18
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ mười tám
Hôm
nay là ngày 23 tháng giêng năm 1994, chúng ta ở tại Xóm Hạ
và học tiếp về bát chánh đạo.
Hôm
trước tôi có trao cho quý vị một bài tập để quán chiếu
và trình bày. Hôm nay chúng ta có một bài khác cần được
thực tập với nhau trong tăng thân, trong một tuần lễ. Trong
suốt một tuần lễ chúng ta phải dùng một thiền ngữ đơn
giản để thực tập niệm và định. Thiền ngữ đó là “Ta
đang làm gì đây?” (What am I doing here? What am I doing now?)
Đây
là thiền ngữ ta phải dùng để tự hỏi mình trong mỗi giây
phút. Khi đang đi từ phòng ăn ra vườn mận, hoặc đi từ
phòng riêng lên thiền đuờng, ta tự hỏi: “Ta đang làm gì?”
hoặc là “Mình đang đi đâu?” Chúng ta tổ chức thực tập
cách nào để tăng thân cùng được thực tập chung thì hiệu
quả mới cao. Nếu tăng thân quanh ta biết ta đang thực tập,
và tăng thân cũng biết ta trông đợi họ thực tập, thì sức
mạnh của sự thực tập mới lớn. Đang rửa chén, đang cưa
gỗ, đang quét nhà, đang cắm hoa,v.v. đó là những lúc ta tự
hỏi: ”Ta đang làm gì?” Thiền ngữ này rất mầu nhiệm
để thực tập chánh niệm. Ai cũng biết rằng rửa bát là
để có bát sạch ăn cơm. Ngoài đời, rửa bát chỉ là để
có bát sạch. Nhưng trong thiền viện, ta có phương pháp rửa
bát của thiền viện.
Kinh
có một đoạn kể lại câu chuyện của một triết gia tới
thăm Bụt, và triết gia đó nêu những câu hỏi có tính cách
trí thức. Cuối cùng, ông hỏi: “Tại đây quý vị tu hành
theo phương pháp nào?” Rồi lại muốn cho cụ thể hơn, ông
hỏi: ” Nói một cách khác, mỗi ngày quý vị làm những gì?”
Bụt cười và bào:” Chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, giặt
áo, rửa bát, quét sân.. chúng tôi làm những việc như vậy.”
Triết gia đó nói: “ Như vậy thì đâu có khác gì chúng tôi
ở ngoài đời? Ngoài đời, chúng tôi cũng đi, đứng, nằm,
ngồi, ăn, uống, quét sân, giặt áo, rửa bát..” Bụt nói:
” Khác lắm chứ! Vì khi chúng tôi đi, chúng tôi biết là
chúng tôi đi. Khi chúng tôi đứng, chúng tôi biết là chúng
tôi đứng. Khi chúng tôi ngồi xuống, chúng tôi biết là chúng
tôi ngồi xuống. Khi chúng tôi rửa bát, chúng tôi biết rằng
chúng tôi rửa bát. Khi chúng tôi giặt áo, chứng tôi biết
là chúng tôi đang giặt áo.” Lời Bụt nói có nghĩa là: chúng
tôi thực tập chánh niệm trong mỗi giây phút của đời sống
chúng tôi. Đó là một đoạn kinh rất đơn giản, nhưng trong
đó ta thấy rất rõ ràng sự khác biệt giữa cuộc sống thiền
viện và cuộc sống ở ngoài.
Trong
cuộc sống ngoài đời người ta làm việc gỉ cũng nhằm một
mục đích. Như rửa bát là để có bát sạch, đi chợ là
để mua thức ăn, giặt áo là để có áo sạch. Trong thiền
viện, giặt áo, đi chợ, nấu ăn còn có mục đích để chuyển
hoá thân tâm, đạt tới an lạc. Các mục đích này có thể
được thực hiện ngay trong giờ phút thực tập, làm cho người
hành giả có hạnh phúc ngay trong khi thực tập. Và cái năng
lượng có khả năng chuyển hóa và đưa tới an lạc ấy là
chánh niệm.
Vậy
thì trong khi rửa bát hoặc quét nhà, ta có thể tự hỏi:”
Ta đang làm gì đây?” Nếu trong khi quét nhà, lòng chỉ muốn
quét cho mau xong, đã không có an lạc mà còn có bực bội,
thì ta sẽ bực bội suốt đời. Phải quét nhà như thế nào
để trong khi quét nhà ta có an lạc. Tự hỏi:” Mình đang
làm gì vậy?” thì tự nhiên những hấp tấp, vội vàng và
ý muốn làm cho mau xong sẽ biến mất. Ta mỉm cười và tự
nhủ:” Quét nhà là công việc quan trọng nhất trong giờ phút
này.” Điều này ta đã được học ngay từ đầu. Vấn đề
là chúng ta có thực tập hay không, và có giúp được tăng
thân của ta thực tập được hay không? Cách giúp hay nhất
là chính ta thực tập và mọi người khi nhìn vào sẽ thấy
ta đang thực tập.
Câu
hỏi đó có thể đặt dưới một hình thức khác: “ Ta làm
cái này để làm gì vậy?” (what am I doing this for?) Phải có
sáng kiến đặt các câu hỏi tương tự để hàng ngày ta có
thể thực tập được. Trước cửa ra vào ta có thể treo một
tấm bảng. Ai bước ra thì đọc câu: “Anh đi đâu đây?”
và tự mỉm cười. Lúc chưa thấy cái bảng có thể ta đi
như bị ma đuổi; khi đọc tấm bảng đó thì ma biến mất,
ta khôi phục được chủ quyền, ta tự nhiên thảnh thơi trở
lại. Tấm bảng đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Phải
đặt những bài hát, những câu thiền ngữ để giúp mọi
người trở về an trú trong giây phút hiện tại, để thắp
sáng chánh niệm. Tu tập là trở về, trở về với nguyên
quán của mình. Ta dùng bài Quay về nương tựa:
Quay
về nương tựa,
hải
đảo tự thân,
Chánh
niệm là Bụt,
soi
sáng xa gần.
Hơi
thở là Pháp,
bảo
hộ thân tâm.
Năm
uẩn là Tăng
phối
hợp tinh cần.
Thở
vào, thở ra
là
hoa tươi mát
là
núi vững vàng
nước
tĩnh lặng chiếu
không
gian thênh thang
Hoặc
thực tập bài Đã Về Đã Tới:
đã
về
đã
tới
bây
giờ
ở
đây
vững
chãi
thảnh
thơi
quay
về
nương
tựa
Quay
về nương tựa là thực tập Quy Y. Quay về nương tựa, hải
đảo tự thân, chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần, đó là
quy y Bụt. Rồi đến quy y Pháp và quy y Tăng. Đó là những
bài thực tập có thể làm giàu chánh niệm: ta phải nắm cho
vững. Đừng đợi về tới thành phố rồi mới thực tập.
Tập ở Làng Mai cho thành thói quen rồi thì về thành phố
ta mới tiếp tục được. Nếu quý vị nghĩ bây giờ mình
chỉ cần học lý thuyết thôi, để về nhà mình sẽ làm,
thì như vậy là bảo đảm thất bại một trăm phần trăm.
Phải bắt đầu thực tập ngay cho đến khi sự thực tập
trở thành một thói quen.
CHUYỂN
HÓA TẬP KHÍ
Dân
ta vốn con nhà nghèo “hay lam hay làm”, hở tay ra là phải
làm, không bao giờ cho tay được nghỉ. Đó là một tập khí
mà những hạt giống được truyền từ nhiều thế hệ tới
cho chúng ta. Nhưng chúng ta biết rằng muốn an trú được trong
hiện tại thì mỗi bước chân đều phải thảnh thơi, cái
tập khí làm không hở tay trở thành một chướng ngại. Vì
vậy ta phải thực tập thế nào để khi ta làm cũng như khi
ta không làm gì thì sự sống vẫn có mặt. Muốn chuyển hóa
một tập khí ta cần trải qua công phu tu luyện. Mà tăng thân
là một dung dịch trong đó ta ngâm mình vào để cho tập khí
tan rã. Trong tăng thân có những người đi đứng thảnh thơi,
có khả năng an trú trong hiện tại. Họ nhìn, họ nghe, họ
nói, họ cười, họ thực tập an trú trong hiện tại. Khi đặt
mình trong một tăng thân như vậy thì dần dần ta thấy tập
khí của ta sẽ rã ra. Cho nên những người mới tu luôn luôn
phải sống trong tăng thân, phải nương náu vào tăng thân.
Có
những khóa tu kéo dài chỉ có bốn ngày thôi, nhưng trong bốn
ngày đó có thể xảy ra những phép lạ. Ngày thứ nhất vào
dự khóa tu có người cảm thấy rất miễn cưỡng và có cảm
giác chật chội. Đi, đứng, nằm, ngồi bị bắt ép phải
theo một khuôn khổ, người ta cảm thấy bứt rứt. Nhưng nghĩ
nếu bỏ về thì uổng công đi, uổng cả tiền bạc, tiếc
rẻ cho nên họ ráng ở tới ngày thứ hai. Ngày thứ hai họ
cảm thấy bớt khó chịu: tuy chưa thoải mái lắm nhưng mà
tạm sống được. Người khác làm được tại sao mình làm
không được? Tới ngày thứ ba thì thấy hay hay. Đi chậm lại
cũng cảm thấy thoải mái. Ăn cơm im lặng, ban đầu tưởng
là ngộp thở nhưng bây giờ mình bắt đầu thích. Những tập
khí cũ bắt đầu rã ra. Rồi tới ngày thứ tư họ bắt đầu
ưa thích, nhưng khóa tu lại gần chấm dứt rồi. Cuối ngày
thứ tư họ hỏi:” Bao giờ có khóa tu mới?”
Đó
là trường hợp của những người thành công. Trong bốn ngày
họ đã nếm được mùi vị của sự chuyển hóa, nếm được
niềm tịnh lạc của sự thực tập an trú. Những người này
sau khi trở về thành phố có thể kéo dài tình trạng thảnh
thơi đó ba bốn tuần, hay năm bẩy tuần. Nếu có một số
bạn bè mỗi tuần họp nhau lại để nuôi dưỡng tiếp thì
việc tu tập có thể kéo dài vài ba tháng. Nếu không thì sau
vài ba tuần là họ bị hoàn cảnh lôi kéo và đánh mất nếp
sống tu tập. Tu tập vững ở trong tăng thân rồi mà trở
về nhà vẫn còn đánh mất. Không thể nói rằng ở Làng ta
chỉ cần học lý thuyết, về nhà sẽ thực tập cũng không
muộn.
Chúng
ta biết là mình bị cái tập khí tham công tiếc việc sai sử
đến nỗi lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tương lai và sẵn sàng
hy sinh giờ phút hiện tại. Ta biết rằng như vậy là ta đang
đánh mất sự sống của mình. Bụt dạy phải sống sâu sắc
giây phút hiện tại. Chăm sóc giờ phút hiện tai của mình
với hết tâm tư mình, tức là đã làm hết sức mình để
lo lắng cho tương lai. Vì vậy ta áp dụng ngay những phương
pháp mà thiền viện chế tác: khi đi thì biết là mình đang
đi, khi đứng thì biết mình đang đứng, khi ngồi thì biết
mình đang ngồi, khi rửa chén thì biết mình đang rửa chén.
Ta tập mỉm cười với ta và tự hỏi ta:” Ta đang làm gì?
Ta đang làm cái này với mục đích gì?”
Rửa
bát trong chánh niệm là đang tiếp xúc với sự sống nhiệm
mầu. Tôi đang là người thức tỉnh. Tôi đang an trú trong
hào quang của Bụt. Và tôi đang giải phóng tôi khỏi những
ràng buộc lôi kéo. Con ma quá khứ, con ma tương lai, con ma giận
hờn, con ma lo lắng không nắm đầu tôi được. Tôi là một
con người tự do. Như vậy phẩm chất của sự sống trong
giờ phút rửa bát trở thành rất cao. Phẩm chất cao hay thấp,
có hay không, là do ta có thực tập hay không.
Hai
ngày qua tôi đã chép tên, họ và pháp danh vào điệp hộ giới
của một số Phật tử đã quy y tại Bắc Mỹ. Có hàng trăm
pháp danh phải ghi chép, rồi lại phải đóng dấu hàng trăm
lần. Sau đó tôi biên địa chỉ trên bì thơ để gửi cho
từng người, rồi dán tem. Có hàng trăm điệp hội giới để
làm, nhưng ta phải làm như thế nào để công việc trở thành
một sự thực tập, chứ không phải là một việc cần làm
cho mau xong. Khi cầm bút viết xuống một tên hay một địa
chỉ, ta có thể thực tập mỉm cười, có thể thực tập
tiếp xúc mới một người. Người đó, ta biết rằng trong
vòng ba ngày hay năm ngày sẽ nhật được điệp hộ giới.
Người đó sẽ mở ra, sẽ mỉm cười, sẽ thấy tên mình,
sẽ nhớ lại ngày thọ giới của mình, sẽ thấy lại địa
điểm nơi thọ giới của mình, và sẽ đọc pháp danh của
mình. Người đó biết, hay có thể không biết, rằng pháp
danh này do chính thầy mình viết lên trên điệp hộ giới
của mình. Nhưng trong lúc viết, tôi biết là chính tôi đang
viết pháp danh người đó vào điệp hộ giới, với tất cả
lòng thương yêu, với tất cả sự tin cậy, tin rằng người
này sẽ thực tập năm giới vững chãi để bảo vệ hạnh
phúc, an lạc của mình và của gia đình mình. Trong khi viết
ba trăm điệp hộ giới như vậy, thì tôi thực tập. Nếu
không thực tập thì có viết một trăm ngàn điệp hộ giới
đi nữa thì kết quả tu tập vẫn là số không. Điều này
phải được áp dụng trong tất cả mọi công việc khác.
Nếu
ta làm công việc của ta trong chánh niệm thì đó cũng là làm
cho cả tăng thân, vì hành động đó giúp nâng cao phẩm chất
thực tập của tăng thân. Khi gặp một người bạn tu, ta hỏi
:” Anh đang làm gì đó? Chị đang làm gì đó?” thì câu hỏi
này là một sự nâng đỡ, một sự yểm trợ. Ta biết người
đó đang làm gì rồi, nhưng vẫn hỏi. Hỏi để thắp sáng
chánh niệm trong ta và chánh niệm ở trong người kia. Đôi
khi ta không cần hỏi, ta chỉ cần nhìn nhau mỉm cười thôi
là đã có thể đã tạo ra phép lạ của sự tỉnh thức. Vậy
đại chúng hãy chuẩn bị cho tuần lễ thực tập này. Thực
tập để tất cả mọi người có cơ hội, trong một tuần
lễ tinh tấn, làm rã bớt các tập khí cũ của mình, để
tạo thành một tập khí mới, là biết an trứ và sống sâu
sắc trong giờ phút hiện tại. Thắp sáng chánh niệm và soi
thấu những ngõ ngách sâu kín của đời sống, của tâm lý
mình thì ta sã có sự chuyển hóa. Sống đời sống hàng ngày
biết, ta nên trân quý mỗi phút mỗi giây. Khi đi thiền hành
dưới những cây mận, chúng ta có thể mỉm cười với những
cành mận, với những lá cỏ, với những hạt sỏi, với những
tiếng chim. Vì tất cả những sự có mặt đó đều là những
người bạn tu của mình từ bao nhiêu kiếp trước.
Sáng
hôm nay, tới đây
Chén
trà nóng,
Bãi
cỏ xanh
bỗng
dưng hiện bóng hình em ngày trước
Tất
cả đều là những người bạn cũ thân yêu. Một cành cây.
Một con chim. Một đám mây. Một nhánh hồng. Một hòn sỏi.
Một gốc cây. Tất cả đều là những người bạn cũ.
Bàn
tay gió
đang
vẫn gọi
một
chồi non xanh mướt
Nụ
hoa nào
Hạt
sỏi nào
Ngọn
lá nào
cũng
thuyết Pháp Hoa Kinh
Trong
chánh niệm ta có thể nhận diện được tất cả những người
bạn cũ đó. Trong chánh niệm ta có thể nghe được tiếng
thuyết pháp của viên sỏi, của tàu lá, của đám mây. Rất
mầu nhiệm. Ta hãy tập cười với hạt sỏi, tập cười với
đám mây, tập cười với mặt trăng. Cười như vậy ta chứng
tỏ đang có mặt và vầng trăng kia cũng đang có mặt, đám
mây kia cũng đang có mặt. Khi cái giận, cái buồn, cái tập
khí xấu hiện ta, ta cũng mỉm cười với chúng, vì đó cũng
là những người bạn cũ của ta. Mỗi khi cười được như
vậy là chúng ta có chuyển hóa, chúng ta có từ bi.
THỰC
TẬP NĂM LỄ
Chúng
ta đã đi khỏi Việt Nam bao nhiêu năm, có thể nhớ nhà hoặc
muốn trở về, và nghĩ rằng trong mấy tháng nữa, trong vài
ngày nữa là ta về tới đất nước. Trong phương pháp tu tập
này, chúng ta không cần đợi tới khi bước từ máy bay xuống
đất mới là trở về, chúng ta hãy trở về ngay từ bây giờ,.
Mỗi bước chân là một sự trở về. Quê hương nằm trong
lòng chúng ta, Tổ tiên, sông núi đều nằm ở trong lòng chúng
ta. Chúng ta đang làm gì? Chúng ta đang làm cái này để làm
gì? Đặt câu hỏi, tự nhiên chúng ta về quê hưong ngay lập
tức. Quê hương là nơi ta gặp được an lạc, tỉnh thức,
gặp được Bụt, Pháp, Tăng và gặp được tất cả tổ tiên.
Các thế hệ tổ tiên vẫn còn sống sinh động ở trong cơ
thể và tâm hồn chúng ta. Đó là sự thực tập quay về và
nương tựa vào cội nguồn gốc rễ. Qúi vị đã học và thực
tập năm lễ. Những lễ này có mục đích đưa ta trở về
quê hương, đưa ta về tiếp xúc với những gì đẹp nhất,
thân yêu, gần gũi nhất của ta. Tổ quốc, quê hương, văn
hóa, gia đình, dòng dõi huyết thống, v.v. khi lễ xuống chúng
ta có thể tiếp xúc với tất cả.
Chúng
ta lạy xuống, trán chạm vào đất, theo lối ngũ thể đầu
địa, tức là năm vóc gieo xuống đất. Năm vóc tức là hai
tay, hai chân và trán của mình.
Quý
vị hãy tưởng tượng một đợt sóng đang cúi xuống tiếp
xúc với nước, tức là bản chất của sóng. Chúng ta cũng
vậy. Bụt, Pháp, Tăng, đất nước, quê hương, tổ tiên, dòng
họ, khi lạy xuống chúng ta phải tiếp xúc được với tất
cả quê hương đó. Sau đây là những lời hướng dẫn cho
lễ thứ nhất.
LỄ
THỨ NHẤT
Trở
về kính lạy, liệt vị tiền nhân, dòng họ tổ tiên, gia
đình huyết thống, hai bên nội ngoại.
Trong
tư thế ngũ thể đầu địa, nghe tiếng thầy hay bạn hướng
dẫn, ta có thể bắt đầu thực tập quán chiếu và tiếp
xúc:
Con
thấy cha của con, con thấy mẹ của con mà xương thịt và
sự sống đang có mặt và lưu nhuận trong từng tế bào và
mạch máu của con. Qua cha con, qua mẹ con, con tiếp xúc được
ông bà của con, bên nội cũng như bên ngoại, đã và đang
đi vào con với tất cả mọi năng lượng, mọi trông chờ,
mọi ước mơ, cũng như tất cả trí tuệ và kinh nghiệm của
tổ tiên trải qua bao nhiêu thế hệ. Con mang trong con sự sống,
dòng máu, kinh nghiệm, tuệ giác, hạnh phúc và khổ đau của
các thế hệ tổ tiên trong con. Những yếu kém, những tồn
tại và những khổ đau đã truyền đạt lại, con đang tu tập
để chuyển hóa. Chuyển hoá cho con và cho tất cả quý vị.
Những năng lượng của trí tuệ, và năng lượng của thương
yêu mà các vị truyền đạt lại, con đang mở rộng trái tim
con và xương thịt của con để tiếp nhận, Con có gốc rễ
nơi cha, nơi mẹ, nơi ông, nơi bà, nơi tổ tiên. Con chỉ là
sự nối tiếp của tổ tiên và dòng họ con. Xin cha mẹ, xin
ông, xin bà, xin tổ tiên hỗ trợ cho con, che chở cho con, truyền
thêm năng lượng cho con. Con biết rằng con cháu ở đâu thì
tổ tiên ở đó. Con biết cha mẹ nào, ông bà nào cũng thương
yêu đùm bọc và độ trì cho con cháu dù khi sinh tiền có lúc
gặp phải khó khăn hay rủi ro mà không bộc lộ được niềm
thương yêu và sự đùm bọc đó. Con thấy cha, ông của con,
từ Lạc Long Quân qua các vua Hùng và biết bao nhiêu thế hệ
những người khai sáng đất nước, mở rộng cõi bờ, gìn
giữ núi sông và un đúc nên nếp sống Việt Nam có thỉ, có
chung, có nhân, có hậu. Con là sự tiếp nối của liệt vị,
con cúi rạp mình xuống để đón nhận năng lượng của dòng
họ và tổ tiên của gia đình huyết thống của con. Xin tổ
tiên phù hộ độ trì cho con.
Chúng
ta lạy xuống để tiếp xúc với tổ tiên, với đất nước,
với cội nguồn của chúng ta. Tất cả đang có mặt trong chúng
ta. Chúng ta không phải đi tìm xa. Chúng ta không cần lên máy
bay, đi mấy chục giờ mới về tới quê hương. Chúng ta chỉ
cần bước một bước, chúng ta chỉ cần lạy xuống một
lễ là chúng ta quán chiếu được tất cả. Tiếp xúc được
rồi thì những nguồn năng lượng của tổ tiên, của ông
bà, của ông bà, của quê hương, của Bụt Pháp Tăng sẽ lưu
nhuận trong ta và ta sẽ có thêm sức mạnh, Nếu không thì
ta có thể sẽ trở thành một đứa con đi hoang, một lãng
tử, một cô hồn không nơi nương tựa. Khi ta cảm thấy gốc
rễ của tổ tiên, dòng họ và đất nước vẫn còn bám sâu
trong ta thì ta sẽ mạnh mẽ và vững chãi hơn.
Sau
đây là lễ thứ hai:
LỄ
THỨ HAI
Trở
về kinh lạy, Bụt và tổ sư, truyền đăng tục diệm, gia
đình tâm linh, qua nhiều thế hệ.
Lễ
thứ nhất hướng về gia đình huyết thống (blood family). Lễ
thứ hai là tiếp xúc với gia đình tâm linh. Mỗi chúng ta đều
có hai gia đình. Khi lạy xuống năm vóc sát đất rồi thì
ta bắt đầu quán niệm như sau :
Con
thấy thầy của con trong con. Con thấy Sư ông của con trong
con. Người đã dạy cho biết hiểu, biết thương, biết thở,
biết cười, biết tha thứ, biết sống trong giây phút hiện
tại.
Qua
thầy của con, qua Sư ông của con, con tiếp xúc được với
các thế hệ thánh tăng qua các thời đại. Con tiếp xúc được
với các vị bồ tát và với Bụt Thích Ca Mâu Ni. Người đã
khai sáng gia đình tâm linh của con, đã có từ hai ngàn sáu
trăm năm nay.
Con
biết Bụt là thầy của con mà cũng là tổ tiên tâm linh của
con nữa. Con thấy trong con có chất liệu nuôi dưỡng của
Bụt, của tổ, của các thế hệ cao tăng và năng lượng của
liệt vị đã và đang đi vào trong con, đã và đang làm ra sự
bình yên, an lạc, hiểu biết, và thương yêu trong con. Con biết
Bụt đã giáo hóa cho gia đình huyết thống của con trong bao
nhiêu ngàn năm, đã làm đẹp, làm lành nên nếp sống đất
nước của con và của dân tộc con. Bụt đã làm cho dân tộc
con trở nên một dân tộc thuần từ và văn minh, điều này
con thấy rõ trong nền văn minh Lý và Trần. Con biết nếu không
có Bụt, có tổ, có thầy thì con không biết tu tỉnh và chế
tác an lạc cho con và cho gia đình con. Con mở rộng trái tim
và xương thịt con để tiếp nhận kinh nghiệm, tuệ giác,
tình thương, sự che chở và năng lượng từ bi của Bụt và
của các thế hệ Thánh tăng, gia đình tâm linh của con. Con
là sự tiếp nối của Bụt và của các thế hệ tổ tiên
tâm linh của con; xin Bụt và chư tổ, xin sư ông và thầy truyền
cho con nguồn năng lượng thương yêu, an lạc và sự vững
chãi của liệt vị. Con nguyện tu tập để chuyển hóa và
để truyền về cho thế hệ tương lai năng lượng của Bụt,
của tổ và của thầy.
Sau
khi lễ hai lạy như vậy rồi, ta thấy năng lượng của gia
đình huyết thống và năng lượng của gia đình tâm linh chuyển
động trong huyết quản, và trong tâm tư ta. Ta cảm thấy vững
chãi hơn, có đức tin mạnh mẽ hơn và ta lạy lễ thứ ba
để tiếp xúc với đất nước, với khí thiêng sông núi và
liệt vị tiền nhân. Tiền nhân đã qua đời nhưng vẫn luông
luôn có mặt để che chở, phù trợ cho ta.
LỄ
THỨ BA
Trở
về kính lạy, liệt vị tiền nhân, khai sáng đất này, sông
núi khí thiêng, hàng ngày che chở.
Con
thấy con đang đứng trên đất nước này, và tiếp nhận công
ơn khai sáng của tiền nhân đất nước này. Con thấy các
vua Hùng, con thấy Trần Hưng Đạo, con thấy Lý Thái Tổ, con
thấy Lê Thánh Tông, con thấy bao nhiêu người có tên tuổi
và không có tên tuổi, đã đem tài trí, kiên nhẫn và chịu
đựng làm cho đất nước này trở nên nơi nương náu của
bao nhiêu giống dân; đã lập nên trường học, nhà thương,
xây dựng cầu cống, đường xá, chợ búa; đã thiết lập
nhân quyền, luật pháp và phát minh khoa học làm cho mức sống
được nâng cao. Con cũng tiếp xúc được với những thế
hệ tổ tiên ngày xưa đã sinh sống trên đất nước này và
biết sống an lành với mọi loài và với thiên nhiên. Con sống
ở đây, học hòa hợp với thiên nhiên, với con người, và
cảm thấy năng lượng của đất nước này đi vào trong con,
yểm trợ con, chấp nhận con. Con xin nguyện tiếp tục giữ
gìn và làm tiếp nối những dòng năng lượng ấy. Xin nguyện
góp phần chuyển hóa những bạo động, căm thù và vô minh
còn tồn tại trong đất nước và trong xã hội này. Xin quý
vị tiền nhân phù hộ độ trì cho chúng con.
Nếu
đang sống ở quê hương, thì khi lạy xuống lạy thứ ba ta
phải tiếp xúc được với các vị tiền nhân khai sáng đất
nước. Có những vị tuy không để lại tên tuổi nhưng đã
âm thầm xây dựng đất nước. Nếu đang sống ở hải ngoại,
ta cũng phải biết đất nước mà mình sống đây là do những
ai khai phá và xây dựng. Phải tiếp xúc được với tiền
nhân của đất nước này.
Sau
ba lễ, ta đã cảm thấy như một thân cây có gốc rễ, có
thêm nhiều năng lượng. Lễ thứ tư dành cho người mà ta
thương yêu để ta chia sẻ những nguồn năng lượng đã nhận
được.
LỄ
THỨ TƯ
Trở
về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia
hộ độ trì, cho người con thương.
Người
con thương có thể là cha con, mẹ con, anh con, chị con, em con,
cháu con, thầy con, sư ông của con. Khi lạy xuống, ta sẽ quán
nguyện như sau:
Những
nguồn năng lượng vô biên mà con vừa tiếp nhận được,
con xin truyền cho cha con, chia xẻ cho cha con, tiếp sức cho cha
con, cho mẹ con, cho những người con thương yêu, cho những
người đã từng khổ đau, đã từng lo lắng, đã từng buồn
khổ vì con, vì những vụng về và dại dột của con trong
quá khứ, và cũng từng lo lắng, buồn khổ vì hoàn cảnh khó
khăn và không may của các vị. Con xin truyền nguồn năng lượng
ấy, nguyện cầu và tiếp sức cho cha con, cho mẹ con, cho anh
chị em của con, cho những người thân của con, cho chồng con,
cho vợ con, cho các con của con để tâm hồn họ lắng dịu
lại, cho khổ đau trong lòng những người ấy được chuyển
hóa, cho những người ấy nở được nụ cười, cho những
người ấy cảm nhận được niềm vui sống, cho những người
ấy mạnh khỏe trong thân thể và an lạc trong tâm hồn. Con
hết lòng cầu mong cho những người ấy có hạnh phúc và an
lạc. Con biết nếu những người ấy có an lạc thì con có
an lạc. Con cảm thấy trong lòng con không oán hận trách móc
những người ấy một mảy may nào. Con lạy tổ tiên và ông
bà trong gia đình huyết thống, tổ tiên trong gia đình tâm
linh của con phù hộ độ trì cho những người con thương,
những người mà con đã nguyện thương yêu và chăm sóc. Con
thấy con không còn là một cái ta riêng biệt mà đã trở thành
một với những người con thương.
Thỉnh
một tiếng chuông, ta đứng dậy. Lúc đó sự phân biệt giữa
cái ngã và cái phi ngã không còn nữa. Mình và người mình
thương trở thành một dòng liên tục. An lạc của mình trở
thành an lạc của người mình thương. Trong khi ta lạy và quán
chiếu như vậy thì ranh giới giữa ta và những người ta yêu
thương được phá bỏ. Ta thấy được ta với người đó
cùng chung một dòng sinh mạng. Nếu ta vững chãi và có năng
lượng thì ta có thể truyền được năng lượng đó cho người
ta thương. Tình thương trong mình nuôi dưỡng chính mình trước,
và vì vậy trong tâm mình cảm thấy nhẹ nhàng và thư thái.
Đến
lễ thứ năm thì ta cúi xuống và truyền năng lượng của
ta cho những ai đã từng làm khổ ta. Nhiều người lúc đầu
không chịu được lễ này. Người kia đã làm cho mình đau
khổ, tại sao bây giờ mình phải thương yêu và truyền năng
lượng cho họ? Nhưng sau khi thực tập được vài tuần thì
ai cũng thấy có ích lợi. Thực tập với tất cả tâm hồn
của ta, sau đó mấy tháng trong lòng ta, ta cảm thấy hận thù
tiêu tan, rất là mầu nhiệm. Nhiều người cho biết họ chỉ
thực tập lễ thứ năm trong vòng sáu tháng rồi thôi không
thực tập nữa, vì sau thời gian đó họ đã hoàn toàn không
còn thù ghét những người đã làm khổ họ nữa.
LỄ
THỨ NĂM
Trở
về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia
hộ độ trì, người làm khổ con.
Trong
tư thế ngũ thể đầu địa, ta thiết lập cảm thông với
người kia:
Con
mở rộng lòng ra để truyền đi năng luợng hiểu biết và
xót thương của con tới những người đã làm con khổ đau
và điêu đứng. Con biết người ấy cũng đã đi qua nhiều
khổ đau, đã chứa chấp quá nhiều cay đắng và bực bội
trong trái tim nên đã làm vung vãi những khổ đau và bực bội
của người ấy lên con. Con biết những người ấy không được
may mắn, có thể là từ hồi còn bé thơ đã thiếu sự chăm
sóc và thương yêu, đã bị cuộc đời dằn vặt và ngược
đãi bao nhiêu lần. Con biết những người như người ấy
chưa có may mắn được học, được tu, trái lại đã chứa
chấp những tri giác sai lầm về cuộc đời và về con, nên
đã làm khổ con và làm khổ những người con thương, Con xin
gia đình huyết thống và gia đình tâm linh của con truyền
năng lượng cho người đó (cho những người đó), để trái
tim của họ đuợc tiếp nhận giọt nước cam lồ mà nở ra
được như một bông hoa, có thể lần đầu tiên trong đời
họ. Con chỉ cầu mong cho người đó được chuyển hóa, cho
người đó tìm được nguồn vui sống, để không còn giữ
tâm thù hận mà tự làm khổ mình và làm khổ người khác.
Con biết những người ấy khổ mà không tự chủ được nên
đã làm khổ con và những người con thương. Con cũng cầu
mong cho tất cả những ai đã làm cho gia đình con khổ, dân
tộc con điêu đứng, kể cả những kẻ xâm lăng, cướp nước,
những người hải tặc, những kẻ ích kỷ, dối trá và tàn
bạo được nhờ ơn Bụt, ơn tổ, ơn tiền nhân mà cải hóa.
Con thấy họ khổ và nỗi khổ ấy đang kéo dài qua nhiều
thế hệ, và con không muốn giữ tâm niệm sân hận oán thù.
Con không muốn cho họ khổ. Con có gốc rễ nơi tổ tiên và
dòng họ huyết thống và dòng họ tâm linh; trái tim con đã
nở ra như một đóa hoa, con xin buông bỏ tất cả mọi hiềm
hận, một lòng cầu nguyện cho kẻ đã làm khổ con, làm khổ
gia đình và dân tộc con được thoát vòng tai nạn và đớn
đau, để họ có thể thấy được ánh sáng của niềm vui
sống và an lạc như con. Tâm con không còn mang một mảy may
trách móc và oán thù. Con xin truyền năng lượng của con cho
tất cả những người ấy. Lạy Bụt, lạy tổ, lạy ông bà
chứng minh cho con.
Đây
là sự thực tập lòng từ bi trong đạo Bụt. Bụt dạy: Hận
thù không thể nào đáp lại được với hận thù; chỉ có
tình thương và sự tha thứ mới đáp lại được với hận
thù mà thôi. Khi ta thực tập như vậy thì chất liệu từ
bi trào lên trong trái tim ta. Sự tha thứ, sự thương yêu sẽ
chữa trị cho ta, và con người ta sẽ an hòa và mạnh mẽ hơn.
Hạnh phúc trở thành có thật. Lòng ta còn mang theo chất liệu
của hận thù thì ta còn khổ đau mãi mãi.
Tùy
trường hợp từng người, ai đã từng đau khổ quá nhiều,
vết thương hận thù quá nặng, thì phải thực tập lễ thứ
năm này nhiều lần. Muốn lễ thứ năm thành công thì trước
hết ta phải thành công trong sự thực tập lễ thứ nhất
và thứ hai. Ta phải trở về tiếp xúc được với tổ tiên
trong gia đình huyết thống, tổ tiên trong gia đình tâm linh,
thì mới có đủ năng lượng thương yêu để thực tập lễ
thứ năm này. Tối nào tôi cũng lạy cả. Có khi tôi lạy phủ
phục rất lâu. Trong những giây phút đó, hiệu quả chữa
trị và nuôi dưỡng đã xảy ra thật sự. Phương pháp năm
lễ này đã được các vị thường trú ở Làng Mai thực tập
mỗi ngày. Quý vị có thể lên chánh điện hoặc thiền đường
một mình để thực tập riêng. Quán nguyện như thế nào cho
thích hợp với trường hợp của mình thì làm, nhưng trước
hết phải học phương pháp theo công thức như trên.
Đối
cới những vị đã có gốc rễ tôn giáo khác và mới quay
về nương tựa Bụt, Pháp và Tăng, thì nên lạy thêm một
lễ khác nữa. Lễ thứ sáu này để tiếp xúc với gia đình
tâm linh gốc rễ của họ, gia đình tâm linh họ đã lìa bỏ,
nhưng ngày xưa tổ tiên và ông bà của họ đã theo. Ví
dụ như ngày xưa tổ tiên ông bà đã theo Do Thái giáo hay là
Cơ Đốc giáo, thì bây giờ ta phải lạy cái lạy thứ sáu
này để trở về và tiếp xúc. Gốc rễ của gia đình tâm
linh đó rất cần thiết cho sự chữa trị và sự vững mạnh
của ta. Những người có hai gia đình tâm linh thường thường
là những người Âu Châu và Mỹ châu cho nên tôi sẽ đọc
lời quán nguyện này bằng tiếng Anh.
Có
hai gia đình tâm linh thì chúng ta có thể giàu có thêm. Tiếp
xúc được với nhiều gia đình tâm linh chỉ làm đời sống
tâm linh của ta giàu có thêm thôi. Trong thời gian ở Tây phương,
tôi đã gặp những người bạn thuộc những truyền thống
Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo. Những người còn gốc rễ tâm
linh vững chãi thì nơi họ có lòng từ bi, có hoan hỷ, có
nhân ái. Họ đã giúp ta bằng sức mạnh tâm linh của họ.
Họ giúp ta vận động chấm dứt chiến tranh, đã giúp ta nuôi
trẻ mồ côi, cứu trợ những nạn nhân chiến tranh, bão lụt,v.v..
Chúng ta thấy chất liệu thương yêu và hiểu biết có thật.
Tiếp xúc được với họ, ta tiếp xúc được với gia đình
tâm linh của họ, tiếp xúc được với những vị đạo sư
của họ. Chúa Ky Tô là một vị đạo sư đã dạy về bác
ái, về thương yêu. Chúa Ky Tô là một vị Bồ Tát lớn vì
ngài đã tạo nên niềm tin và đức từ bi nơi hàng triệu,
triệu người. Khi nhận ra Chúa Ky Tô là một vị Bồ Tát thì
ta thấy niềm tin nơi Bụt, nơi Pháp, nơi Tăng, nơi truyền
thống tâm linh của chính ta lớn thêm và giàu có lên thêm.
Phía những người có truyền thống tâm linh Do Thái giáo hay
là Cơ Đốc chẳng hạn, khi nhận Bụt Thích Ca làm thầy, nhận
các vị như Long Thọ, Mã Minh, Vô Trước là thầy, thì họ
cũng làm giàu cho truyền thống tâm linh của họ. Lễ thứ
sáu này có mục đích đưa họ về tiếp xúc được với gốc
rễ tâm linh mà lâu nay họ đã lơ là hoặc đã ruồng bỏ.
Đạo
Bụt dạy chúng ta rằng ngã được làm bằng những yếu tố
phi ngã, đạo Bụt được làm bằng các chất liệu không phải
đạo Bụt. Phật pháp tức thế gian pháp. Đạo Bụt không
nghĩ rằng chỉ trong truyền thống của ta là có chân lý và
chân lý không thể có trong những truyền thống khác. Người
theo đạo Bụt không có chủ đích làm cho người khác bỏ
truyền thống tâm linh của họ để đi theo mình. Theo giáo
lý này ta phải giúp cho người khác trở về bám rễ vào trong
truyền thống tâm linh của họ. Sự thực tập đạo Bụt có
mục đích giúp người ta trở về nguyên quán: quê hương tâm
linh, quê hương huyết thống. Phương pháp của chúng ta khác
với phương pháp của những giáo sĩ ngoại quốc tới nước
ta các đây ba bốn trăm năm. Chúng ta hiện giờ đang làm ngược
lại phương pháp của họ. Chúng ta sang Tây phương chia sẻ
sự thực tập của chúng ta, nhưng lại mong ước và khuyến
khích những người Tây phương trở về với truyền thống
tâm linh của họ. Vì chúng ta biết rõ khi một người mất
gốc, người ấy trở thành một cô hồn lãng tử, khó mà
có được an lạc, hạnh phúc, vững chãi và thảnh thơi. Cho
nên lễ thứ sáu này rất cần thiết cho những người đã
bỏ truyền thống tâm linh cũ của họ.
Việc
tu tập của chúng ta là một sự trở về. Trở về tiếp xúc
với quê hương. Quê hương đó có thể được tiếp xúc ngay
bây giờ và ở đây, ngay chính trong con người của ta. Chúng
ta không cần đi máy bay mới trở về được quê hương tâm
linh. Chúng ta không cần tưởng tượng. Trong ta có gốc rễ
của gia đình huyết thống, có gốc rễ của gia đình tâm
linh, có Bụt, có Pháp, có Tăng, có ông bà, tổ tiên. Khi trở
về, chúng ta được che chở, chúng ta được tiếp nhận thêm
năng lượng. Chúng ta bắt đầu được nuôi dưỡng, được
chuyển hóa và trị liệu cả vật chất lẫn tinh thần.
Trong
khi thực tập, mỗi bước chân ta là một sự trở về. Bước
đi mỗi bước, điểm ta đạt tới là bây giờ và ở đây.
Bài Đã Về Đã Tới là để giúp ta thực tập sự trở về
đó. Bài Quay Về Nương Tựa Hải Đảo Tự Thân cũng là để
ta thực tập điều đó. Mùa thu vừa qua, trong buổi thuyết
giảng ở Berkeley, tôi đã nói phương pháp thực tập của
chúng ta có thể được gọi là phương pháp trở về (the pratice
of going home). Trong cuộc sống thất niệm và quên lãng, chúng
ta để cho tư tưởng, để cho nhớ thương, giận hờn, quá
khứ và tương lai lôi kéo. Chúng ta đã sống như một bóng
ma, đã bước đi trong cuộc đời như một người mộng du.
Chúng ta chưa trở về. Ngoài chánh niệm, không ai có thể giúp
chúng ta trở về được quê hương của chính ta, quê hương
tâm linh cũng như quê hương huyết thống. Với những câu hỏi:”
Anh đang làm gì? Anh làm cái đó với mục đích gì? Anh đang
đi đâu?” chúng ta trở về ngay với chánh niệm, với bây
giờ và ở đây. Bỗng nhiên ta biết rằng ta đang đứng trên
quê hương, chưa bao giờ rời khỏi quê hương ta.
Trở
về như vậy, chúng ta cảm thấy tràn đầy và được nuôi
dưỡng. Phương pháp này phải thực tập trong từng giây, từng
phút. Nếu quý vị thất bại trong thời gian thực tập ở
Làng Mai thì tôi lo rằng quý vị sẽ thất bại khi về nhà.
Tại Làng Mai có một tăng thân đang cùng tu tập, chúng ta phải
giúp nhau tu tập. Nếu ở Làng Mai mà chúng ta không tạo ra
được cái thói quen, cái tập khí mới, thì khi trở về chúng
ta sẽ bị cuốn theo nhịp sống cũ, khó thực tập thành công
được. Cho nên, trước khi lên máy bay, chúng ta đã phải trở
về.