20
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai mươi
Hôm
nay là ngày 30 tháng giêng năm 1994, chúng ta ở tại Xóm Hạ
và chúng ta học tiếp về bát chánh đạo.
Chúng
ta đang học về tam giải thoát môn, tức là ba cánh cửa đưa
tới giải thoát. Cánh cửa thứ nhất là Không. Quán Không,
ta phải thấy tính tương quan, tương duyên, tương tức và
tương sinh trong mọi sự mọi vật. Thấy như vậy, ta vượt
được hàng rào bản ngã, thoát được ngục tù ý niệm về
ta và về của ta, và mở được cánh cửa giải thoát. Trong
tăng thân, nhìn bằng con mắt Không Quán, ta thấy sự an vui
của ta liên hệ tới sự an vui của người, sự an vui của
người liên hệ tới sự an vui của ta. Cho nên không là cách
nhìn, quán, và tiếp xúc để thực tập chứ không phải
là đề tài để đàm luận, nghiên cứu.
Vô
tướng cũng vậy. Tất cả mọi sự vật được biểu hiện
qua tướng và vì thường bị cái tướng ấy đánh lừa, nên
ta mới sợ hãi, mới giận hờn, mới căm thù. Khổ đau xung
quanh ta và trong ta đều do sự kiện ta bị kẹt vào tướng.
Kinh Kim Cương nói về bốn loại tướng: ngã, nhân, chúng sinh
và thọ mệnh.
Sở
dĩ ta bị kẹt vào tướng ngã là vì chúng ta nghĩ có những
cái đối lập với ngã tức phi ngã. Khi thấy được trong
tướng ngã toàn là những yếu tố phi ngã thì tự nhiên ý
niệm về ngã tan biến, và chúng ta thoát ra được khỏi tướng
ngã. Tướng thứ hai là tướng nhân. Nhân đây nghĩa là loài
người. Cho loài người là một thực tại độc lập, không
phải là thú, là cây, là đất đá, chúng ta bị kẹt vào tướng
nhân. Chúng ta nói trời sinh ra những con tôm, con cá, con bò,
con heo để cho loài người ăn. Ta tưởng cây cỏ, đất đá,
không khí, trời, sông, rừng và biển là để cho ta sử dụng
thả cửa, ta không cần thương tiếc, không cần bảo vệ.
Lo phục vụ tướng người, ta tàn phá các loại động vật,
thực vật và khoáng vật. Đạt tới cái thấy vô tướng về
người, thấy trong người có hàm chứa các loài động vật,
thực vật và khoáng vật ta mở được cánh cửa giải thoát
thứ hai. Tướng thứ ba là tướng chúng sinh. Chúng sinh ở
đây là các loài động vật, các loài có sự sống. Các loài
có mạng sống tùy thuộc và được tạo thành bằng những
loài gọi là vô tình, không có sự sống. Khi tàn phá không
khí, sông hồ, biển cả và rừng cây ta cũng hủy hoại luôn
những chủng loại gọi là chúng sinh. Cho nên nhìn vào chúng
sinh ta phải thấy các yếu tố không phải là chúng sinh. Nhìn
vào các yếu tố gọi là vô tình ta phải thấy những các
chủng loại hữu tình. Trong đời sống hàng ngày mà quán chiếu
như vậy thì tự nhiên ta thấy được chúng sinh vô tướng.
Sau cùng là tướng thọ mạng, nghĩa là khoảng thời gian của
mạng sống, từ khi sinh ra đến khi chết. Ta cứ thường nghĩ
sinh mạng ta nằm trong khoảng thời gian đó. Khi quán chiếu,
ta thấy mình không từng sinh và cũng sẽ không bao giờ diệt
đi, thấy rằng ta không bắt đầu có từ khi sinh ra, cũng không
bắt đầu không từ lúc chết đi, nhờ thế pháp quán đưa
ta tới cánh cửa giải thoát vô tướng về thọ mạng. Nỗi
sợ hãi cái chết được dựa trên một ý niệm sai lạc là
tướng thọ giả. Kinh Kim Cương chỉ nói về bốn tướng nhưng
còn nhiều tướng khác nữa mà ta có thể quán chiếu. Nếu
không dùng niệm và định để quán chiếu thì ta không thể
mở được ba cánh cửa giải thoát không, vô tướng và vô
tác.
QUÁN
VÔ TÁC VÔ NGUYỆN
Vô
tác có nghĩa là không cần có gì phải làm, không cần có
dự án nào phải theo đuổi. Người ta thường nghĩ rằng tu
tức là theo đuổi dự án “đạt được niết bàn” hay “chấm
dứt được sinh tử.” Đi tu không phải là để lên chức
hoà thượng. Mục đích của sự tu học là thoát khỏi sinh
tử và đạt tới giải thoát. Nhưng theo giáo lý tam pháp ấn
thì chúng ta chưa bao giờ từng bị sinh tử cả. Chúng ta chưa
bao giờ bị ràng buộc cả. Chúng ta vô thường, đúng. Chúng
ta vô ngã, đúng. Nhưng chúng ta cũng vốn là niết bàn. Cũng
như đợt sóng kia vốn là nước. Trở về với bản tánh tự
tâm của mình là một cách nói. Kỳ thực mình luôn luôn an
trú trong bản tánh tự tâm của mình, không cần trở về.
Mục đích của sự tu học là để bừng tỉnh, thấy rằng
ta chưa bao giờ sinh, chưa bao giờ diệt. Đã không sinh, đã
không diệt thì ta đã sẵn có tính niết bàn. Đâu cần phải
có dự án, đâu cần phải thực hiện gì nữa? Đó gọi là
vô tác, hay là vô nguyện.
Giáo
lý vô nguyện chỉ cho chúng ta thấy tất cả sẵn có đầy
đủ trong bản tánh tự tâm của mình, ta không cần đi tìm
đâu hết. Ta đã là cái mà ta muốn trở thành (we are already
what we want to become). Tự nhiên có an lạc ngay trong giây phút
hiện tại, đó gọi là hiện pháp niết bàn. Buổi sáng nhìn
thấy ánh nắng ta mừng, nghe trời mưa ta cũng mừng, thấy
trời đầy sương ta cũng mừng. Ánh nắng, cũng như tiếng
mưa rơi, cũng như sương mù đều là những hiện tượng của
sự sống. Trong một hiện tượng có những hiện tượng khác.
Và tất cả những hiện tượng đều mang tính niết bàn và
vô nguyện. Nếu thức dậy mà ta cảm thấy có hòa bình, và
an lạc trong thân tâm, thấy ta không còn thiếu thốn gì, không
cần đeo đuổi gì nữa, thì lúc đó ta có khả năng tiếp
nhận hai mươi bốn giờ đồng hồ mà sự sống hiến tặng.
Thức
dậy miệng mỉm cười,
hăm
bốn giờ tinh khôi,
xin
nguyện sống trọn vẹn,
mắt
thương nhìn cuộc đời.
Ta
chỉ có thể tiếp nhận tặng phẩm này một cách trọn vẹn
với tâm vô nguyện. Nếu nghĩ rằng có hăm bốn giờ để
làm cái này, hoặc làm cái kia, thì hăm bốn giờ đó sẽ trở
thành một phương tiện, mà không còn là sự sống nữa.
Mỗi
việc chúng ta đang làm là sự sống, và có thể cho ta hạnh
phúc ngay trong khi ta làm. Khi ta đi thiền, ngồi thiền, hay uống
trà, ăn cơm, hoặc quét nhà, thì tất cả những giây phút
kia đều có thể là những giây phút hạnh phúc. Ta không coi
chúng như những phương tiện để đạt tới mục đích nào
cả. Trong lúc ta bửa củi, sự sống đã mầu nhiệm rồi,
ta thấy không cần bửa củi xong mới có hạnh phúc. Không
cần nước sôi rồi mới có hạnh phúc. Không cần nấu cơm
chín rồi mới có hạnh phúc. Như vậy là ta sống trong tinh
thần vô nguyện. Cái thấy ấy đạt tới thì cánh cửa vô
nguyện giải thoát môn mới mở ra.
Có
hôm tôi gặp một phụ nữ người Anh ở một xưởng làm gốm.
Bà ta hỏi: “Thầy có lo về tình trạng thế giới không?”
Tôi trả lời:” Tôi có lưu tâm, nhưng mối quan tâm của tôi
không làm hại tới sự an vui của tôi.” Bà này đang đau
khổ, chồng của bà bị bệnh tâm thần. Trong câu hỏi vể
tình trạng ở trên thế giới, và muốn nói tới những chuyện
xảy ra ở Nam Tư (Yougoslavie), hay ở các nơi khác. Nếu ta để
cho những lo lắng đó tràn ngập tâm mình thì chẳng bao lâu
ta sẽ bị bệnh như chồng của bà. Tôi im lặng, thở năm
bảy lần rồi mới nói:” Cái quan trọng nhất, bà ơi, là
dủ rất quan tâm đến tình trạng thế giới, bà cũng đừng
để cho những nỗi lo lắng đó tràn ngập tâm của mình, làm
cho mình quá ưu sầu. Nếu tâm mình bị tràn ngập âu lo thì
mình sẽ bệnh, và nếu bà bệnh thì ai mà chăm sóc, và nâng
đỡ cho ông nhà bây giờ? Thành ra bà phải tu tập. Tôi biết
rõ những gì đang xảy ra ở Nam Tư, tôi thấy cảnh khổ đau
rất tội nghiệp, nhưng tôi không để cho những chuyện đó
trở thành những yếu tố đe dọa tôi.”
“Tôi
nghĩ rằng điều quan trọng là ta làm được tới mức tối
đa những gì ta có thể làm, mà vẫn phải giữ được sự
an lạc, và bình tâm của mình. Nếu có thời giờ thiền hành,
hay thiền tọa thì chớ bỏ qua. Tâm trạng lo lắng không đưa
tới đâu. Dầu ta có lo âu tới mười lần, hoặc gấp trăm
lần, thì tình trạng cũng như vậy thôi. Nếu ta bị bệnh
thì tình trạng sẽ xấu hơn. Cho nên điểm quan trọng không
phải là ta lo, mà là ta làm những gì có thể làm được trong
giờ phút hiện tại. Nếu bà không giữ được sự an lạc
của bà thì bà không thể nào giúp được ông nhà. Bà cũng
không thể nào giúp được cho bất cứ ai và bất cứ nước
nào trên thế giới. Cho nên hãy làm những gì trong đời sống
hàng ngày của mình có thể làm được. Đó là chìa khóa.
Khi có thái độ đó thì tự nhiên ta có an lạc.” Tôi đã
nói tóm tắt những điều đó cho bà người Anh này trong vòng
mấy phút.
Ta
có thể có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, dầu trong
thân và tâm ta có điều chưa được như ý. Giáo lý Tịnh
độ nói: dầu còn khổ đau, dầu còn nghiệp chướng, ta vẫn
có thể vãng sanh được tới thế giới cực lạc. Đức Phật
A Di Đà sẽ không đóng cửa, sẽ không cấm ta vào cõi cực
lạc với một ít nghiệp chướng, một ít tham, giận, và si
mê. Đó gọi là đới nghiệp vãng sanh. Đới nghiệp là còn
mang nghiệp theo. Nghĩa là tịnh độ hiện tiền, đây là tịnh
độ, tịnh độ là đây. Dầu còn một ít lo lắng, sầu khổ,
một ít bệnh tật, ta vẫn có thể bước vào được thế
giới cực lạc như thường. Cho nên, buổi sáng thức dậy
mỉm miệng cười, ta thấy ta có thể có hạnh phúc. Quan
trọng là thái độ vô nguyện của ta. Vô nguyện là được
như nguyện, Không chờ đợi, không đòi hỏi, ta có thể hạnh
phúc trong bất cứ giây phút nào.
ÁP
DỤNG BA CỬA GIẢI THOÁT
Theo
các nhà xã hội học bên Mỹ, vấn đề số một của Hoa kỳ
là bạo động. Người ta bạo động đối với nhau: cha bạo
động đối với con, con bạo động đối với cha, học trò
bạo động đối với thầy. Người ta bạo động với chính
thân thể và tâm hồn của họ. Tự tử, sử dụng ma tuý,
nghiện rượu, người ta tự tàn phá cơ thể và tâm hồn.
Giống như xã hội đang đi về hướng tự hủy một cách tập
thể. Và những người có con mắt nhận xét thấy đó là một
vấn đề rất lớn. Căn nguyên của hiện tượng trên là con
người không có an lạc, con người đang đi tìm quên lãng.
Nếu con người có hạnh phúc thì con người đâu phải đi
tìm mấy chất ma tuý, và những ông vua ma tuý đâu có thể
làm ăn được. Sống với bản thân không an lạc, tự ghét
bản thân; sống với gia đình không an lạc, hờn oán gia đình;
sống với xã hội cũng không an lạc, thù ghét xã hội. Với
những đau khổ không biết cách chuyển hóa, người ta trút
những đau khổ đó lên cho nhau, làm phát sinh ra bao nhiêu căm
thù và bạo động.
Có
những thiếu niên mười hai, và mười ba tuổi ở Pháp đã
bắt đầu giết người. Trong mấy tuần lễ vừa qua lại có
những vụ giết người trong xe lửa. Bên Anh cũng vậy. Bạo
động là một dấu hiệu của tình trạng thiếu hạnh phúc,
thiếu thăng bằng. Người ta khổ đau nhưng không biết thực
tập, không có ai hướng dẫn. Có cơ duyên tu học, ta phải
biết trách nhiệm. Trước hết phải làm sao cho chính mình
có an lạc, và hạnh phúc, phải học nghệ thuật sống hạnh
phúc trong giây phút hiện tại, dầu ta còn có những điều
bất như ý. Ta bắt buộc phải có hạnh phúc. Nếu không ta
không thể làm chỗ nương tựa cho bất cứ ai, dầu đó là
cha, mẹ, anh, chị, em mình, đồng bào mình hay người trong
xã hội quanh mình. Ta cần phải làm thế nào để cho hạt
giống an lạc và giác ngộ sinh sôi nẩy nở cho nhiều, cho
nhân loại được nhờ. Mỗi ngày hăm bốn giờ đồng hồ
của ta là một cơ hội lớn để sống an lạc, và hạnh phúc.
Nếu ta cần một dự án, thì dự án đó là làm thế nào để
đào tạo thật nhiều những người có khả năng hướng dẫn
tu học. Cần có rất nhiều giáo thọ. Trong Đại Giới Đàn
sắp tới, Giới Đàn Hương Tích, sẽ có lễ truyền đăng
cho mười hai vị giáo thọ mới.
Trong
chuyến đi Hoa Kỳ vừa rồi có những buổi thuyết pháp cho
công chúng mà số tới dự bốn ngàn người, có những khóa
tu trong đó bốn trăm hoặc năm trăm người xin quy y để tiếp
nhận năm giói. Đó là hình ảnh cá mẹ sinh cả đàn cá con.
Nhưng như thế cũng không có thấm thía vào đâu. Trong chuyến
đi Bắc Mỹ đó, số người tới học trực tiếp trong những
khóa tu hay những buổi pháp thoại vào khoảng 28.000 người.
So với dân số cũng không có nghĩa gì. Dầu có những đài
phát thanh đã phát nguyên văn các bài pháp thoại liên tiếp
trong mười ngày, những tờ báo lớn như Washington Post, New
York Times hay Los Angeles Times đã viết một số những bài khá
hay về phương pháp thực tập. Có thể nói hàng triệu người
đã được tiếp xúc với giáo lý Bụt. Loài người rất khao
khát sống an lạc, rất mong biết được cách chuyển hóa tâm
hồn và thay đổi xã hội. Nhưng hiện bây giờ số người
có thể hướng dẫn được dân chúng tu tập, chuyển hoá còn
ít lắm. Và chúng ta phải thực tập như thế nào để làm
cho số người đó nhân lên. Điều này thì chúng ta có thể
làm được.
Nếu
cứ để thì giờ mà lo lắng, và ưu sầu thì chúng ta chỉ
làm cho tình trạng đen tối hơn. Thành ra câu trả lời cho
từng người vẫn là phải làm thế nào để mỗi bước chân
của mình được thảnh thơi, mỗi giây phút của đời sống
hàng ngày có an lạc, hạnh phúc. Ngưòi Pháp có một bài hát
“Chúng ta đợi gì không hạnh phúc bây giờ” (qu’est-ce
qu’on attend pour être heureux?). Mỗi sư cô, mỗi sư chú, mỗi
Phật tử và thiền sinh của chúng ta hãy tự hỏi câu hỏi
đó: tại sao chúng ta lại không có hạnh phúc ngay bây giờ?
Hạnh phúc trong giây phút hiện tại, hạnh phúc có liền như
là cà phê bột chỉ cần chế nước sôi vào là có thể uống.
Tôi
còn nhớ một thiếu phụ, tại một khóa tu ở Canada, sau buổi
thiền hành đầu tiên đã nói:” Thưa thầy, từ khi sang Bắc
Mỹ đến giờ, trong suốt bao nhiêu năm con chưa bao giờ được
đi những bước thong thả như hôm nay.” Xã hội đã kéo bà
chạy theo như một con chong chóng. Và bà chỉ cần được hướng
dẫn thiền hành trong hai mươi phút, là có thể đi vào được
trong thế giới của tĩnh lặng, của an lạc. Không cần phải
dự một khóa tu ba tháng. Có khi ta chỉ cần một khóa tu ba
ngày, hoặc bốn ngày. Và chỉ ngay sau giờ thiền hành đầu
tiên là đã có thể nếm được pháp lạc. Sau đó thiếu phụ
hỏi:” Bạch thầy, con có thể về chia sẻ phương pháp thiền
hành này cho các bạn con đuợc không?” Tại sao không? Các
sư cô, sư chú được tu tại Làng Hồng bốn năm là đã có
may mắn hơn những người như vậy nhiều. Sau bốn năm đó
ta đã có khả năng thiết lập những trung tâm tu học để
hướng dẫn người khác. Quý vị cũng sẽ làm như tôi, là
suốt đời học thêm, và phải luôn luôn thực tập. Càng học
và càng thực tập thì cái thấy, cái hiểu của mình về chánh
pháp càng sáng, và càng sâu thêm. Đức Khổng Tử nói: “Học
nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ,” học mà thuờng được
thực tập thì hà chẳng phải là niềm vui hay sao? Học với
thầy được một ngày thì ta đã tiếp nhận được chất
liệu của gia đình tâm linh ta để lại từ mấy ngàn năm.
Điều quan trọng là khả năng tiếp nhận, khả năng hấp thụ
(assimilation) của mỗi người. Hấp thụ là biến những chất
liệu mình tiếp nhận thành sự sống liền. Đừng chất chứa
chúng thành những kho kiến thức không dùng vào việc gì được.
Học
điều gì ta phải đem ra thực tập. Khi ta học về ba cánh
cửa giải thoát: không, vô tướng, và vô tác chẳng hạn,
thì phải áp dụng liền. Áp dụng thế nào về cánh cửa thứ
nhất là cánh cửa không? Có phải là lên thiên đường ngồi
thiền để suy tư về không chăng? Không phải như vậy. Mỗi
lần nhìn cây cỏ, đất trời, tiếp xúc với người với
vật, phải thấy được tính cách tương tức, tương nhập
của tất cả. Phải thấy tính cách mầu nhiệm của không
ở trong con ngưòi của mình.
Tới
cánh cửa thứ hai là vô tướng. Phải thấy được tính cách
vô tướng trong cái tướng của người, và vật chung quanh.
Thấy được rồi thì những sợ hãi, lo buồn, hờn giận của
mình sẽ tan biến, và vô tướng trở thành sự sống hàng
ngày.
Cuối
cùng là vô tác, vô tác là không cần tìm kiếm. Vô tác không
phải là hết ham muốn mà thôi. Có những người hết ham muốn
mà trong lòng rất rầu rĩ: tôi không thiết gì nữa! Apranihita
là không đặt trước mình một đối tượng để chạy theo.
Tức là biết dừng lại, và hạnh phúc chỉ đạt được khi
ta biết dừng lại. Cho nên nếu có người hỏi: ”Tu để
làm gì?”, có thể ta trả lời: “ Tu là để có hạnh phúc.”
Ngươi ta hỏi:” Tu tới bao giờ mới có hạnh phúc?”. “Phải
có hạnh phúc ngay từ bây giờ. Còn nếu không thì không phải
là anh đang tu.”
CÁC
CÁCH TRÌNH BÀY KHÁC VỀ PHÁP ẤN
Sau
khi đã hiểu về cách tu tập Tam Pháp Ấn chúng ta nên biết
thêm về các lối trình bày khác về pháp ấn. Trong văn học
Phật giáo cũng có ý niệm Nhị Pháp Ấn. Khổ là một pháp
ấn và niết bàn là pháp ấn thứ hai. Ngoài ra còn ý niệm
về Tứ pháp ấn, là vô thường, khổ, vô ngã và niết bàn.
Và Kinh cũng nói tới một pháp ấn thuộc truyền thống đại
thừa, gọi là Nhất Thật Tướng Ấn. Sở dĩ có nhiều cách
trình bày về pháp ấn là do lối nhìn của những thế hệ
về sau.
Trong
lịch sử phân phái, cuộc phân chia hệ phái đầu tiên xảy
ra một trăm năm sau khi Bụt nhập diệt, thành Thượng Tọa
Bộ và Đại Chúng Bộ. Thượng Tọa Bộ là các vị có khuynh
hướng bảo thủ, Đại Chúng Bộ là các vị muốn cải cách.
Thượng Tọa Bộ sau này chia ra Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết
Bộ, đó là cuộc phân phái thứ hai. Như chúng ta biết, Hữu
Bộ truyền lên miền Kashmir. Phân Biệt Thuyết Bộ ở lại,
sau đó lại gửi một chi phái là Xích Đồng Diệp Bộ sang
Tích Lan, bây giờ ta gọi là Theravada. Cho nên Hữu Bộ và Theravada
có cùng một nguồn gốc và kinh điển rất giống nhau. Trong
tam tạng Pali, những đoạn văn nói về vô thường cho nên
khổ, khổ cho nên vô ngã được lập đi lập lại nhiều lần,
cũng giống như trong những bộ Kinh A Hàm bằng chữ Hán thuộc
văn hệ Bắc Truyền. Điều đó chứng tỏ cách nhìn đó có
trước thời phân chia thành hai phái Hữu Bộ và Phân Biệt
Thuyết Bộ.
Theo
sát các đoạn kinh trên, đạo Bụt Nam Truyền giải nghĩa Tam
Pháp Ấn là Vô Thường, Khổ, và Vô Ngã. Cách nhìn đó có
thể đưa tới những hiểu lầm, cũng như lối xếp đặt Khổ
và Niết Bàn vào làm Nhị pháp ấn. Sai lầm căn bản là sự
biến đổi vai trò của Khổ, từ một cảm thọ cần nhận
diện, thành một bản chất của thực tại. Sau khi đã học
về ba cánh cửa của giải thoát chúng ta sẽ nhìn lại vấn
đề này trong ánh sáng của tam tam muội.
Khổ
đau phát sinh là do chúng ta bị kẹt vào tướng, cho nên Bụt
đã dạy phép quán vô tướng. Phương pháp mà Bụt dạy là
dùng giáo lý vô thường và vô ngã. Vô thường là một chiếc
chìa khóa để mở cửa thực tại, và dùng quán vô tướng
chúng ta phá vỡ được các tướng trạng. Vô ngã là một
chìa khóa khác. Dùng phương pháp vô ngã, chúng ta cũng đi tới
vô tướng. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, cái gì
có tướng là có sự lầm lẫn. Vô thường mà nghĩ là thường
thì khổ, vô ngã mà cho là có ngã thì khổ. Trước tiên, khổ
ở đây là do một cảm thọ do hư vọng gây ra. Nhưng nhiều
thế hệ Phật tử sau này đã nâng ý niệm khổ lên thành
một tính chất phổ biết tất yếu của thực tại. Vì trong
giáo lý tứ diệu đế Khổ đứng dầu. Bản ý của Bụt là:
chúng ta phải nhận diện Khổ. Nhận diện Khổ là một chuyện,
thái độ giáo điều nói rằng ” Tất cả đều là khổ,
không có cái gì là không khổ hết” là một chuyện khác.
Hai cách nhìn đó khác nhau rất nhiều. Nhưng nhiều thế hệ
Phật tử đã đi vào con đường thứ hai. Cho nên có lý thuyết
về Tam Khổ: Ban đầu Khổ như là một cảm thọ (Dhukha as
an unpleasant feeling). Rồi đến Hoại Khổ, vì vạn vật sẽ
tàn hoại cho nên khổ ( Dhukha as change). Thứ ba Hành Khổ, mọi
hiện tượng vì được tập hợp mà thành nên khổ, khổ vì
bản chất là Hành (Dhukha as formation). Thuyết Tam Khổ có tính
cách giải thích, binh vực cho chủ trương tất cả đều là
khổ. Mục đích của Bụt khi giảng Tứ Diệu Đế không phải
là biện luận về một chủ thuyết. Mục đích của Ngài là
dặn dò rằng có những cái khổ chúng ta phải nhận diện.
Những thế hệ sau nghĩ rằng sự giải thoát chỉ đạt được
khi ta nhắc đi nhắc lại sự thực thứ nhất :” Đời là
khổ, cái gì cũng là khổ, cái gì cũng là khổ” nếu không
thì không đạt được quả vị A La Hán, không giải thoát,
không an lạc. Đọc lại những tác phẩm A Tỳ Đạt Ma, như
Tranh Luận Sự (Points of contreversy) ta sẽ thấy. Đó là ta hiểu
và áp dụng sai Tứ Diệu Đế. Những cái đau khổ gọi chúng
là đau khổ đã đành rồi, những cái không đau khổ cũng
làm cho chúng thành đau khổ luôn!
Đi
xa thêm một bước nữa là quan niệm tất cả các Hành - những
hiện tượng được tập thành như là núi, sông, cây, cỏ,
mặt trời, mặt trăng, cha mẹ, anh em, nụ cười, tiếng khóc,
tất cả đều là khổ hết! Hệ luận của một quan niệm
như vậy là Niết – Bàn hoàn toàn tách biệt khỏi các hành.
Nước mà bỏ hết sóng đi thì đâu còn có nước?
Cách
nhìn đó dẫn tới ý tưởng cuộc đời là khổ, năm uẩn
là khổ, sáu đại là khổ, tất cả là khổ cho nên ta phải
diệt bỏ hết. Nhưng ai là kẻ làm công việc dứt bỏ đó?
Có một cái Ta biệt lập với năm uẩn, với những cái gọi
là Hành không? Hay Ta chẳng qua cũng chỉ là những Hành đó?
Cái ta có phải là một thực tại độc lập ngoài những Hành
này không? Nói Có tức là chấp vào Hữu Ngã, có một cái
Ngã riêng biệt.
Có
một cái Ngã nằm ngoài các Hành, có một cái Ngã riêng ở
ngoài năm uẩn, đó là một sai lầm căn bản. Đó là hai khái
niệm về ngã mà Bụt đã phá vỡ. Khái niệm thứ ba là Thần
Ngã (Atma) tức là yếu tố thiêng liêng có thể đồng nhất
hóa với Phạm Thiên (Brahma). Ta là Atma, còn Brahma là Đại
Ngã, hai cái đó là một, trở về với nhau gọi là giải thoát,
Bụt cũng đã bác bỏ ý niệm đó.
Vậy
thì cái Ta này là cái gì, có thể thoát ra ngoài năm uẩn và
các Hành được chăng? Có phải sau khi tôi đã buông bỏ tất
cả năm uẩn và các Hành rồi thì tôi sẽ bước sang một
thế giới khác gọi là Niết Bàn chăng? Vậy Niết Bàn là
một thực thể hoàn toàn biệt lập với các Hành chăng? Phải
chăng bỏ cái thế giới khổ này, đi tìm tới một thực thể
hoàn toàn khác với khổ, đó là nhập Niết bàn? Nghĩ như
vậy thì hai Pháp Ấn, Khổ và Niết – bàn, trở thành một
giáo lý nhị nguyên. Không phải Bụt dạy Khổ và Niết bàn
là nhị nguyên, mà cách nhìn của người ta bị kẹt vào quan
điểm nhị nguyên. Chúng ta thấy rất là mầu nhiệm khi phá
vỡ được tư tưởng nhị nguyên. Cũng như khi học về Xả,
ta cũng phải phá đổ quan điểm nhị nguyên. Tiếng Anh dịch
Xả là equanimity tức là không đứng về một phe, đối lập
với phe khác. Nếu nói Hành là khổ, rồi ta bỏ các Hành,
đi tìm về Niết-bàn hoàn toàn khác biệt với Hành, đó là
nhị nguyên, không phải là Xả. Niết bàn nằm trong các Hành,
niết bàn chính là Hành.
Bàn
luận như trên không phải là để biện giải lý thuyết xem
giải thích Tam Pháp Ấn cách nào là đúng, hay Nhị Pháp Ấn
cách nào là đúng. Câu hỏi thích đáng phải nêu lên là chúng
ta có thực tập Tam Giải Thoát Môn không? Các Tổ, các Thấy
nói tới Ba Cánh Cửa Giải Thoát nhưng đã dạy ta phương pháp
thực tập. Làm sao để thực tập Không, làm sao để thực
tập Vô Thường, và làm sao thực tập Vô Tác? Chúng ta phải
tránh việc học một mớ lý thuyết rồi không bao giờ đem
chúng áp dụng trong đời sống hàng ngày. Pháp Ấn có thể
là ba, Vô Thường, Khổ, Vô Ngã cũng được hoặc Vô Thường,
Vô ngã, Niết – bàn cũng được. Điều quan trọng là những
giáo lý ấy có thể thực tập được, có thể đem lại cho
ta giải thoát được hay không? Điều kỳ diệu là trong Tam
Pháp Ấn có Vô Thuờng, Vô Ngã, Niết – bàn, thì Niết –
bàn thuộc phạm vi Thể, và hai phần kia thuộc phạm vi Tướng.
Chính nhờ tiếp xúc với Tướng một cách sâu sắc mà đi
tới Thể của các tướng. Đó là nguyên tắc Tùng Tướng
Nhập Tánh.
Tam
Giải Thoát Môn đã được trình bày như là những phương
pháp thực tập và chúng ta có thể thực tập được. Sống
như thế nào gọi là có cái nhìn Không? Cách nhìn đó chúng
ta thực tập khi thức dậy, khi ăn cơm, khi uống nước, khi
tiếp xử với bạn bè. Sống như thế nào, thấy như thế
nào, tiếp xử như thế nào có thể gọi là Vô Tướng? Và
sống như thế nào có thể gọi là Vô Tác? Chúng ta an trú
được trong giờ phút hiện tại, có hạnh phúc ngay trong giây
phút hiện tại, dầu còn đeo theo một ít nghiệp chướng bên
mình. Nếu quý vị nói về Không, Vô Tướng, Vô Tác, đọc
một cuốn sách ba ngàn trang về Không, Vô Tướng, Vô Tác mà
cuối cùng không áp dụng được trong đời sống thì ba ngàn
trang sách đó sẽ không có ích lợi nào.
Sự
hiểu sai và truyền thừa sai xẩy ra khắp nơi, trong Đạo Bụt
Nam Truyền cũng như trong Đạo Bụt Bắc Truyền. Chúng ta phải
dùng trí thông minh và căn cứ trên kinh nghiệm tu tập, trên
những thành công, những thất bại của chúng ta để có thể
tiếp xúc với giáo lý đích thực của Đạo Bụt.