có Lục Nhập, Danh Sắc cũng hàm chứa Lục Nhập. Vì cái này
gồm tất cả các cái kia, phân tích ra cho rõ trong một chi
phần đã có tất cả các chi phần. So sánh kinh điển Nam Truyền
với kinh điển Bắc Truyền, ta thấy kinh chữ Hán là Tạp
A Hàm và kinh Pali là Tương Ưng Bộ đều có một kinh trong
đó Bụt chỉ nói về mười Duyên thôi, không kể tới Vô
Minh và Hành.
Như
vậy, có lúc Bụt nói 9 Duyên, có lúc Bụt nói 10 Duyên và
có lúc Bụt nói 12 Duyên. Trong lúc giáo hóa Ngài đã tùy trình
độ đại chúng để khai triển dần dần. Bụt đưa ra giáo
lý Nhân Duyên đơn sơ lúc ban đầu rồi từ từ khai triển.
Vì vậy không phải thuyết 9 Duyên là đúng, hay 10 Duyên, hau
12 Nhân Duyên là đúng, thuyết nào cũng đúng cả. Hai Duyên
Vô Minh và Hành đã được nói tới từ thời Bụt, không phải
do các thầy thêm vào sau. Khi nghiên cứu kinh điển một các
khoa học chúng ta thấy điều đó. Trong Tạp A Hàm và Tương
Ưng Bộ, có một kinh Bụt bắt đầu từ Lão Tử, những khổ
đau của sự già chết, và Bụt đi ngược trở lại. Bụt
nói rằng Danh Sắc duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, tạo ra
bao nhiêu khổ đau, đưa tới Sanh và Lão Tử. Kinh Đại Duyên
trong Trường Bộ nói tới chín nhân duyên, tuy dài nhưng không
hẳn là một kinh nói sau. Chúng ta có khuynh hướng cho kinh dài
được nói sau, nhưng có thể kinh này đã được nói trước.
Có những Kinh ngắn nói tới 12 Nhân Duyên trong khi Kinh này
chỉ nói 9 Nhân Duyên.
Học
về nền văn học Abhidharma, tức là Luận Tạng, cũng có nhiều
điều lý thú. Những tác phẩm Abhidharma ban đầu đã được
các thầy viết dưới hình thức kinh. Vì các thầy còn dè
dặt, nói thác lời Bụt cho có uy tín. Giai đoạn thứ hai của
Abhidharma có tính cách độc lập, nên gọi đúng là Abhidharma.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn phát triển, phân tích tỉ
mỉ, dài truờng giang đại hải, đọc có thể nhức đầu.
Và sau đó mới đến giai đoạn thứ tư là giai đoạn tóm
tắt. Những tác phẩm mới nhất của nền văn học Abhidharma
là những tác phẩm ngắn, gọn và dễ học. Tóm lại, chúng
ta có thể nói về Nhân Duyên bằng một chi phần cũng được,
bằng hai, ba, bốn, năm, bảy, chín, mười hoặc mười hai chi
phần cũng được. Điều đó chỉ chứng tỏ một sự kiện
là một Duyên bao gồm tất cả các Duyên khác. Có hai lối
diễn giải về mười hai nhân duyên, một là thuận, hai là
nghịch. Thuận là đi từ Vô Minh tới Lão Tử, và nghịch là
đi từ Lão Tử ngược lại tới Vô Minh. Bụt có khuynh hướng
đi theo đường nghịch: người thường hay nhìn thẳng vào
bản chất Khổ để tìm ra nguyên nhân Khổ. Tại sao có già
và chết? Tại vì có sinh ra. Như vậy cho đến khi ta nắm được
vô minh là bản chất của sinh tử. Phần nhiều các vị tổ
sư thì lại ưa đi theo lối thuận: từ Vô Minh đi tới Lão
Tử. Các nhà phật học có khuynh hướng giải thích tại sao
có luân hồi, có sự vận hành của sinh mạng, và do đó ưa
sử dụng giáo lý mười hai duyên khởi để chứng minh luân
hồi. Nhiều vị luận sư của ta cũng có khuynh hướng ấy,
nghĩa là khuynh hướng chứng minh luân hồi bằng giáo lý nhân
duyên. Chúng ta nên nhớ rằng giáo lý có mục đích triết
học, do đó đừng nên đi vào dấu vết của những người
chỉ muốn làm công việc biện hộ và chứng minh cho luân hồi.
LIÊN
HỆ GIỮA 12 NHÂN DUYÊN
Trong
lịch sử phát triển tử tưởng Phật giáo, các Luận sư ngày
xưa có khuynh hướng dùng thuyết 12 Nhân Duyên để giải thích
sự vận hành của sinh mạng. Tại sao người ta sinh ra? Tại
sao luân hồi tiếp tục mãi? Giáo lý 12 Nhân Duyên trở thành
một lý thuyết để chứng minh vòng sinh tử luân hồi.
Một
khuynh hướng diễn giải về 12 Nhân Duyên theo chiều dọc,
(trục tung độ). Trong khuynh hướng này có hai cách trình bày
khác nhau. Theo đường suôi thì bắt đầu từ Vô Minh và chấm
dứt với Lão Tử. Theo chiều ngược, bắt đầu từ Lão Tử
đi trở lại Vô Minh. Trong kinh, Bụt hướng theo cách trình
bày Tứ Diệu Đế, mở đầu bằng những khổ đau hiện thực
của chúng sinh là Lão Tử, rồi lần tìm các nguyên uỷ để
dẫn tới Thức và Danh Sắc, cùng toàn bộ những duyên tạo
khổ đau. Hầu hết các Luận sư sau này, vì chủ ý là cắt
nghĩa sự vận hành của Luân Hồi nên đã đi theo chiều Thuận,
lấy Vô Minh làm điểm khởi hành.
Một
hậu quả của lối trình bày này là gây ra cảm tưởng Vô
Minh là nguyên nhân đầu tiên của mọi sinh mệnh, Nhưng giáo
lý đạo Bụt không phải những tư tưởng theo lý luận đường
thẳng, nên ta không thể nói về một nguyên nhân đầu tiên.
Nhiều
vị luận sư đã lập ra lý thuyết gọi là Tam Thế Lưỡng
Trùng. Tam Thế tức là ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai.
Lưỡng trùng là hai tầng nhân quả. Theo thuyết này Vô Minh
và Hành đuợc xếp vào quá khứ. Hiện tại gồm có Thức,
Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu. Còn Sinh và
Lão Tử thuộc về vị lai. Trong 12 chi, hai chi đầu thuộc về
kiếp trước, hai chi sau thuộc về tương lai, còn tất cả
tám chi ở giữa thuộc về hiện tại, Sự phân chia đó nghe
cũng hấp dẫn, nhưng có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy
hiểm vì người học có thể nghĩ lầm rằng nếu Sinh và Lão
Tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có
Sinh và Lão Tử. Cũng vậy, Vô Minh và Hành được xếp trong
quá khứ, nhưng chúng ta biết cũng trong hiện tại có Vô Minh
và Hành. Trong tất cả các chi phần của 12 Nhân Duyên, ta đều
nhận ra sự có mặt của Vô Minh và Hành.
Trên
một ngàn năm qua, thuyết Tam Thế Lưỡng Trùng được coi như
mẫu mực. Thức, Danh Sắc, Lục Nhập và Xúc được xem là
quả, mà nhân là Vô Minh và Hành. Trong kiếp trước đã có
Vô Minh và Hành cho nên hiện tại phải có quả là có Thức,
có Danh Sắc (thân, tâm) có Lục Nhập và có Xúc. Đó là cặp
nhân quả đầu. Rồi tại vì Thọ, Ái, Thủ, và Hữu mà chúng
ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả
Sinh và Lão Tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các Duyên, nối
kết Quá khứ, Hiện tại và Vị lai, cho nên gọi là Tam Thế
Lưỡng Trùng. Ngày xưa tôi cũng học và cũng đi dạy lại
người khác như vậy. Nhưng lớn lên, nhờ tu tập cho nên tôi
vượt thoát được. Ta phải nương vào các Tổ để lớn lên,
nhưng sau đó ta phải học đặt các vị xuống khỏi vai mình,
để có thể đứng thẳng. Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả
là một công thức để giải thích cho người mới học dễ
nhớ. Đó không phải là cách hiểu sâu nhất, đó chưa phải
là thắng nghĩa.
Chúng
ta thấy có những lý thuyết sử dụng Đạo lý Mười Hai Nhân
Duyên để giải thích và thuyết phục người ta về Luân Hồi.
Chúng ta không cần phải làm như vậy nữa. Mục đích của
chúng ta là tu tập. Chúng ta phải học về Nhân Duyên như phương
pháp tu tập và chuyển hóa thì mới đúng với lời Bụt dạy.
Chúng ta có thể chữa lại những sai lầm đã tiếp diễn từ
hàng ngàn năm. Có những vị đã đi hơi xa, có thể là đi
quá xa. Họ đặt ra những từ như là Duyên Khởi Pháp và Duyên
Dĩ Sinh Pháp. Duyên Khởi Pháp tức là những pháp có khả năng
tạo tác; và Duyên Dĩ Sinh Pháp là những pháp được tạo
tác ra. Các vị đó nói rằng Vô Minh và Hành là Duyên Khởi
Pháp, tức là những yếu tố có tác dụng tạo tác ra. Hiếp
Tôn Giả và Diệu Âm Tôn Giả xưa đều nói Vô Minh và Hành
là những Duyên tạo tác, gọi là Duyên Khởi Pháp, còn Sinh
và Lão Tử được gọi là Duyên Dĩ Sinh Pháp. Theo các ngài
thì Vô Minh và Hành là hai chi phần có tính chủ động, còn
Sinh và Lão Tử chỉ có tính thụ động, Quan niệm đó không
đúng với giáo lý tương tức của đạo Bụt. Theo tinh thần
đạo Bụt, chi phần nào cũng là nhân và cũng là quả, chứ
không có cái nào thuần túy là nhân hay quả mà thôi. Các vị
giảng Vô Minh và Hành là Duyên Khởi Pháp, Sinh và Lão Tử
là Duyên Dĩ Sinh Pháp. Tám chi ở giữa, các vị nói vừa là
Duyên Khởi Pháp vừa là Duyên Dĩ Sinh Pháp, vừa có tính cách
tạo tác vừa có tính cách được tạo tác. Hai tính chất
đó đúng ra phải được áp dụng cho cả Mười Hai nhân duyên.
Dùng
thuyết Tam Thế Lưỡng Trùng để cắt nghĩa về cơ năng vận
hành của Luân Hồi thì được; nhưng ta đừng nghĩ rằng giáo
lý Mười Hai Nhân Duyên được Bụt nói là để chứng minh
cho thuyết Luân Hồi. Mục đích của đạo Bụt không phải
là đưa ra một hệ thống triết học giải thích về vũ trụ
và nhân sinh. Mục đích của Bụt là cho ta một đạo lý để
thực tập diệt khổ.
Chúng
ta tạm bỏ phương pháp Tung theo chiều dọc, để đi trên mặt
ngang theo phương pháp Hoành. Phương pháp này đã được Bụt
nhấn mạnh trong các kinh, Không bao giờ Bụt có ý định dạy
chúng ta học Mười Hai Nhân Duyên theo tinh thần đường thẳng
(linear, còn gọi là tuyến tính), theo một kích thước (one
– dimensional). Đừng nghĩ rằng Vô Minh sinh ra Hành, rồi đến
lượt Hành sinh ra Thức, đến Thức sinh ra Danh Sắc,v.v.. Hiểu
như vậy là đơn giản hoá và nguy hiểm. Bụt nói rằng Vô
Minh duyên Hành, tức là Vô Minh có liên hệ nhân quả với
Hành, nhưng Bụt cũng dạy Hành có liên hệ nhân quả với
Vô Minh. Nếu Vô Minh nuôi Hành thì Hành cũng nuôi Vô Minh, Vô
Minh quấy động tâm thức, tạo ra những ham muốn, phiền não,
tư niệm, ý chí, v.v.. Những ham muốn, ý chí, tư niệm đó
quay trở lại làm cho Vô Minh càng nặng. Vô Minh duyên Hành
nhưng mà Hành cũng duyên Vô Minh, là như vậy. Phải bỏ quan
niệm đơn giản và ngây thơ về sự tiếp nối nhân quả theo
tuyến tính, chỉ nghĩ đến nhân quả trong thời gian mà không
thấy được nhân quả đồng thời trong không - thời gian.
Như khi ta nói cây sinh ra lá và cây dẫn nhựa lên nuôi là,
ta không quên sự thật là lá nuôi cây bằng ánh sáng mặt
trời qua hiện tuợng diệp lục hóa. Lá không phải chỉ là
con của cây, lá còn là mẹ của cây nữa. Cây lớn được
là do công của lá.
Cũng
vậy, ta thấy có liên hệ tương tức và tương nhập giữa
các chi phần của Mười Hai Nhân Duyên. Chúng ta phải thấy
được liên hệ mật thiết giữa mỗi chi phần với Mười
Một chi phần kia. Cho nên chúng ta nên vẽ một vòng tròn hay
một mạng lưới (network). Trên mạng lưới này ta nói Vô Minh
duyên Hành nhưng Vô Minh cũng duyên Thức. Nếu Vô Minh không
duyên Thức thì làm sao Thức lại có thể là Thức? Nếu không
có Vô Minh duyên Thức thì Thức đã trở thành Trí rồi. Vô
Minh duyên Thức qua Hành, nhưng Vô Minh cũng trực tiếp duyên
Thức. Vô Minh duyên Hành, Vô Minh duyên Thức, đồng thời Vô
Minh cũng duyên Danh Sắc. Trong Danh Sắc ta thấy có chất liệu
Vô Minh. Nếu không có Vô Minh thì Danh Sắc của chúng ta sẽ
khác. Cố nhiên trong Lục Nhập của chúng ta cũng có Vô Minh.
Cái Tưởng của tôi về bông hoa được căn cứ trên con mắt
của tôi, căn cứ trên cái sắc (đối tượng của mắt) là
bông hoa. Và vì tính Vô Minh nên cái Tưởng đó mới bị kẹt
vào hiện tướng. Cho nên Vô Minh có mặt trong Lục Nhập. Vô
Minh lại có mặt trong Xúc, có mặt trong Thọ, có mặt trong
Ái, trong Thủ, trong Hữu, trong Sinh và trong Lão Tử. Vô Minh
tương tức với tất cả Mười Một chi phần khác. Vô Minh
không phải chỉ nằm ở quá khứ, Vô Minh có mặt bây giờ
và ở đây, trong mỗi tế bào của tôi, trong mỗi tâm hành
của tôi. Trong đời sống hàng ngày phải nhận diện Vô Minh,
nhận diện sự có mặt của Vô Minh thì mới là sự thực
tập chân chính. Nếu không có Vô Minh thì tại sao chúng ta
đang bị vướng mắc? Bị vướng mắc tức là đã có Vô Minh.
Nếu không có Vô Minh thì tại sao có hiện hữu khổ đau? Mối
quan hệ mạng lưới rất quan trọng. Chúng ta phải thấy Tung
và phải thấy Hoành, phải thấy đồng thời chiều dọc và
chiều ngang. Thời gian và không gian phải được phối hợp
để chúng ta có thể chiếu rọi vào mười hai chi phần. Mỗi
chi phần duyên với chi phần đặt trước và chi phần kế
tiếp, đồng thời cũng duyên với tất cả các chi phần khác.
Như vậy mới đúng tinh thần Duyên Khởi, tinh thần tương
tức tương nhập.
MẶT
TÍCH CỰC CỦA MƯỜI HAI DUYÊN
Trong
kiếp nhân sinh, ta có Vô Minh, nhưng không phải chỉ có Vô
Minh. Nếu đời sống hàng ngày chỉ thuần túy Vô Minh thì
đạo Bụt đi vào bằng cửa nào? Làm sao có sự cứu độ?
Làm sao có sự chuyển hóa? Cho nên ta có Vô Minh nhưng cũng
có Minh. Nếu ta không có chút Minh nào cả thì tại sao Bụt
lại nói tất cả chúng sinh đều có hạt giống của trí tuệ,
của giác ngộ và giải thoát? Vì vậy không những trong Thức
có hạt giống của Minh mà trong Danh Sắc cũng có hạt giống
của Minh; trong Lục Nhập, trong Xúc, trong Thọ, trong Ái, trong
Thủ, trong Hữu, trong Sinh và trong Lão Tử đều có hạt giống
ấy, như trong Đêm có hạt giống Ngày. Quý vị hãy nghĩ đến
nguyên lý tương tức. Trong rác có hoa nhưng trong hoa cũng có
rác. Nếu chúng ta biết cách sử dụng rác thì rác sẽ biến
thành hoa. Mà nếu chúng ta không biết cách thì hoa, thay vì
mười lăm ngày sau mới thành rác có thể hóa thành rác rất
sớm. Vì vậy chúng ta biết trong Vô Minh có Minh; trong Thức
có hạt giống của Trí Tuệ. Đó mới đúng là tinh thần đạo
Bụt.
Nếu
vứt bỏ hết tất cả Mười Hai Duyên này đi thì chúng ta
không có đường nào để đạt tới thanh tịnh, an lạc, Niết
Bàn. Chúng ta phải giữ lại tất cả. Điều này rất quan
trong! Chúng ta có một ly nước đục, nếu đổ hết ly nước
đục đi thì chúng ta không còn gì để làm ra một ly nước
trong hết. Vì nước đục có thể biến thành nước trong,
chúng ta phải sử dụng ly nước đục. Ta đang ở trên biển
cả và đang khát. Có một chai nước đục mà liệng xuống
biển là dại dột lắm! Phải làm thế nào cho chai nước đó
trong lại để uống. Tất cả những Vô Minh, Hành, Thức, Danh
Sắc… phải được chấp nhận và chuyển hoá thành (1) Minh.
Bụt dạy “Vô Minh diệt, Minh sinh” chứ không phải Vô Minh
diệt là không còn gì nữa.
Nếu
Vô Minh duyên Hành thì Minh duyên cái gì? Các Tổ chưa nói hết.
Chúng ta là con cháu phải tiếp tục. Vô Minh quấy động, tạo
ra những đam mê, những giận hờn, những cuộc chạy đua,
những quẩn quanh dại dột gọi là Tư Niệm Thực, loại thức
ăn thứ ba. Có những người trầy da, tróc vẩy, gây tổn hại
cho cả thân tâm vì chạy theo danh vọng, bằng cấp, nghĩ rằng
được những cái đó là hạnh phúc. Tư Niệm Thực này đã
do Vô Minh quấy động. Hết Vô Minh thì ta thấy được khổ
đau và nguồn gốc của khổ đau, thấy con đường dẫn tới
sự chuyển hóa khổ đau, dẫn tới an lạc. Tự nhiên cái Minh
ấy tạo ra một ước muốn, một ý chí hành động do tâm
từ bi thúc đẩy, để mang lại hạnh phúc và an lạc cho mình
và cho người khác. Cái đó có thể gọi là Đại Nguyện hay
Tâm Bồ Đề. Khi học hỏi đạo Bụt, chúng ta được nghe
về mặt tiêu cực của Mười Hai Nhân Duyên quá nhiều. Còn
mặt sáng tươi của Mười Hai Nhân Duyên thì chúng ta chưa
được nghe bao nhiêu. Nhờ bó đuốc của Minh chiếu dọi, ta
không muốn chạy theo những cái Hành này nữa. Và nhờ có
trí tuệ của Tứ Đế và Bát Chánh Đạo ta muốn phát tâm
tu học để độ mình và độ đời. Đó gọi là Tâm Bồ Đề,
Boddhicitta, là (2) Đại Nguyện. Cái Minh dẫn tới một ước
vọng, một ý chí tu học và cứu độ. Nếu Vô Minh duyên Hành,
và duyên Thức; thì Minh duyên Đại Nguyện, duyên Bồ Đề
Tâm và duyên (3) Trí. Trong giáo lý Tứ Y chúng ta học “y Trí
bất y Thức” (nương vào Trí đừng nương vào Thức), chúng
ta nên dựa vào phần Trí của chúng ta chứ đừng nương vào
phần Thức.
Duy
Thức Học nói đến bốn thứ Trí. Thứ nhất là Trí Đại
Viên Cảnh, nói theo văn pháp chữ Hán là Đại Viên Cảnh Trí.
Thức thứ tám, Tàng Thức, khi xóa được Vô Minh thì được
gọi là Đại Viên Cảnh Trí. Nghĩa là khi tất cả những hạt
giống của Bổ đề, của Giác Ngộ, của Vô ngã, của Từ
Bi phát triển thì Tàng thức thành ra Đại Viên Cảnh Trí.
Trí Đại Viên Cảnh tìm ở đâu? Tìm ngay trong Tàng thức,
vì trong A lại da thức này sẵn có hạt giống của giác ngộ,
hạt giống của Trí Đại Viên Cảnh. Bỏ Tàng thức không
được. Phải dùng Thức để chuyển hóa. Đại Viên Cảnh
Trí tức là trí tuệ như một tấm gương sáng, phản chiếu
được sự thật của tam thiên đại thiên thế giới.
Trí
thứ hai là Trí Bình Đẳng Tánh. Trí này chuyển hóa từ thức
thứ bảy, thức Mạt na. Thức Mạt na phân biệt ta và không
ta, kỳ thị giữa của tôi và không phải của tôi. Nhưng nếu
thực tập thông minh, ta có thể chuyển hóa Thức thứ bảy
thành Trí mang tính Bình Đẳng, thấy mình và người khác là
một, và mầu nhiệm như nhau. Như khi gặp kẻ thù mà ta lạy
xuống một lạy, thì ta sẽ thấy thù cũng cùng một bản tính
với bạn, người kia với mình là một và ý niệm hận thù
không còn nữa. Đó là Bình Đẳng Tánh Trí, phát hiện ngay
trong lòng của thức Mạt na, cái thức chấp ngã.
Trí
thứ
ba là Trí Diệu Quan Sát, khả năng quan sát một cách mầu nhiệm,
được chuyển hoá từ thức thứ sáu. Thức thứ sáu, tức
Ý Thức, đầy dẫy những tri giác sai lầm. Nó tạo tác biết
bao nhiêu khổ đau. Nhờ Trí Đại Viên Cảnh, nhờ sự chuyển
hoá, Ý Thức trở thành Trí Diệu Quan Sát, có thể quán sát
muôn vật mà không bị kẹt vào tri giác sai lầm.
Cuối
cùng, Trí Thành Sở Tác là một Trí tuệ mà gốc là các Thức
của mặt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm ta
say đắm, nhìn giả thành thật. Con mắt làm cho ta mù tối,
Bây giờ con mắt có minh tạo tác được những thành tựu,
mở cửa cho ta thấy Pháp Thân mầu nhiệm.
Mở
cửa nhìn Pháp Thân,
Đời
mầu nhiệm khôn cùng
Lòng
dặn lòng tỉnh thức
Dòng
nước Tâm trong ngần.
Dòng
nước Tâm trong ngần là lúc Ý Thức đã trở thành Diệu Quan
Sát Trí, và Tàng Thức đã trở thành Đại Viên Cảnh Trí.
Vậy
nếu Vô Minh duyên Thức thì Minh duyên Trí. Gọi là bốn loại
Trí cho dễ hiểu, nhưng tất cả bốn cũng chỉ là một.
THÂN
THỊ HIỆN
Nếu
Thức duyên Danh Sắc thì Trí duyên gì? Phàm phu có Danh Sắc,
tức có thân, có tâm. Bồ Tát cũng có thân, có tâm như vậy.
Bụt cũng có thân, có tâm sau khi thành đạo. Ta đâu có cần
hủy diệt thân và tâm đi thì mới là có giải thoát? Nói
về các vị Bồ Tát chúng ta dùng danh từ Thân Thị Hiện.
Chúng ta hãy quán tưởng Quan Thế Âm thị hiện ra hình thể
bà mẹ xinh đẹp. Thân hình bà cũng có mắt, tai, mũi, lưỡi
và ý. Nhưng thân tâm đó không có tính chất của Vô Minh,
của Hành, của Thức. Thân tâm đó là để thực hiện ý nguyện
độ sinh, giác ngộ. Bồ Tát Quan Thế Âm có thể hóa hiện
thành một nhà chính trị, hay thành một em bé… Kinh nói rằng
tình thương, có thể được thể hiện bằng muôn vạn cách.
“Ưng dĩ trưởng giả thân đắc độ giả, tức hiện trưởng
giả thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ đồng nam, đồng nữ
thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam, đồng nữ thân
nhi vị thuyết pháp.” Nếu cần hiện ra một vị trưởng
giả thì Bồ Tát Quan Thế Âm có thể hiện ra hình thức của
một trưởng giả mà thuyết pháp. Nếu cần hiện ra một chú
bé, hay là một cô bé để độ đời thì Quan Thế Âm sẽ
hiện thành một chú bé, hay là một cô bé để độ đời.
Cho
nên Bồ Tát và Bụt đều có thể hiện thân để độ đời,
và các vị cũng cần có Danh, có Sắc, có thân, và có tâm.
Thành ra chúng ta đâu cần bỏ thân và tâm đi mới giải thoát.
Bất cứ một Danh Sắc nào có tác dụng tạo tác được từ
bi, hiểu biết, được hạnh phúc, đều là (4) Thân Thị Hiện
của Bụt. Dầu thân thể đó có yếu ốm, và nghèo khổ nhưng
vẫn có tác dụng tạo được tình thương và sự hiểu biết
thì đó cũng là thân Bồ Tát, gọi là (5) Thân Thọ Dụng (sambhogakaya).
Bất cứ một cái thân, một tập hợp nào của ngũ uẩn, có
Danh Sắc nhưng trong đó không còn chất liệu của Vô Minh,
mà lại có chất liệu của Minh, của Bồ Đề Tâm, của Tứ
Trí, thì đều là Thân Thọ Dụng, là phương tiện để hành
đạo.
Ngày
xưa tôi có đọc một cuốn tiểu thuyết, không nhớ tên tác
giả. Ông kể chuyện một người đi vào rừng. Người này
sống trong truyền thống Thiên Chúa Giáo nhưng không tin tưởng
Chúa. Ông đi vào rừng ở Phi Châu để săn bắn, lạc đường,
không tìm được lối ra. Sợ quá, lúc đó ông ta mới muốn
cầu cứu Chúa. Vì ông không có đủ đức tin, nên ông cầu
cứu bằng một giọng bất kính. Ông nói:” Lạy Chúa! Nếu
mà Chúa có thật thì hiện ra để cứu tôi coi nào!” Lúc
đó ông nghe tiếng sột soạt. Từ sau bụi cây xuất hiện
một người da đen. Người da đen đó đưa ông ra khỏi rừng,
và ông được cứu thoát! Nhưng ông này về nhà và ghi trong
nhật ký: “ Tôi cầu Chúa, Chúa đâu không thấy mà chỉ hiện
ra một thằng mọi đen.” Câu đó viết bằng tiếng Pháp,
dùng chữ nègre có tính kỳ thị màu da, phải dịch là thằng
mọi cho sát nghĩa “J’ai prié Dieu, mais il m’est arrivé un
nègre.” Tâm ông này chứa chất Vô Minh. Người Phi Châu đó
là Thọ Dụng Thân, là Báo Thân của lòng Từ Bi để đưa
ông ta ra khỏi tình trạng khó khăn; đó là Chúa chứ ai khác?
Từ bi thị hiện ra dưới nhiều hình thức. Trong rừng rậm
Phi Châu, Chúa đã hiện ra thành một người da đen. Ông kia
không thấy Chúa vì không thấy được tình thương. Lại nói
bằng giọng mỉa mai như thế thì chắc không bao giờ ông ta
có cơ hội để tiếp xúc với Chúa, hay với Bụt.
Ngày
hôm qua trong khi đi thiền hành, tôi tự nhiên nảy ý muốn
kể chuyện Bụt Thích Ca đi với Thầy Svastika về Việt Nam
thăm để xem đạo Bụt ở đó bây giờ ra sao. Hai thầy trò
Bụt tới Hà Nội, vào thăm các chùa. Tất nhiên là các thầy
ở chùa đâu biết đây là Bụt. Không biết các thầy sẽ
đón tiếp Bụt như thế nào? Tại vì trong đầu các thầy
đã có sẵn hình ảnh về Bụt. Ông này không có hào quang
bằng đèn neon phía sau đầu thì đâu phải là Bụt? Ông này
đi chân đất, mặc áo cũ, không hoạt bát gì cả. Có thể
là các thầy ở chùa không nhận ra đó là Bụt. Họ sẽ hỏi:”
Giấy di chuyển đâu? Chứng minh thư đâu?” Tôi tưởng tượng
lúc đó Bụt mới bảo thầy Svastika ra ngoài Tam Quan, để hai
thầy trò bàn bạc. Tôi sẽ viết một cuốn truyện như vậy,
kể chuyện Bụt với một vị thị giả đi từ Bắc vào Nam,
tới các chùa, gặp các thầy, các đạo hữu, xem cách các
thầy ăn cơm, uống nước, đi, đứng, nằm, ngồi như thế
nào. Bụt sẽ biết gia tài của Bụt để lại 2500 năm nay
còn được bao nhiêu. Chuyện này là chuyện có thật. Bụt
có thể thị hiện dưới hình dạng của một người du khách,
tìm tới để xem chúng ta tu tập như thế nào. Có thể Bụt
đã từng tới Làng Mai, Bụt đã từng gặp các sư chú, sư
cô, các đạo hữu ở Làng. Bụt đã biết chúng ta tu hành
hay hay dở tới mức nào rồi.
Bụt
đâu phải ở trên mây, Bụt ở ngay trong tâm của chúng ta.
Dù ta có thân của Bụt, và tâm Bụt, ta cũng vẫn còn có Xúc.
Bụt cũng uống nước và Bụt cũng biết nước nóng hay lạnh.
Bồ Tát cũng cần mặc áo cho ấm. Mùa lạnh, Bồ tát cũng
quàng khăn cổ, tại vì Bồ tát biết nếu không choàng khăn
cổ thì bị cảm, rồi phải cạo gió. Vì Xúc được
phát hiện trong chánh niệm và tuệ giác nên Xúc này là (6)
Xúc Thanh Tịnh. Và khi có sự tiếp xúc giữa sáu căn và sáu
trần thì cũng có Thọ. Thọ đây là (7) Thọ Thanh Tịnh. Như
là tất cả mọi người. Nhưng trong những tình trạng đó,
Bồ tát không vướng mắc. Có Trí rồi, với cái Thọ Dụng
Thân này, bất cứ một tiếp xúc nào cũng có chánh niệm,
cũng có thanh tịnh. Cho nên bất cứ cái Thọ nào cũng có thanh
tịnh, có chánh niệm. Sẽ không có Ái mà có Ba trong bốn Vô
Lượng Tâm: (8) Từ, Bi, và Hỷ.
Khi
có tiếp xúc chúng ta thấy được những cảm thọ: lạc thọ,
khổ thọ, và xả thọ. Thấy người ta khổ đau ta phát sinh
trong tâm năng lượng của Từ, muốn giúp cho họ có niềm
vui chân thật, và năng lượng của Bi, muốn làm cho họ tiêu
tan nỗi khổ. Ta muốn làm cho họ có niềm vui, có hạnh phúc.
Đó là tâm Hỷ. Và tâm Xả nghĩa là tâm không vướng mắc.
Xả đây tức là không bị trói buộc bởi những hình ảnh,
và những âm thanh do Xúc và Thọ tạo ra. Xả không phải là
sự dửng dưng, mà là khả năng giữ tâm được tự do, không
bị cuốn theo bên này hay bên khác. Khi có xả thì người thương
và kẻ ghét coi như nhau. Xả là Bất Nhị. Chân tinh thần của
Xả là (9) Vô Nguyện. Xả tức khả năng thấy được tính
tương tức, cái này là cái kia. Thí dụ Vô Minh và Minh. Chúng
ta phải thực tập Xả, tức là đừng chạy trốn Vô Minh để
đi tìm Minh. Vì Minh phải tìm trong Vô Minh.
Nhắc
lại chuyện đời Lý, thế kỷ thứ XII, có một thiền sinh
nghe vị thiền sư nói là phải làm thế nào để thoát ly sinh
tử thì mới xứng đáng với chí nguyện xuất gia. Vị thiền
sinh hỏi:” Bạch Thầy, tìm cái không sinh tử ở chỗ nào?”
Thầy nói: “Tìm ngay trong chỗ sinh tử.” Bỏ sinh tử đi
tìm Niết bàn là không có.
Xả
là tinh thần Bất Nhị, là tự do, là thảnh thơi. Cũng là
Vô Nguyện, không chạy theo gì hết. Chính trong tinh thần tự
do, không chạy chọt cầu tìm mà cõi khổ đau sẽ thành Tịnh
Độ. Ta thoát được Hữu vì ta đã biến Hữu của Hữu Vô,
của Thương Ghét thành Diệu Hữu. (10) Diệu Hữu và Chân Không
thoát ra khỏi ý niệm Hữu và Vô. Nếu cần phải thị hiện
đản sanh thì thị hiện đản sanh. Thị hiện đản sanh cũng
là thị hiện lão tử. Lão tử thì lão tử, nhưng không khổ
đau, đó là cái nhìn của Bụt và các vị Bồ tát. Nếu quả
thực đã có chất liệu của giác ngộ, thì sinh cũng vậy,
mà tử cũng vậy, đều là thị hiện, không có cái gì thay
đổi cả. Đợt sóng có lên hay có xuống thì nó vẫn là nước.
Đứng về phương diện hiện tượng thì giống như là có
Sinh, có Diệt, có Có, có Không. Đứng về phương diện bản
thể thì không có Sinh Diệt, không có Có Không; tất cả đều
là thị hiện. Đó là (11) Vô Sinh. Sinh là thị hiện Sinh, Diệt
là thị hiện Diệt. Và đây là Niết Bàn trong hiện tại (12)
Hiện Pháp Niết Bàn.
Mười
Hai Nhân Duyên
|
tiêu
cực
|
tích
cực
|
|
|
|
Vô
Minh
|
Minh
|
|
Hành
|
Bồ
Đề Tâm (Đại Nguyện)
|
|
Thức
|
Trí
|
|
Danh
Sắc
|
Thân
Thị Hiện
|
|
Lục
Nhập
|
Thân
Thọ Dụng
|
|
Xúc
|
Xúc
Thanh Tịnh
|
|
Thọ
|
Thọ
Thanh Tịnh
|
|
Ái
|
Từ
Bi Hỷ
|
|
Thủ
|
Tự
Tại, Vô Nguyện (Xả)
|
|
Hữu
|
Diệu
Hữu Chân Không
|
|
Sinh
|
Vô
Sinh
|
|
Lão
Tử
|
Hiện
Pháp Niết Bàn
|
Mười
Hai Nhân Duyên như ta biết, thường được giảng dạy trên
mặt tiêu cực. Chúng ta phải học, và thực tập Mười Hai
Nhân Duyên về phương diện tích cực. Những danh từ mà chúng
ta dùng hôm nay để diễn bày Mười Hai Nhân Duyên đứng về
phương diện tích cực. Chúng ta thấy rằng thuyết Nhân Duyên
là để nói về thế giới hiện tượng. Thấy được Mười
Hai Nhân Duyên về mặt tích cực thì, ta đồng thời thấy
được Bản Môn của chúng. Chúng ta sẽ tiếp xúc được với
Bản Môn.
Nói
tóm lại, khi học về Mười Hai Duyên Phần, ta đừng nên diễn
bày như một chủ thuyết để giải thích luân hồi sinh tử.
Ta hãy tập quán chiếu để thấy liên hệ giữa Mười Hai
chi phần này. Để trong đời sống hàng ngày ta có thể tu
tập cho chất liệu của Vô Minh bớt đi và chất liệu của
Minh tăng trưởng. Chất liệu của Vô Minh bớt đi thì Tham,
Sân, Si, Mạn, Nghi, và tà kiến sẽ bớt đi và chất liệu
của Từ, Bi, Hỷ, và Xả sẽ tăng trưởng. Tăng trưởng không
những ở một chi phần mà đồng thời trong cả Mười Hai
chi phần. Hễ một chút Vô Minh được trị diệt thì tất
cả Mười Một chi phần kia đều được thừa hưởng. Khi
ta mỉm được một nụ cười hiểu biết thì trong cả Mười
Hai chi phần đều có sự thay đổi, tại vì chất liệu của
Minh đã đi vào để thay thế cho chất liệu của Vô Minh. Một
tâm niệm từ ái biểu hiện thì tất cả Mười Hai chi phần
đều sáng lên lập tức.
Cho
nên giữ chánh niệm và hộ trì sáu căn là chìa khóa của
sự thực tập. Nếu thực tập hộ trì sáu căn thì trong Xúc,
ta sẽ có chánh niệm về Xúc, ta sẽ có Xúc Thanh Tịnh. Nếu
sáu căn không hộ trì thì Xúc sẽ không thanh tịnh. Khi có
Xúc, và có Thọ thanh tịnh thì ta có chất liệu của Từ,
Bi, và Hỷ. Chúng ta sẽ được an trú trong Vô Nguyện, nghĩa
là trong Xả. Như vậy thế giới của chúng ta càng lúc càng
sáng lên tính cách của Diệu Hữu và Chân Không. Tính cách
khổ đau của ba cõi (Tam Hữu) sẽ từ từ tiêu diệt để
nhường chỗ cho thế giới tương tức, tương nhập của Hoa
Nghiêm. Trong thế giới Diệu Hữu và Chân Không đó, nếu cần
đản sanh thì chúng ta đản sanh, nếu cần thị hiện lão tử
chúng ta thị hiện lão tử.
Chúng
ta hãy học hỏi cho thấu đáo các phép hộ trì và chánh niệm.
Đây là những chiếc chìa khóa. Đây chính là phương tiện
tháo gỡ. Chúng ta cũng có thân, cũng có sáu căn và sáu trần,
chứa chấp Vô Minh, Hành, và Thức. Nhưng khi đưa chánh niệm
vào, và thực tập hộ trì sáu căn trong Xúc và trong Thọ,
chúng ta tránh được Ái, Thủ, và Hữu, chuyển niệm thanh
tịnh, thực tập Từ, Bi, Hỷ, Xả, Vô Nguyện. Tinh hoa của
giáo lý Mười Hai Nhân Duyên nằm ở đó. Phải học, phải
hành và phải trình bày giáo lý đó như thế nào để cho sự
học hỏi và hành trì chuyển hoá được đời sống hàng ngày
của chúng ta.