19
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ mười chín
Hôm
nay là ngày 27 tháng giêng năm 1994, chúng ta ở tại Xóm Thượng
và học tiếp về bát chánh đạo.
Chủ
nhật vừa rồi chúng ta học về năm lễ. Ở Việt nam, cúng
lễ tổ tiên không phải chỉ mỗi năm một lần. Chúng ta lạy
ông bà, cha mẹ trong những đám cưới, đám hỏi, những ngày
giỗ, ngày tết. Lễ là để tiếp xúc với gốc rễ của mình.
Trong chùa mỗi ngày chúng ta đều lễ. Chúng ta lễ Bụt, lễ
các vị tổ sư, lạy thầy, lạy chúng,v.v..
QUÁN
KHÔNG TRONG NĂM LỄ
Trong
khi thực tập năm lễ, chúng ta cũng phải biết thực tập
về Không quán và Không tam muội. Trước khi lễ, ta chắp tay,
thực tập hơi thở để quán chiếu về chủ thể của sự
lễ lạy là người lễ và đối tượng của lễ tức là người
được lạy. Trong các thiền viện Việ nam, mỗi khi chắp tay
chuẩn bị lễ ta phải quán tưởng như sau:
Năng
lễ, sở lễ, tánh không tịch.
Cảm
ứng đạo giao nan tư nghị.
dịch
trong
tự tính chân như
không
chủ thể đối tượng
đệ
tử kính lạy Bụt
tương
giao cảm nhiệm mầu.
Năng
lễ, sở lễ, tánh không tịch tức là bản chất của người
lễ và bản chất của vị được lễ, cả hai đều không.
Trong
khi lễ, chúng ta thực tập quán không. Không ở đây có nghĩa
là giữa hai bên, người lạy và người được lạy, có sự
tương duyên tương sinh. Chủ thể và đối tượng không phải
là những gì tồn tại và độc lập ngoài nhau. Khi cúi xuống
lễ tổ tiên, ta phải thấy rằng tổ tiên có liên hệ mật
thiết với ta. Ta không thấy cái ngã riêng biệt của ta đối
lại với cái ngã riêng biệt của tổ tiên. Ta thấy được
tính chất vô thường, vô ngã của ta và của tổ tiên, ông
bà và cha mẹ. Thấy được tính tương quan, tương duyên và
vô ngã giữa ta và ông bà, cha mẹ thì lễ mới thành công.
Quý vị đã từng thực tập và đã thực tập thành công,
quý vị đã thấy mình hòa nhập được vào dòng sống tổ
tiên, ông bà, cha mẹ và con cháu của mình. Cái ngã của ta
tan biến. Khi cái ngã của ta và của tổ tiên tan biến thì
có sự cảm thông mầu nhiệm và năng lượng của tổ tiên
mới truyền qua cho mình được. Đó là ý nghĩa của câu thứ
hai: Cảm ứng đạo giao nan tư nghị.
Con
đường cảm ứng, giao tiếp (communication, communion) mầu nhiệm
không thể tưởng tượng được, không thể đàm luận và
diễn tả được, đó gọi là nan tư nghị. Khi còn bị giam
khóa trong bản ngã của mình, ta chỉ thấy mình là mình, cha
mẹ là cha mẹ, mỗi người là một hải đảo hay một tháp
ngà riêng. Nhưng khi lạy xuống để quán tưởng ta sẽ thấy
được rằng cái ta là do những yếu tố không ta tạo nên.
Sự có mặt của ta ở đây cũng là sự có mặt của tổ tiên,
ông bà, cha mẹ và sông núi. Tự nhiên cái ngã tan đi. Trong
trạng thái tan biến đó của cái ngã thì năng lượng của
đất nước, của tổ tiên và của ông bà mới truyền sang
cho ta được. Đó gọi là cảm ứng đạo giao nan tư nghị.
Có
những người thực tập một ngàn tám mươi lễ mỗi ngày.
Lễ như vậy được vài ba tuần thì tan hết nỗi khổ, niềm
đau và sự cô đơn của họ. Mỗi khi lạy xuống như thế,
cái vỏ bản ngã của họ lại tan rã thêm. Nếu chúng ta lễ
như tế sao mà không quán chiếu về tính cách vô thường,
vô ngã và tương tức thì sẽ không có thành quả gì. Cho nên
lễ là một phương pháp rất hay. Chúng ta hãy quán tưởng
chúng ta đang lạy Bụt Thích Ca Mâu Ni là thầy của chúng ta,
là người khai sáng của đạo Bụt.
Chúng
ta đứng trước Bụt Thích Ca Mâu Ni quán tưởng: Lạy Bụt,
ngài với con, hai bên đều trống rỗng, không bên nào có một
thực thể riêng biệt. Chính nhờ như vậy mà ngài với con
mới có sự thông cảm nhiệm mầu. Ít có một tôn giáo nào
mà tín đồ hướng về đức giáo chủ để nói một câu nói
như vậy, Đối với một số các tôn giáo khác, đó là một
thái độ kiêu căng và bất kính rất lớn. Chỉ có trong đạo
Bụt, người đệ tử mới có thái độ như vậy, vì năng
lễ và sở lễ tánh không tịch cho nên cảm ứng đạo giao
mới nan tư nghị. Khi lạy xuống, nếu ta chuẩn bị tâm tư
kỹ lưỡng chừng nào, thì kết quả càng lớn chừng ấy.
Có nhiều bậc cha mẹ thuộc thế hệ mới, thấy mình phải
ngồi lên để mấy đứa con lạy xuống thì không chịu. Sống
trong thời đại dân chủ, mỗi người có nhân phẩm, ngồi
lên bắt con lạy xuống như vậy thì khó chịu lắm. Trong chùa
cũng vậy, có nhiều thầy bây giờ không muốn người ta lạy
mình. Một phần các thầy nghĩ mình không có đủ đức độ,
để Phật tử lạy thì tổn phước. Như vậy là chưa đạt
giáo lý của Bụt.
Các
vị mới xuất gia hay được vị thầy bổn sư dạy về việc
này. Khi mang hình tướng của người xuất gia, mình có thể
trở thành đối tượng cho nhiều người cung kính. Và đó
là điểm đáng lo trong đời sống xuất gia. Người ta khởi
lòng cung kính tam bảo, thấy tướng mạo đoan trang của người
xuất gia, họ muốn đảnh lễ. Nếu ta không có chánh niệm
thì chỉ trong vài năm, ta có thể bị hư liền. Ta tưởng mình
là quan trọng lắm. Người mới tu mà bị Phật tử tới lạy
thì cảm thấy rất xốn xang. Biết mình đức độ chưa có
bao nhiêu, học hỏi chưa được bao nhiêu, giới luật chưa
tinh nghiêm, mà phải ngồi đó cho người ta lạy thì trong lòng
rất khó chịu. Ta có thể hiểu được tâm trạng các bậc
cha mẹ bị bắt buộc ngồi như hai pho tượng để các con
xì xụp lễ. Nhưng chúng ta nên hiểu đây là một sự thực
tập rất quan trọng. Cha mẹ là đại diện cho tất cả các
thế hệ tổ tiên, ông bà. Những người trẻ họ có nhu yếu
hướng về cội nguồn, họ cũng cần một biểu tượng để
lạy. Nếu không ngồi cho họ lạy thì có thể họ sẽ quên
mất gốc rễ và không tiếp xúc được với ông bà và tổ
tiên của họ. Cho nên dù quí vị là những bậc cha mẹ chưa
đến tuổi già, quí vị cũng nên ngồi cho đàng hoàng để
cho con cháu lạy. Trong khi ngồi đàng hoàng, quí vị có thể
thực tập hơi thở chánh niệm và tưởng nhớ tới tổ tiên,
thấy rằng các con mình đang hướng về các thế hệ tổ tiên
để tìm nương tựa chứ không phải đang thần tượng hóa
mình. Các cháu phải hiểu lạy đây không phải là lạy cái
ngã của cha mẹ. Các cháu đang lạy với lòng biết ơn bao
nhiêu thế hệ tổ tiên trong quá khứ đã mở nước, dựng
nước, xây dựng nên nếp sống văn hóa của dân tộc. Người
xuất gia hay mới xuất gia cũng vậy. Chúng ta mặc nhật bình
hay áo tràng, tuy tuổi tu còn ít, đức độ còn kém, nhưng
khi người ta tới lạy cũng phải ngồi cho thật trang nghiêm.
Người ta không lạy cái ngã của mình đâu mà sợ. Người
ta đang lạy tam bảo. Họ lạy dòng sinh mệnh tâm linh, họ
lạy Bụt và chư tổ qua con người mình. Cho nên ta phải ngồi
cho thật đàng hoàng, phải tập thở cho chánh niệm. Phải
quán chiếu rằng họ lạy đây không phải là lạy mình, lạy
cái ta của mình, mà họ đang lạy truyền thống tâm linh của
họ. Thấy được như thế thì ta có thể ngồi rất an nhiên
và tự tại. Cái lạy đó sẽ không bao giờ làm cho ta trở
thành kiêu căng. Còn nếu ta không quán chiếu “Năng lễ, sở
lễ, tánh không tịch” thì người ta chỉ cần lễ ba lễ
là mình mất hết công đức từ lúc mới tu cho đến lúc này.
Không những mất hết công đức mới mà còn mất vào vốn
cũ nữa!
Đó
là bí quyết tôi thường truyền trao lại cho những người
mới tu. Dù mới tu có hai ba ngày nhưng nếu có hai ba trăm người
tới đảnh lễ ta cũng phải ngồi rất yên, rất trang nghiêm
cho họ lạy. Trong khi người lễ, ta phải quán chiếu vô ngã,
duyên sinh và vô thường. Được trao truyền bí quyết đó
rồi thì ta có thể cứu được đời tu của ta. Những điều
đơn giản và căn bản như vậy mà ta không được tiếp nhận,
thì ta rất dễ đánh mất giới thân huệ mạng. Mỗi khi bị
người ta lạy, tôi không sợ hãi chút nào cả. Tôi ngồi đó.
Tôi thấy những cái lạy của người ta không động gì tới
tôi, không làm cho tôi có thêm một chút tự hào nào hết.
Có khi ngồi trên pháp tọa để truyền giới, năm trăm,
bảy trăm người, cả ngàn người lễ xuống để nhận giới,
tôi thấy được tâm trạng thiết tha thành khẩn của những
người thọ giới. Họ đang hướng về tam bảo, hướng về
mấy ngàn năm lịch sử của chất liệu tâm linh. Tôi ngồi
đó để làm cái gạch nối giữa tổ tiên tâm linh và những
người thọ giới. Cái lạy của họ không làm tôi khởi lên
một tâm niệm ngã mạn, tự hào, tự phụ, nhờ vậy tôi chưa
bao giờ bị sập vào bẫy cống cao. Tôi thoát được cái bẫy
sập là nhờ thực tập không quán, và vô ngã quán.
QUÁN
KHÔNG TRONG KHI ĂN
Vậy
trong khi lạy ta thực tập không quán, không như một cánh cửa
giải thoát. Khi ăn cơm ta cũng thực tập không quán. Tiếp
xúc với tăng thân, ta thấy tăng thân là mình, mình là tăng
thân. Với thức ăn ta cũng quán như vậy, ta là thức ăn, thức
ăn là ta. Ôm bình bát, lấy thức ăn, nào đậu que, nào cơm
chiên, bỏ vào bình bát, trong lúc đó ta làm gì? Nếu sư chú
không quán nhân duyên, không quán không, thì sư chú làm gì
trong những lúc đó? Chính lúc đó là lúc ta thực tập. Xúc
mấy thìa cơm bỏ vào bình bát, ta phải thấy cơm, phải thấy
tính cách duyên sinh của cơm, phải thấy tính cách vô thường,
vô ngã của cơm. Phải thấy cơm là chất liệu nuôi dưỡng
mình, và chính mình được làm bằng cơm. Bài pháp thoại tôi
đang nói cho quí vị nghe đây cũng được làm bằng cơm. Nếu
biết cách, ta có thể biến khoai tây thành pháp thoại. Mà
khoai tây cũng có thể làm ra chất độc. Khi miệng ta phun ra
những sân si và buồn giận, thì khoai tây biến thành sân si
và buồn giận.
Ta
chỉ cần thực tập một phép quán thôi, vì thực tập một
là thực tập tất cả. Phải thực tập tính cách không của
mình và của thức ăn. “Năng ăn, sở ăn, tánh không tịch,”
nghĩa là người ăn và thức ăn cả hai tính chất đều không
tịch. Vì vậy sự giao cảm giữa ta và thức ăn không thể
nghĩ bàn được.
Ôm
bình bát đi vào thiền đường ta nghĩ gì? Ta thực tập thiền
hành, đi từng bước chân thảnh thơi. Mỗi bước chân có
liên hệ đến sự an lạc của cả thế giới. Nếu trong khi
ôm bình bát bước đi mà tâm ta không có chánh niệm, bước
chân ta không thảnh thơi, thì đi như vậy uổng quá. Vì đó
là cơ hội ta dâng hiến chất liệu an lạc, hạnh phúc và
hoà bình cho thế giới. Nếu trong ta có hòa bình và an lạc
thì ta mới có thể đóng góp vào hoà bình và an lạc của
thế giới. “Peace always begins with me” là như vậy. “I walk
for you”, mỗi bước chân ta đi ta bước cho tất cả mọi
người. Bước chân vững chãi, an lạc thì cả thế giới được
hưởng.
Vào
tới thiền đường, đặt bình bát, ngồi xuống, lúc đó các
bạn tu cũng đang thực tập lấy cơm, bước từng bước vào
thiền đường. Đã ngồi xuống rồi, chúng ta làm gì? Không
lẽ chỉ ngồi chờ hay sao? Có thể mười lăm phút sau, có
khi nửa giờ sau người chót trong đại chúng mới lấy cơm
xong. Trong mười lăm phút hay nửa giờ đó, nếu ta nghĩ ngợi
quẩn quanh, nhớ tiếc quá khứ, lo lắng tương lai thì ta không
xứng đáng ngồi trong thiền đường. Thời giờ ngồi đó
là thời giờ thực tập. Trong thời gian này ta thực tập tiếp
xúc với tăng thân, tiếp xúc với giây phút hiện tại. Ta
nhìn một sư anh hay một sư chị đang đi vào, theo dõi từng
bước chân của người đó, mỉm cười với bông hoa trước
bàn thờ, lúc nào cũng an trú trong hiện tại. Đó là những
lúc ta có thể thực tập vô thường quán, vô ngã quán và
nhân duyên quán. Những lúc đó là những lúc ta đang nuôi dưỡng
hiểu biết và từ bi. Mười lăm phút hay nửa giờ đó ta không
bỏ phí. Ngoài đời người ta phải nối đuôi sắp hàng để
đợi vào rạp hát hay đợi mua vé xi-nê. Trong những lúc đó
họ có thể bồn chồn nóng nảy. Nhưng trong các thiền viện,
những lúc như vậy là những lúc ta thực tập. Chúng ta tu
tập cho không tam muội có mặt trong ta. Khi đã tiếp xúc được
cái Không rồi thì những hiện tượng như tới, lui, sống,
chết, có, không,v.v.. không còn làm động tới tâm mình nữa.
Sự
chuyển hóa của ta tùy thuộc vào việc hành trì mỗi ngày.
Một ngày nào đó, một người thân của chúng ta sẽ qua đời,
một người thương của chúng ta sẽ bỏ chúng ta đi, hay chính
bản thân ta sẽ bệnh, sẽ chết. Những chuyện đó sẽ xảy
ra, thế nào cũng phải xảy ra. Nếu chúng ta không thực tập
bây giờ thì làm sao ngày ấy ta có thể sẵn sàng tiếp nhận
những gì xảy ra với tâm trạng bình thản được? Chúng ta
đi vào cánh cửa giải thoát nhờ không quán và không tam muội.
Vậy trong mười lăm phút hay nửa giờ ngồi trước bình bát,
chúng ta nên thực tập không khác gì khi ta ngồi thiền. Ngồi
thiền ta cũng chỉ làm như vậy. Ngồi an trú trong hiện tại,
tạo ra an lạc và hạnh phúc ngay trong giờ phút này.
QUÁN
VÔ TƯỚNG
Tam
muội thứ hai là Vô Tướng. Cũng như Không tam muội, Vô Tướng
tam muội cũng được tạo tác bằng tuệ giác về vô thường
và vô ngã. Tướng là tướng trạng, tướng mạo (appearance)
của sự vật. Tướng là đối tượng của tri giác. Đối
tượng là tướng mà chủ thể là tưởng. Tướng và tưởng
không thể rời nhau mà có. Không có đối tượng tồn tại
biệt lập ngoài tưởng, tức là ngoài tri giác của chúng ta.
Trong kinh Kim Cương có câu: Ở đâu có tướng thì ở đó có
sự đánh lừa. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Chúng
ta bị cái hư vọng đánh lừa. Câu tiếp theo: Nhược kiến
chư tướng phi tướng tức kiến như lai. Nếu thấy được
cái phi tướng ở nơi cái tướng tức là thấy được thực
tại mầu nhiệm, thấy được như lai.
Thực
hiện điều này cũng không khó lắm đâu, nếu ta biết sử
dụng những chiếc chìa khóa vô thường và vô ngã. Hãy quán
chiếu về vô thường, hãy quán chiếu về vô ngã. Ta sẽ thấy
được tính chất vô thường của các tướng. Chúng ta thử
quán chiếu về một bông hoa. Chúng ta có tri giác (tưởng)
về bông hoa nên thấy tướng của bông hoa. Tôi từng nói rằng
hoa được làm từ những yếu tố không phải là hoa. Sở dĩ
ta bị kẹt vào tướng hoa vì nghĩ rằng cái tướng hoa tách
rời khỏi những cái tướng khác. Ta tưởng rằng hoa chỉ
là hoa thôi, hoa đâu có thể là những cái không phải là hoa
được. Mặt trời là khác, đám mây là khác, phân rác là
khác, đại địa là khác. Nhưng nhìn cho kỹ thì ta thấy rằng
hoa là mặt trời, hoa là đám mây, hoa là đại địa. Nhìn
vào mặt trời, nhìn vào phân rác, nhìn vào đại địa ta cũng
có thể thấy hoa. Đó là thấy cái phi tướng của tướng.
Người làm vườn nhìn vào đống rác mà thấy được hoa,
đó là thấy được cái phi tướng của cái tướng. Người
làm vườn dùng phân hữu cơ là người có thể thấy được
tính cách bất nhị của phân rác và hoa trái. Nhìn vào trong
phân rác họ thấy được hoa trái, nhìn vào hoa trái họ thấy
phân rác. Nếu áp dụng được cách nhìn đó trong mọi lĩnh
vực khác của tri giác thì ta sẽ chứng ngộ.
Người
làm chính trị cũng có thể thực tập như vậy. Người làm
kinh tế cũng có thể thực tập như vậy. Nếu những nhà chính
trị, những nhà kinh tế, những nhà giáo dục thực tập lối
nhìn vô tướng, thì thế giới của chúng ta sẽ có một tương
lai tốt đẹp hơn. Ví dụ một số người trẻ vào tù vì
ăn cướp hoặc giết người. Khi bắt những người ấy giam
lại, ta nên quán chiếu về vô tướng và vô ngã. Chúng ta
đã tổ chức cuộc sống trong xã hội như thế nào cho nên
hoàn cảnh mới sinh ra những lớp trẻ như vậy? Bây giờ chỉ
biết giam giữ họ trong tù hay đem giết họ đi, thì ta đâu
có giải quyết được vấn đề! Nếu cách thức tổ chức
sinh hoạt của xã hội ta cứ tiếp tục thế này thì chúng
ta sẽ tiếp tục tạo ra hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn
người trẻ như vậy, để bỏ vào tù.
Khi
vị quan toà, nhà chính trị hay nhà giáo dục nhìn vào một
người trẻ phạm tội, họ phải thấy Tương tức, thấy Vô
ngã, thấy Không, để hiểu rằng sở dĩ cái này như thế
này là tại vì cái kia như thế kia. Nếu đời sống thành
phố quá nhiều bạo động, quá nhiều tội ác, quá nhiều
những cô gái ăn sương, thì các nhà giáo dục, và chính trị
phải quán chiếu vô thường, vôn ngã, vô tướng, và tương
tức, để thấy rõ tại sao tình trạng đã đi tới như vậy.
Chúng ta có nên chỉ đổ tội cho những người trẻ đó hay
không, hay phải thấy trách nhiệm của chúng ta trong học đường,
trong gia đình và trong xã hội? Những điều ta nói, những
việc ta làm, cách ta tiếp xử trong đời sống gia đình, trong
phạm vi học đường và xã hội đã đóng góp những gì để
tạo ra những người trẻ như vậy? Có những bạn trẻ mới
mười tám tuổi đã tự bắn vào đầu vì thấy sống không
có ý nghĩa, không có niềm vui, không có lý tuởng nữa. Mà
xã hội có rất nhiều người trẻ như vậy. Đi vào con đường
ma tuý, ăn cướp, băng đảng cũng là một loại tự tử.
Khi
một thương gia, một nhà kỹ nghệ để hết thời giờ ra
làm giàu, ông ta phải quán chiếu các hậu quả của thái độ
ấy trên đời sống gia đính, trên vợ con mình, và trên xã
hội, Việc kinh doanh của mình có thể làm đổ vỡ gia đình,
tàn phá xã hội và thiên nhiên. Một nhà chuyên môn làm quảng
cáo phải quán chiếu những phim ảnh, và bài quảng cáo của
mình. Họ thường khai thác những thị dục và các mối sợ
hãi tiềm ẩn trong tâm lý của công chúng. Có người làm trong
ngành quảng cáo đã thú thật rằng công việc của họ không
đúng với những chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ của
họ. Nếu họ muốn trung thực với chánh kiến, chánh tư duy
và chánh ngữ thì họ sẽ mất việc làm. Ông ta nói: “ Bạch
thầy, nếu mà con nói đủ những cái tốt và cả những khía
cạnh tiêu cực của sản phảm này thì không ai mua hết. Con
sẽ mất sở, và hãng của con cũng sẽ vỡ nợ.” Cho nên
trong sinh hoạt xã hội, ngôn từ và hành động chúng ta nếu
không căn cứ trên nguyên tắc tương tức, tương nhập, vô
thường, vô ngã, không và vô tướng thì chúng ta sẽ tạo
rất nhiều tội ác.
ÁP
DỤNG QUÁN VÔ TƯỚNG TRONG CUỘC SỐNG
Trẻ
em trong xã hội ta phải đi học mười mấy năm mới ra trường.
Chúng học đủ thứ ở trong trường. Nhưng có thể sau mươi,
mười lăm năm, ra trường rồi các em vẫn chưa biết cách
sống. Nhờ đâu mà mọi người biết đọc và biết viết?
Vì mọi người đã đến trường để học đọc và học viết.
Tại sao ta không biết đối trị với cơn giận và hòa giải
với những người chúng ta thương yêu? Vì chúng ta chưa bao
giờ được học những nghệ thuật đó trong một trường
nào cả. Tại trường, vì chúng ta không được học những
nghệ thuật đó, nên chúng ta không biết thở, không biết
cười, không biết hoà giải nội kết, không biết chuyển
hóa cơn giận. Vì vậy ta phải tìm cách đưa những thực tập
này vào dậy trong các trường mẫu giáo, các trường tiểu
học và trung học. Mục đích của học đường bây giờ chỉ
là để cung cấp cho ta một số kiến thức và kỹ thuật để
có thể sinh nhai. Trường học không dạy cho chúng ta nghệ
thuật tạo hạnh phúc cho mình, cho những người mình thương,
và cho xã hội. Cho nên chúng ta cần vận động, hô hào và
khuyến khích cách mạng nền giáo dục quốc gia. Làm thế nào
từ những năm mẫu giáo, các cháu đã có thể học đi, học
cười, học nói, học làm cho mình và mọi người hạnh phúc.
Học chữ, học toán cũng khó lắm chứ, vậy mà các em cũng
học được. Học thở, học cười, học chuyển hóa cơn giận
cũng khó. Nhưng chúng ta cũng sẽ làm được. Các em đang còn
nhỏ như măng non, thế nào cũng uốn nắn và tập dượt được.
Khi một em bé nổi giận, sắp gây gỗ, chửi bới và đánh
lộn, em bé đó không tự biết phải làm gì để có thể thoát
ra khỏi cơn giận dữ. Điều đó cô giáo phải dạy, thầy
giáo phải dạy. Phải dạy cho tới nơi tới chốn. Đến khi
em ấy lớn lên, mười lăm, hai mươi tuổi, em mới biết nghệ
thuật sống với gia đình, sống với người khác, và sống
trong xã hội.
Trước
đây, tôi có đề nghị lập ra một học viên cho những người
đến tuổi thành lập gia đình, để cho những người này
có cơ hội học những nghệ thuật sống chung. Hai người trẻ
lấy nhau, thành vợ chồng rồi, nhưng có thể vẫn còn vụng
về, gây ra nội kết cho nhau, tưới tẩm những hạt giống
giận hờn, và mặc cảm trong nhau. Nếu không biết gì hết
về nghệ thuật tu tập và sống chung thì họ sẽ mang lại
khổ đau cho nhau. Đến khi sinh con, họ cũng sẽ gieo vào các
con rất nhiều hạt giống của khổ đau. Khi sinh ra đời, ta
mang đủ những hạt giống của khổ đau và hạnh phúc. Nếu
may mắn thì những hạt giống tốt được tưới bón, còn
nếu không may thì chính gia đình, xã hội, học đường sẽ
chỉ tưới tẩm những hạt giống khổ đau, thất vọng, buồn
khổ và giận hờn trong ta mà thôi. Đến khi lập gia đình,
vì không biết phương pháp nên ta lại tưới tẩm những hạt
giống xấu của nhau, Sinh con ra, ta cũng sẽ gieo những hạt
giống xấu cho con, và góp phần làm lớn thêm nỗi khổ đau
chung của xã hội. Có khi con thù ghét chính cha mẹ, rồi thù
ghét mọi người. Và khi đến lượt dựng vợ gả chồng thì
họ cũng làm khổ lẫn cho nhau. Cái vòng luân hồi tiếp tục
lẩn quẩn như vậy. Cho nên lập ra một học viện như thế
là cần thiết lắm. Các bạn trẻ vào học một hoặc hai năm
và thực tập trong một tăng thân, để có một ít bản lãnh
làm vốn liếng thành lập gia đình, sinh con đẻ cái.
Nếu
không có tuệ giác về vô ngã, về vô tướng, và về không,
thì trong lúc đau khổ ta sẽ chỉ biết trách cứ người này,
người khác. Hay ta có thể phạm tội giết người. Sở dĩ
người ta giết người vì họ nghĩ rằng người ấy là nguồn
gốc nỗi khổ đau của họ. Có khi ta tự giết mình vì ta
không có khả năng đối diện với quá nhiều khổ đau. Ta
không biết rằng trong ta có người, trong người có ta, không
thể chỉ có một nguyên cớ duy nhất tạo nên đau khổ của
mình. Vô tướng mới nghe, ta thấy giống như là một triết
lý, như là đang nói chuyện trên mây, nhưng quả thật rất
thực tế và thiết yếu cho đời sống. Nhìn sâu vào đứa
con, ta thấy các yếu tố xã hội, văn hóa, giáo dục, tổ
tiên, và đất nước đã làm ra đứa con ấy. Cái thấy đó
là cái thấy vô ngã, cái thấy vô tướng, khiến ta phát khởi
lòng thương. Ta biết rằng nếu thấy được gốc rễ của
khổ đau, thấy được những điều kiện nào đưa con mình
tới tình trạng bất như ý như thế, thì ta mới biết hiểu,
biết thương, biết cách chuyển hóa, và đứa con sẽ có hy
vọng chuyển hóa.
Vậy
vô tướng ở đây có nghĩa là phá tướng, nghĩa là vượt
ra khỏi cái tướng. Tướng là ý niệm cạn cợt, sai lầm.
Nhìn đứa con mà thấy được tất cả xã hội, thấy được
cả môi trường văn hóa, và kinh tế; cách nhìn đó gọi là
cách nhìn vô tướng. Vô tướng có nghĩa là vô ngã và cũng
hàm nghĩa vô thường. Ví dụ ta nói về ông bà, và tổ tiên.
Nếu bị kẹt vào ngã và tướng ta sẽ nghĩ là ông bà, và
tổ tiên không còn nữa. Nhưng quán chiếu vào tự thân qua
cánh cửa vô thường, vô ngã và vô tướng ta thấy tất cả
thế hệ ông bà, và tổ tiên đang có mặt trong con người
ta. Ta vẫn tưởng là Bụt và các vị bồ tát không còn nữa.
Nhưng đã được trao truyền giáo lý vô tướng mầu nhiệm,
ta thấy trong ta có Bụt, có Pháp, có Tăng. Nhờ đó ta thấy
được tính không sinh không diệt của Bụt, của Pháp và của
Tăng. Mỗi giây phút ta có thể tiếp xúc với Bụt, Pháp và
Tăng. Đó là vô tướng. Nói rằng mình vô phước, sinh ra đời
thì Bụt đã nhập diệt trên 2500 năm rồi, nghĩ như vậy là
suy nghĩ theo lối hữu tướng. Bụt không bị giam khoá trong
hình hài của một con người sinh ra ở Ca Tỳ La Vệ cách đây
2600 năm. Bông hoa cũng vậy. Bông hoa không thể bị giam khóa
vào trong cái tướng trạng ta đang nhìn thấy đây. Vì vậy
ta phải thấy được bông hoa ngoài cái tướng của bông hoa.
Mười
mấy năm trước, ba của bé Phòng đã tới Làng Mai làm lễ
cầu siêu cho bé. Trong bài thuyết pháp hôm ấy tôi đã nói
tới vô tướng. Sau đó tôi cùng ba của bé Phòng đi thiền
hành một vòng trên xóm Thượng. Tôi đã dặn: “Bây giờ
thầy trò mình đi thiền hành như thế nào để có thể thấy
được bé Phòng ngoài cái tướng của bé Phòng mà trước
giờ mình vẫn thấy. Đi như thế nào để có thể thấy được
bé Phòng trong mỗi lá cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi bông hoa, và
mỗi hơi thở của mình.”
Đời
Lý có một vị thượng thư tên là Đoàn văn Khâm. Sư phụ
ông viên tịch, các đệ tử than khóc rất nhiều, Ông đã
làm một bài phúng điếu thầy, trong đó có hai câu:
Đạo
lữ bất tu thương vĩnh biệt,
Viện
tiền sơn thủy thị chân hình.
dịch:
Các
bạn đừng nên thương cảm quá
Núi
sông trước viện chính là thầy
Đạo
lữ tức là các bạn tu của tôi ơi. Bất tu là không nên.
Thương vĩnh biệt là đau thương quá về sự vĩnh biệt. Thầy
tịch rồi nhưng đừng có đau thương, đừng khóc lóc quá,
đừng để bị kẹt trong tướng trạng của thầy. Phải thấy
thầy trong tính vô tướng của thầy. Viện tiền sơn thủy
thị chân hình, những hình dáng núi sông mà chúng ta thấy
ở trước thiền viện, đó là chân hình của thầy. Các bạn
hãy lau nước mắt đi, hãy nhìn núi, nhìn sông ở trước thiền
viện. Hãy mỉm cười. Thầy chúng ta đang còn đó. Chân lý
về vô tướng, và tuệ giác về vô tướng giúp ta thoát khỏi
những ý niệm có, không, sinh, diệt, còn, mất, giúp ta giải
thoát được những sầu đau, thất vọng. Vì vậy vô tướng
là một trong ba cánh cửa giải thoát.
Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cái gì có tướng, đều
là sự đánh lừa. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tất
kiến như lai. Nếu thấy được cái phi tướng ở nơi cái
tướng tức là thấy được như lai. Đó là tinh tuý của Kinh
Kim Cương.
Thầy
và tổ có lòng từ bi rất lớn. Sau khi nói tới không tam muội
sợ người mới học bị kẹt vướng vào ý niệm không.
Các vị dạy thêm rằng sau khi đã học Không Tam Muội rồi,
phải học Không Không Tam Muội. Sau khi học vô tướng
tam muội ta cũng hay nghĩ rằng cái tướng này không có, cái
đó cũng sai. Chân tướng của tướng không phải có mà cũng
không phải không. Sau khi đã nghe về vô tướng tam muội thì
phải biết thêm về Vô Tướng Vô Tướng Tam Muội. Cửa
giải thoát thứ ba là vô tác tam muội cũng vậy, phải được
bổ túc bằng Vô Tác Vô Tác Tam Muội. Tất cả gọi
chung là Tam Trùng Tam Muội.
Như
ta đã biết, Tam giải thoát môn được khai triển và chú trọng
rất nhiều trong đạo Bụt Bắc Tông. Giáo lý không, vô tướng
và vô tác có mặt trong kinh điển Pali, nhưng trong truyền thống
Nam Tông, giáo lý này không được khai triển đầy đủ.
Nếu
chúng ta không tu tập theo ba cánh cửa giải thoát, ba thứ định
không, vô tướng và vô tác, thì chúng ta không thể dễ dàng
phá tung những chướng ngại, và cố chấp để đi vào thế
giới của giải thoát, của tự do.