13
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ mười ba.
Hôm
nay ngày mùng 6 tháng giêng năm 1994, chúng ta ở tại Xóm Thượng
và học tiếp bát chánh đạo. Hôm nay ta học về sự thật
thứ tư trong tứ diệu đế.
Chúng
ta đã học rằng trong tinh thần của Tứ diệu đế, một sự
thật gồm chứa cả ba sự thật khác. Khi quán chiếu về một
sự thật ta phải thấy được cả ba sự thật kia. Đạo,
sự thật về con đường, hàm chứa sự thật về khổ đau.
Nếu con đường không phải để chuyển hóa khổ đau thì không
phải là con đường đích thực trong tứ diệu đế. Khi quán
chiếu và tu tập về đạo đế, nếu chúng ta không thấy được
bản chất và cội nguồn của khổ đau thì đó chưa đích
thực là đạo đế. Cũng vậy, trong khi học hỏi và thực
tập về đạo đế mà chúng ta không cảm thấy an lạc và
chuyển hóa, nghĩa là chưa sống được sự thật thứ ba là
diệt đế, thì đó cũng không phải là đạo đế đích thực.
Cần nhắc lại rằng sự thật thứ tư là đạo đế gồm
chứa cả ba sự thật đầu: khổ đế, tập đế, đạo đế
và diệt đế.
Đạo
đế có thể diễn tả bằng những vòng tròn bát chánh đạo.
Vòng tròn thứ nhất là chánh kiến, rồi đến chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh
niệm và chánh định. Chúng ta đã thấy tính cách tương tức.
tương nhập và tương dung của tất cả những chi phần trong
bát chánh đạo và bốn sự thật mầu nhiệm. Mỗi chi phần
của bát chánh đạo cũng bao hàm bảy chi phần khác. Mỗi chi
phần của bát chánh đạo cũng hàm nhiếp tất cả bốn sự
thật.
Trong
khoá tu này, chúng ta sẽ thấy toàn bộ giáo lý đạo Bụt
có thể thâu tóm trong bát chánh đạo và tứ diệu đế. Chúng
ta đã biết rằng ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên cho năm
thầy khất sĩ. Bụt đã giảng dạy giáo lý tứ diệu đế
và bát chánh đạo. Đến giờ nhập diệt ở rừng Sa la, khi
dạy người đệ tử cuối cùng là Subadha, Bụt cũng giảng
về bát chánh đạo. Cho nên chúng ta có thể vững tâm tin rằng
bát chánh đạo là tinh yếu của giáo lý đạo Bụt. Toàn bộ
giáo lý có thể được học hỏi qua cấu trúc của bát chánh
đạo,
Chúng
ta đã thấy rằng càng học về chánh niệm chừng nào chúng
ta càng hiểu thêm về chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh định chừng ấy. Đây
cũng là một điều chứng minh cho tính tương tức của bát
chánh đạo.
NHƯ
LÝ TÁC Ý
Kỳ
trước, chúng ta đã nghe về Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Kinh này
dạy ta quán chiếu các lĩnh vực của thân, của cảm thọ,
của tâm hành và của pháp, tức là những đối tượng của
tâm hành. Kinh Quán Niệm Hơi Thở chỉ dạy mười sáu phép
thở. Người hành giả có thể căn cứ trên mười sáu phép
thở căn bản ấy để sáng chế những phương pháp thực tập
mới cho cả bốn lĩnh vực.
Thí
dụ trong mười sáu hơi thở chỉ có bốn hơi thở để quán
chiếu về thân. Trong khi đó thân ta có rất nhiều khía cạnh
cần được quán chiếu. Vì vậy bốn hơi thở này cần được
thực tập, rồi khai triển để biến thành vô số phương
pháp thực tập nhằm quán chiếu tất cả những bộ phận
của thân thể. Bụt lại dạy bốn hơi thở khác để quán
chiếu cảm thọ. Cảm thọ cũng là một lĩnh vực rộng lớn.
Rồi đến bốn hơi thở quán chiếu về các tâm hành. Tâm
hành có tới 51 thứ, rất năng động, rất phức tạp. Cuối
cùng có bốn hơi thở để quán chiếu về các pháp, tức là
đối tượng của tâm hành.
Kỳ
trước chúng ta đã nghe khá đầy đủ về quán niệm thân
thể trong thân thể. Trong đời sống hàng ngày, khi đi, đứng,
nằm, ngồi, làm việc, ta phải chiếu rọi ánh sáng chánh niệm
vào để biết ta đang làm gì, như ta biết ta đang đứng, đang
ngồi,v.v.. Ta thực tập và giúp những người khác trong tăng
thân cùng thực tập. Những phương pháp thiết yếu và cụ
thể như vậy mà nếu không thực tập được thì uổng phí
và dại dột lắm.
Về
trường hợp cảm thọ cũng vậy. Trong đời sống hàng ngày,
chúng ta có những cảm thọ vui, buồn, giận, ghét, có những
khổ thọ, lạc thọ và xả thọ. Ta phải chăm sóc cảm thọ
của chính ta, nếu không thì ai chăm sóc những cảm thọ ấy
cho ta? Bụt dạy ta lấy ánh sáng chánh niệm soi chiếu vào
những cảm thọ. Những đau buồn, giận hờn, ganh ghét, nhức
nhối, thao thức, sợ hãi, âu lo. Ta ôm ấp, săn sóc và chuyển
hóa chúng bằng năng lượng chánh niệm. Không ai làm việc
đó thay ta được. Bằng cách chăm sóc, trị liệu và chuyển
hóa những cảm thọ của mình, ta có thể giúp người chung
quanh chăm sóc, trị liệu và chuyển hóa những cảm thọ của
họ. Những phương pháp Bụt dạy rất cụ thể và rõ ràng.
Khi có một nỗi buồn ta biết ta có một nỗi buồn. Khi có
một niềm vui ta biết ta có một niềm vui. Biết đây không
phải là một cái cảm tưởng suông, biết đây là dùng năng
lượng của chánh niệm để nhận diện và soi xét cảm thọ.
Trong
Kinh Trung A Hàm, Bụt dạy sau khi đã nghe giảng về tứ diệu
đế và bát chánh đạo, ta nên thực tập như lý tác ý để
đưa chánh kiến vào đời sống hàng ngày. Các chữ như lý
tác ý được sử dụng trong Kinh Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp
Luân. Thực tập như lý tác ý tức là khởi tâm chú ý tới
một điều Bụt đã dạy, và bắt đầu áp dụng nó. Mỗi
ngày chúng ta có hai mươi bốn giờ để sống. Những việc
chúng ta làm như nấu bếp, quét nhà, giặt áo và làm vườn,
chúng ta đều phải làm trong tinh thần tu tập. Nghĩa là trong
khi làm những công việc đó chúng ta phải áp dụng phương
pháp chăm sóc thân thể ta và cảm thọ của ta bằng năng lượng
của sự quán niệm.
Sống
trong thiền viện, nếu không thực tập chánh niệm và quán
chiếu thân và thọ của mình, thì không khác gì sống ở ngoài
đời. Ngoài đời người ta nấu cơm, quét nhà, đun nước,
giặt áo, mà ở trong chùa chúng ta cũng làm như thế. Khác
nhau là ở chùa ta làm những việc đó trong chánh niệm. Chúng
ta phải chăm sóc ngôi chùa bản thân của chúng ta, để ngôi
chùa quý giá ấy đừng trở thành một chủa Bà Đanh.
Có
những cảm thọ rất đau đớn, có những cảm xúc có thể
làm ta tê liệt ngày này sang ngày khác, có khi từ tháng này
sang tháng khác. Tu học theo đạo Bụt ta phải biết săn sóc
những cảm thọ và những cảm xúc đó. Ta biết sở dĩ ta
có những cảm xúc làm ta tê liệt như vậy, là vì trong quá
khứ ta đã không biết săn sóc cảm thọ. Khi cảm thọ đang
còn non yếu ta đã không biết xử lý, chúng ta để cho chúng
càng ngày càng có cường độ mạnh. Bây giờ nó đang làm
ta tê liệt, nó đang hoành hành trong ta chỉ vì ta đã không
thực tập những điều Bụt dạy. Trong quá khứ, ta đã khinh
thường, đã không tu học, ở trên núi châu báu nhưng chưa
bao giờ biết nhận diện châu báu. Đi, đứng, nằm, ngồi
ta không có chánh niệm. Cảm thọ nổi lên thì ta vùng vẫy,
chạy trốn, chứ không biết nâng niu, chăm sóc, quán chiếu
và chuyển hóa. Khi ngọn gió cảm thọ đã thổi mạnh thành
bão tố, mà ta mới bắt đầu thực tập thì sẽ thấy khó
khăn. Là nạn nhân cảm thọ, ta khổ đau và trở thành gánh
nặng cho những người xung quanh. Trong một tăng thân, mỗi
khi ta bệnh hoạn thì anh chị em ta phải chăm sóc và lo lắng
cho ta. Đó là nói về thân bệnh. Khi trong tâm ta có niềm đau
quá lớn thì tăng thân ta cũng khổ và cũng phải đưa lưng
ra để chịu đựng. Nếu ta biết chuyên cần tu tập trong đòi
sống hàng ngày, và nếu những người xung quanh ta cũng thực
tập, thì sự thực tập của người này tạo thêm năng lượng
cho người kia. Muốn giúp đỡ người khác ta hãy thực tập
cho bản thân. Nếu bản thân ta không thực tập thì ta không
thể nào giúp cho người khác bớt khổ.
MỘT
BÀI TẬP QUÁN NIỆM HƠI THỞ
Thở
vào tâm tĩnh lặng,
Thở
ra miệng mỉm cười.
An
trú trong hiện tại,
Giây
phút đẹp tuyệt vời.
Đây
là một bài thực tập ở Làng Mai rất nổi tiếng, đã có
hàng ngàn, hàng chục ngàn người, có thể hàng triệu người
khắp nơi đang thực tập và đã hưởng rất nhiều kết quả
của sự thực tập ấy. Nó rất đơn giản: nó bắt đầu
như sau: Thở vào tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết
tôi đang thở ra.
Câu
này được lấy trực tiếp từ Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Bất
cứ lúc nào, khi quét nhà, nấu cơm, ngồi lái xe, giặt áo
quần, đi thiền hành hay ngồi thiền tọa, ta đều có thể
thực tập câu này. Từ 2600 năm nay, người nào vào chừa cũng
thực tập bài này cả: thở vào biết thở vào, thở ra biết
thở ra (Breathing in I know I am breathing in. Breathing out, I know
I am breathing out). Tuy bài tập rất đơn sơ nhưng kết quả
to lớn ta không thể lường được. Bước đầu, ta tập trở
về nắm lấy hơi thở của ta, biết đây là hơi thở vào,
biết đây là hơi thở ra. Nhưng chỉ trong một vài phút thực
tập, ta đã có thể thực hiện được thân tâm nhất như
( thân và tâm trở thành một). Hơi thở nối liền thân và
tâm. Hơi thở giúp ta có mặt thật sự tại chỗ, trong giây
phút hiện tại. Ta làm chủ ta, ta không đánh mất ta nữa.
Ta đã bắt đầu trở lại là ta, ta đã về, ta đã tới.
Hơi
thở này là hơi thở căn bản. Chúng ta có thể thực tập
hơi thở này mười lần, hai mươi, ba mươi lần. Chúng ta có
thể chỉ cần thực tập hơi thở ấy là đủ.
Tiếp
theo chúng ta có thể thực tập tiếp: Hơi thở vào đã sâu,
hơi thở ra đã chậm. (As the in-breath becomes deeper, the out breath
becomes slower). Hơi thở sâu và chậm không phải vì ta cố ý
làm cho nó sâu hơn và chậm hơn. Nếu ta thở một cách có
ý thức, thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, thì
chỉ sau hai, ba lần thở, hơi thở chúng ta đã tự nhiên sâu
hơn và chậm hơn. Ta không cần cố gắng. Xin đừng hiểu là
ta cố làm cho hơi thở vào sâu thêm, cố làm cho hơi thở ra
chậm hơn. Hai câu này chỉ có nghĩa rằng: tôi đang thở vào
và nhận thấy rằng hơi thở vào của tôi đã sâu thêm, tôi
đang thở ra và nhận thấy hơi thở ra của tôi đã chậm lại.
Mà một khi hơi thở đã sâu thêm và chậm lại là nó đã
có phẩm chất cao hơn. Nó mang lại sự tĩnh lặng, an lạc,
tự do và thảnh thơi. Không cần phải tu mười năm hoặc hai
chục năm mới đạt được kết quả này. Chúng ta chỉ cần
thực tập hai hoặc ba phút thôi là có thể đạt rồi!
Chúng
ta cũng không cố ý làm cho thân và tâm trở về làm một,
thân tâm nhất như. Chúng ta không cầu khẩn được an lạc.
Chúng ta chỉ cần “thở vào, biết thở vào, thở ra biết
thở ra” thì một lúc sau tự nhiên thân và tâm sẽ nhất
như, sẽ trở thành một khối. An lạc, nhẹ nhàng, tự nhiên
sẽ tới, không ai phải bắt ép. Trong khi ngồi thiền hay đi
thiền ta cứ tiếp tục thở như vậy.
Ngồi
thiền hay đi thiền mà thở như vậy là một niềm vui lớn,
một ân sủng lớn. Nếu trong khi tu tập mà ta có cảm giác
là bị ép buộc thì ngồi thiền hay đi thiền là một khổ
dịch. Trong đời sống tu viện, ngồi thiền và đi kinh hành
phải là những giây phút sung sướng nhất. Trong những giây
phút đó, không ai được quyền động tới ta, không ai được
hỏi ta một câu hỏi hay nhờ ta làm một việc gì. Trong những
giờ phút đó, ta có tự do hoàn toàn. Ta chỉ cần thở vào
biết thở vào, thở ra biết thở ra. Đừng bỏ qua những thời
khóa. Đó là những giờ phút quí báu mà chúng ta có thể sống
cùng đại chúng.
Hai
câu tiếp theo trong bài thực tập là: Thở vào tôi thấy khỏe,
thở ra tôi thấy nhẹ. Khỏe và nhẹ đây không phải là tự
kỷ ám thị (auto-suggestion) - Tự kỷ ám thị là khi không khỏe
mà mình cứ nói: “tôi khoẻ, tôi đang khỏe đây,” khi không
nhẹ mà mình cứ nói: “tôi đang nhẹ, tôi đang nhẹ đây,”
để tự ảnh hưởng vào lòng mình. Nếu ta thở vào và thở
ra có ý thức vài ba lần thì tư nhiên hơi thở trở thành
sâu và chậm. Rồi nếu hơi thở tiếp tục sâu và chậm, thì
tự nhiên ta thấy trong người khỏe và nhẹ. Nói “khỏe,
nhẹ” vì ta nhận thấy có khỏe và có nhẹ thật. Đây là
sự nhận diện. Và khi khỏe mà biết là mình khỏe thì ta
sẽ thấy khỏe thêm. Khi nhẹ mà biết là mình nhẹ, thì mình
sẽ thấy nhẹ thêm. Biết ở đây có nghĩa là có ý thức,
là có chánh niệm. Chánh niệm nâng cao phẩm chất của những
gì đang hiện diện. Ví dụ bông hoa. Bông hoa đẹp, nhưng nhờ
tôi nhìn có chánh niệm nên bông hoa càng biểu lộ được
cái đẹp của nó. Khi quý vị ngắm trăng trong chánh niệm
thì trăng càng sáng tỏ. Cho nên khi ý thức rằng hơi thở
đang làm cho ta khỏe khoắn và nhẹ nhàng, thì vì có ý thức,
cảm giác khỏe và nhẹ trở thành hiện thực hơn. Nhiều khi
ta khỏe và nhẹ, cũng như ta có tự do và an lạc, nhưng vì
không có ý thức nên ta không thật sự thừa hưởng được
cái khoẻ và cái nhẹ ấy.
Bài
thực tập tiếp tục với hơi thở chánh niệm:
Thở
vào tâm tĩnh lặng,
Thở
ra miệng mỉm cười.
An
trú trong hiện tại,
Giây
phút đẹp tuyệt vời.
Thở
vào tâm tĩnh lặng là một bài tập Bụt dạy trong Kinh Quán
Niệm Hơi Thở. Tôi đang thở vào và làm cho tâm hành tôi êm
dịu lại. Tâm hành ở đây có thể là một cảm thọ không
dễ chịu, như buồn bực, sợ hãi, giận hờn hoặc thao thức.
Ta sử dụng hơi thở vào để làm lắng cảm thọ xuống. Ngay
từ đầu quý vị cũng có thể thực tập liền hơi thở, “thở
vào tâm tình lặng” được. Nhưng nếu quý vị theo thứ tự
bài thực tập, mỗi câu thực tập vài ba phút. Khi đến đây
thì quý vị rất dễ làm cho cảm thọ mình lắng dịu.
Thở
ra miệng mỉm cười. Miệng mỉm cười có thể là một thực
tập thuộc lĩnh vực thân. Mỉm cười ở đây là một động
tác yoga (yoga of the mouth). Có những thiền sinh Tây phương nói:
“Thưa thầy, trong lúc con không có gì vui trong lòng cả mà
thầy lại bảo con cười? Như vậy là nụ cười giả tạo
sao?” Tôi trả lời: “Tôi đâu có bắt anh cười đâu, tôi
chỉ đề nghị anh tập yoga miệng thôi mà. Tại sao anh tập
yoga tay được, anh tập yoga chân được, chổng ngược đầu
được, mà lại không tập yoga miệng được? Tôi chỉ yêu
cầu anh nhếch cái mép anh lên một chút xíu thôi.” Khi anh
mỉm cười, có ba trăm bắp thịt trên mặt anh được thư
giãn và sự căng thẳng trong hệ thần kinh của anh tự nhiên
tan biến. Tôi không cần anh giả làm bộ vui, anh chỉ cần
tập yoga cái miệng dùm tôi thôi thì tự nhiên cơ thể anh
có thể thư giãn, hệ thần kinh anh buông thư và điều này
sẽ vó ảnh hưởng tốt tới tâm anh.
Quỳ
xuống hay đảnh lễ cũng là những động tác yoga. Muốn bày
tỏ sự cung kính tam bảo, ta đâu nhất thiết phải lạy xuống.
Nhưng khi anh lạy xuống thì tâm cung kính tam bảo của anh được
bày tỏ một cách dễ dàng hơn gấp bội. Khi tu tập ta phải
biết sử dụng thân thể ta nữa, chứ nói rằng chỉ cần
tu tâm thôi thì không được. “Tôi tu trong tâm thôi, tôi không
cần tu bằng hình thức, tôi không cần ngồi thiền, đi thiền,
tôi chỉ cần bỏ ác làm lành thôi à!” Quý vị đã từng
nghe câu nói ấy chưa?
Các
nhà khoa học đã nghiên cứu về nụ cười và về tác dụng
của nụ cười. Nụ cười mà họ nghiên cứu đây không phải
là cái cười vui, mà chỉ là những động tác của bắp thịt
khi miệng ta nhoẻn ra cười thôi. Mỉm miệng cười đưa tới
những kết quả rất kỳ diệu. Đang tức bực vậy mà ta mỉm
miệng cười được một cái thì tự nhiên tâm trạng ta biến
đổi hoàn toàn.
An
trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Khi thở vào,
ta đem tất cả thân tâm trở về với giây phút hiện tại,
bây giờ và ở đây. Khi thở ra, ta thấy được giây phút
hiện tại chứa đựng tất cả những mầu nhiệm tuyệt vời
của sự sống. Trở về giây phút hiện tại, ta khám phá được
nhiều châu báu trong thân và trong tâm của ta. Trước hết
ta khám phá ra sự thật là ta đang sống và ta đang thở. Ta
đang sống, sự sống đang có mặt với tất cả những mầu
nhiệm của nó. Ta tiếp xúc được với Bụt, với Pháp, với
Tăng. Tất cả những mầu nhiệm đó đều đang có mặt trong
giây phút hiện tại. Ta chỉ cần tiếp xúc sâu sắc với giây
phút này là có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy.
Ta tiếp xúc được với tất cả những gì mà lâu nay ta từng
đi tìm nhưng chưa gặp. Tất cả đều ở ngay đây.
TỊNH
ĐỘ LÀ Ở ĐÂY
Có
những người tu tịnh độ hai ba chục năm mà không có dấu
hiệu gì đã tiếp xúc được với tịnh độ. Đó cũng vì
họ cứ nghĩ tịnh độ là ở trong tương lai. Nghĩ rằng tịnh
độ chỉ có ở tương lai là một chướng ngại lớn. Giáo
lý căn bản của Bụt là tất cả những gì ta tìm kiếm, từ
niết bàn cho đến tịnh độ, đều ở trong tâm ta, ở trong
giây phút hiện tại. Làng Mai có một bài hát rất đơn giản:
Đây
là tịnh độ,
tịnh
độ là đây,
mỉm
cười chánh niệm,
an
trú hôm nay,
Bụt
là lá chín,
Pháp
là mây bay,
Tăng
thân khắp chốn,
quê
hương nơi này,
thở
vào hoa nở,
thở
ra trúc lay,
tâm
không ràng buộc,
tiêu
dao tháng ngày.
An
trú được trong hiện tại, ta hoàn toàn thanh thản. Bụt ta
cũng tiếp xúc được bây giờ, Pháp ta cũng tiếp xúc được
bây giờ. Nhặt một chiếc lá rụng lên, ta đã có thể thấy
Bụt. Ngắm một đám mây bay, ta tiếp xúc với Pháp. Còn Tăng
thân là cây, là gió, là chim, là các bạn tu. Đâu cần phải
đi đâu? Đâu phải tìm về quá khứ hay mơ tới tương lai
mới gặp được Bụt, Pháp và Tăng? Thở vào hoa nở. Hoa vẫn
nở nhưng ta không thấy. Thở vào có ý thức mới thấy được
hoa nở. Thở ra trúc lay, tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng
ngày. Niềm an lạc đạt tới có thể ngay bây giờ. Giây phút
hiện tại có thể là đẹp tuyệt vời, đây không phải là
một triết lý. Đó là hoa trái của sự thực tập tiếp xúc
bằng chánh niệm. Bài kệ này là một pháp bảo rất đơn
giản. Mới học ta có thể chưa thấy được gì huyền diệu
và uyên áo ở trong. Một em bé mười tuổi cũng có thể hiểu
được. Nhưng bao nhiêu điều sâu xa của Phật pháp, làm bằng
chất liệu của Kinh điểm và của tuệ giác đều có
thể đang được chứa đựng trong đó.
An
trú hiện tại là một phép tu rất mầu nhiệm. An trú trong
chánh niệm, và với năng lượng chánh niệm ta tiếp xúc rất
sâu sắc với hiện tại. Những mầu nhiệm của sự sống
nuôi dưỡng ta. Giờ phút bây giờ và không gian ở đây trở
thành quê hương, ta không cần đi tìm tòi đâu xa nữa, và
ta chấm dứt được cuộc lang thang.
Cả
hai bài kệ Đây Là Tịnh Độ và Thở Vào Tâm Tĩnh Lặng trong
khi được thực tập đều có thể giúp ta trở về an trú
trong hiện tại và khám phá chiều sâu mầu nhiệm của sự
sống. Bài Thở Vào Tâm Tĩnh Lặng có thể được rút ngắn
cho tiện việc thực tập:
Tĩnh
lặng,
Mỉm
cười,
Hiện
tại,
Tuyệt
vời.
Từ
năm 1980, tôi đã sử dụng bài kệ này để hướng dẫn thiền
sinh Tây Phương thực tập thiền ngồi và thiền đi. Bài dịch
tiếng Anh:
Breathing
in, I calm myself
Breathing
out, I smile.
Dwelling
in the present moment
I know
this is a wonderful moment.
Rút
ngắn để dễ thực tập như sau:
Calming
Smiling
Present
moment
Wonderful
moment.
Bài
kệ này đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó
có tiếng Nga và tiếng Hoa. Bài tiếng Hoa đã được dủng
cho các khóa tu tổ chức ở Đài Loan và Lục địa.
HỌC
ĐỜI SỐNG CỦA BỤT
Chúng
ta thường nghe nói tới những kỳ nhập thất ba năm, hoặc
chương trình bốn năm học Phật pháp cơ bản hay sáu năm Phật
Pháp cao cấp. Chúng ta có thể học rất nhiều, có thể thuộc
rất nhiều kinh, viết được những bài giảng rất dài. Nhưng
điều quan trọng là chúng ta có được thật sự nuôi dưỡng
bằng pháp lạc hay không? Bụt đã để lại cho ta những gì?
Và ta đã thừa hưởng được những gì? Bụt đã để lại
cho ta ba tạng Kinh điển, Bụt đã để lại cho ta lịch sử
của một giáo đoàn. Nhưng trước hết Bụt đã để lại
cho chúng ta cuộc đời của Bụt.
Cuộc
đời của Bụt nghĩa là sự sống của Bụt. Bụt đã sống
như thế nào? Bụt có phải là một nhà trí thức không? Bụt
có phải là một nhà văn viết hết từ bộ sách này sang bộ
sách khác hay không? Hay Bụt chỉ là một người đi bộ, đi
từ khu vườn này sang mái tranh kia, đi từng bước thảnh thơi,
tiếp xử với mọi người bằng lòng từ bi, bằng nụ cười
khoan lạc của mình? Bụt là như vậy. Bụt không phải là
một nhà trí thức. Bụt không phải là một nhà nghiên cứu.
Bụt không phải là một người tổ chức. Bụt không phải
là một uy quyền cầm đầu một giáo hội lớn lao. Bụt chẳng
qua là một ông thầy tu, một ông thầy tu có lòng từ bi lớn
và có tuệ giác lớn. Và quanh Bụt có những người học trò,
có những người bạn. Họ cũng muốn làm như Bụt: đi bộ
từng bước thảnh thơi, đi xin thức ăn mỗi ngày để tiếp
xúc và độ đời, thực tập hơi thở, thực tập chánh niệm.
Chính
vì thế Bụt đã cứu giúp cho không biết bao nhiêu người.
Không phải giúp bằng cách tổ chức cứu trợ có hàng trăm
triệu, mà giúp bằng cách dạy cho người ta biết đi, đứng,
nói, cười, thở và chuyển hóa. Và Bụt là một người vui
tươi, không rầu rĩ, Ngài có một nụ cười sống mãi 2500
năm cho tới bây giờ.
Đời
sống của Bụt là thông điệp của Ngài. Thông điệp đó,
ta phải tiếp nhận cho được. Còn những hệ thống tư tưởng
trong đạo Bụt liên hệ gì tới đời sống của Ngài, có
liên hệ gì với an lạc, hạnh phúc trong sự sống của Ngài,
câu hỏi đó chúng ta sẽ phải đặt ra.
Có
những giờ phút nghe như là huyền sử về cuộc đời Bụt.
Ví dụ những giờ phút Ngài ngọa bịnh ở Vaisali. Bệnh nặng
đến nỗi thầy A Nan phải ra bên ngoài đứng khóc. Nhưng sau
đó Bụt lành bịnh và cho triệu các thầy trong vùng đến
để nói chuyện. Bụt biết rằng Ngài sẽ tịch trong một
thời gian ngắn. Khi gặp các đệ tử Bụt dạy: “ Này các
thầy, các thầy hãy thực tập quay về nương tựa nơi hải
đảo của tự thân. Đừng tìm nương tựa vào một nơi nào
khác. Vì nơi hải đảo tự thân vốn có Bụt, có Pháp, có
Tăng. Đừng tìm kiếm nơi khác, không cần đi đâu xa. Ở trong
tâm ta đã có đủ hết những gì ta muốn tìm kiếm.” Đó
là những giây phút rất ấm cúng và mầu nhiệm, chỉ có thầy
với trò ngồi với nhau thôi. Lời dạy ấy cho ta thấy một
tình thương rất lớn. Và khi thầy trò lên đường đi về
phương Bắc thì có lúc Bụt quay lại và đưa mắt nhìn thành
phố Vaisali một lần chót. Bụt nhìn với tất cả chánh niệm.
Kinh ghi chép:” Đức Thế Tôn ngoái lại nhìn thành phố Vaisali
bằng đôi mắt của một con voi chúa, rồi Ngài mỉm cười
hướng về phía Bắc và bước tới.” Đó là lần chót Đức
Thế Tôn nhìn thành phố Vaisali, và ngài đã nhìn bằng con
mắt của chánh niệm, con mắt của một tượng vương.
Mỗi
bước chân đi của Bụt là một huyền sử, mỗi cái nhìn
của Bụt là một huyền sử. Bốn mươi lăm năm trước, vào
một buổi sáng, lúc sao mai mọc, Bụt đã thành đạo. Nhìn
sao mai vừa mọc, Ngài giác ngộ, và mỉm cười. Đó là một
giây phút đẹp như một huyền thoại. Những sự việc xảy
ra tuy có thật, nhưng đẹp đến nỗi ta không thể diễn tả
được. Ta chỉ biết nói: mỗi giây phút trong đời sống của
Bụt là một huyền sử. Ngồi trên núi Thứu, ăn cơm với
các đệ tử, leo lên núi, đi xuống núi, từng bước chân,
tất cả những giây phút đó đều tràn đầy an lạc và hạnh
phúc. Mục đích của sự tu học là để sống được
những giây phút như vậy. Chúng ta hãy sống như thế nào để
mỗi giây phút của đời ta trở nên một giây phút linh diệu.
Cho con cháu sau này nghĩ tới sẽ tự hào về cha ông. Những
điều kiện của hạnh phúc, của giác ngộ, của thương yêu
có sẵn bây giờ và ở đây. Ta làm thể nào để tiếp xúc,
để sống an lạc ngay, đừng đợi mười năm sau, đừng đợi
phải nghiên cứu hết cả ba tạng giáo lý của đạo Bụt
rồi mới bắt đầu.
Năm
1968, tôi được leo núi Linh Thứu với thầy Maha Gosananda, sư
cô Chơn Không, thầy Thế Tịnh và một số người khác. Lên
đến đỉnh núi Thứu, chúng tôi chỉ ngồi xuống mà thôi,
ngồi cho đến khi mặt trời lặn. Và cũng chỉ muốn lập
lại những gì mà ngày xưa Bụt đã từng làm. Lên núi Thứu
chúng tôi không đọc Kinh, không pháp đàm, chúng tôi chỉ ngồi
xuống thôi. Ngày xưa Bụt đã ngồi ở đó, và bây giờ ta
cũng chỉ ngồi ở đó. Đột nhiên nhìn về phương Tây, tôi
thấy mặt trời huy hoàng đang lặn. Chưa bao giờ tôi thấy
mặt trời lặn đẹp như vậy. Tự nhiên tôi ý thức được
tôi đang nhìn mặt trời bằng con mắt của Bụt ngày xưa.
Ngày xưa, Bụt đã từng ngồi nhìn mặt trời lặn. Bao nhiêu
năm tháng đã trôi qua. Chiều nay mình cũng ngồi như thế,
cũng nhìn như thế. Không có gì khác. Đức Thế Tôn đã ngồi
nhìn mặt trời lặn. Ta sống lại giây phút huyền sử ấy
bằng cái nhìn của ta. Khi xuống núi, chúng tôi cũng đi từng
bước ý thức. Không ai nói với ai một lời nào. Trong tâm
không lo lắng, không gợn một chút buồn phiền hoặc chút
giận hờn. Đó là những điều mà hôm nay chúng ta có thể
làm được. Bắt đầu từ ngày đó trở về sau, đi đâu tôi
cũng đi theo kiểu thiền hành. Tôi đã hướng dẫn những đoàn
người hai chục người, năm chục người, một trăm người,
hai ngàn người ở Châu Âu, Mỹ Châu, Á Châu, Úc Châu, đi
những bước thảnh thơi như Bụt đã đi.
Đi
như thế nào, ngồi như thế nào, ăn như thế nào để mỗi
giây phút của đời sống ta có thể trở thành huyền sử.
Ngày các sư cô Chân Đức, Chân Không và Chân Vị thọ giới
trên núi Thứu, chúng tôi cũng đã thực tập ngồi yên trên
ấy. Chúng tôi bắt đầu leo lên núi Thứu tử lúc bốn giờ
sáng để kịp chứng kiến giờ phút mặt trời mọc. Chúng
tôi nghĩ nếu mặt trời lặn trên núi Thứu đẹp, thì mặt
trời mọc trên núi Thứu cũng rất đẹp. Thầy trò leo núi
rất sớm, có một ông cảnh sát được mời đi thiền hành
với chúng tôi cho có thêm an ninh. Quả nhiên là mặt trời
mọc trên ấy cũng đẹp không thua gì mặt trời lặn.
Ta
phải biết rằng mặt trời ở đâu cũng đẹp như mặt trời
trên núi Linh Thứu. Mặt trời ở bên Úc, ở bên Hoa Kỳ, ở
Âu Châu, ở Á Châu đều đẹp. Chúng ta có con mắt nào để
nhìn mặt trời hay không, có hai chân nào để tiếp xúc với
mặt đất hay không? Tại Làng Mai có những buổi sáng và buổi
chiều tuyệt đẹp. Những ngày có sương rất đẹp, những
ngày không có sương cũng đẹp. Trời mưa hay nắng đều đẹp.
Cây “bồ đề” trước thiền đường Chuyển Hoá, mùa xuân,
mủa hạ, mùa đông hay mùa thu gì đều đẹp. Chúng ta chỉ
cần nhìn cây với một chút chánh niệm, là đã có thể tiếp
xúc được với cái đẹp ấy.
HẠNH
PHÚC Ở TRONG TA
Những
mầu nhiệm của sự sống đang được biểu hiện trước mắt
ta trong mỗi phút mỗi giây. Chính bản thân ta là một mầu
nhiệm. Chính người bạn tu sống bên ta cũng là một mầu
nhiệm. Không có gì ngăn cản chúng ta tiếp xúc với sự sống
trong những giây phút hiện tại để biến chúng ta thành những
trang huyền sử. Những điều Bụt dạy ta hết sức đơn giản.
Những bài thiền tập có hướng dẫn nằm ở trong tầm tay
mọi người, ai cũng có thể thực tập được cả. Bài kệ
học hôm nay, ta chỉ cần thực tập trong vài phút là đã thấy
mình khỏe hơn, nhẹ hơn và có thể đạt đến hành phúc lớn
và sâu. Có câu chuyện những người đi lên núi châu báu,
chân đạp lên châu báu, nhưng đến khi ra về thì không mang
được hạt ngọc nào về. Chúng ta có thể cũng giống như
những người ấy vậy. Chúng ta đã có cơ hội gặp được
pháp bảo, gặp được Bụt, Pháp và Tăng, đã có rất nhiều
điều kiện để hạnh phúc nhưng chúng ta không có khả năng
sống cái hạnh phúc đó. Chúng ta tiếp tục làm nô lệ cho
quá khứ, cho tương lai. Chúng ta nghĩ hạnh phúc chỉ có thể
đạt tới khi nào xung quanh có sự thay đổi, sau khi mọi người
thay đổi. Ta không ngờ rằng hạnh phúc ở ngay trong trái tim.
Tu hành cũng như là đào giếng. Nếu chúng ta đào xuống và
gặp được mạch nước thỉ tự nhiên nước ngọt trào ra.
Mạch nước ngọt đó nằm ở ngay trong tâm chúng ta. Nguồn
suối chánh niệm đó lưu nhuận ở trong tâm, do Bụt và tổ
tiên truyền lại. Chúng ta chỉ cần đào sâu thêm một chút
là dòng nước ngọt sẽ phun lên. Ta không cần phải đợi
tới lúc chuyển hóa tất cả những buồn đau và lo sợ rồi
mới có an lạc.
Thời
đại của chúng ta là thời đại trong đó mọi người có
nhiều lo lắng và sợ hãi. Chúng ta đã được đào tạo và
huấn luyện để sống trong lo lắng. Chúng ta lo lắng nhiều
quá, đến nỗi đã mất đi khả năng an trú trong hiện tại.
Người nào cũng tên là Lê Thị Lo, người nào cũng tên là
Nguyễn Văn Sợ. Chứng bệnh của thời đại là lo lắng và
sợ hãi. Sở dĩ lo lắng và sợ hãi nhiều quá cũng chỉ vì
chúng ta quen sống phiêu lãng trong tương lai nhiều quá. Chúng
ta cảm thấy bất an, đi không yên, đứng cũng không yên và
khi nằm ngủ lại sợ ngủ không được. Đi học sợ không
học giỏi. Ngồi thiền cũng sợ ngồi thiền không thông suốt.
Cái lo và cái sợ trấn ngự tâm ta.
Cho
nên chúng ta cần phải học pháp môn Bụt dạy. Nếu anh trở
về được với giây phút hiện tại và an trú được trong
giây phút hiện tại thì anh không còn cần gì nữa mà phải
lo. Sang ngày mai, anh đâu có thể làm gì được thêm để cho
hôm nay có nhiều hạnh phúc hơn đâu? Trong khi đó thì trong
giây phút này anh thở vào được, anh thở ra được, anh mỉm
cười được. Anh có đủ tất cả những điều kiện để
tạo ra hạnh phúc. Người ngăn cản không cho anh hạnh phúc
chính là anh. Khi anh chùi nồi, hay cưa củi hoặc đốt lò,
tại sao anh không có hạnh phúc? Tại vì anh cứ nghĩ rằng
chùi nồi như vậy cốt để làm một cái gì đó, cưa củi
như vậy cũng là để làm một cái gì đó. Anh không thấy
rằng cưa củi trước hết là để cưa củi, được làm việc
cưa củi thôi cũng đã là hạnh phúc rồi. Học kinh cũng như
cưa củi. Khi ta biết làm trong chánh niệm thì cái nào cũng
mang lại an lạc như nhau. Học chữ Nho, tiếng Pali, tiếng Phạn
làm gì, trong khi một bước chân hoặc một hộp trà cũng có
thể tạo thành những giây phút huyền thoại?
Trở
về an lạc trong giây phút hiện tại, anh sẽ thấy giây phút
đó nuôi dưỡng và chuyển hóa anh. Có được những giây phút
như vậy là có an lạc và thanh tịnh. Bí quyết của sự tu
tập là mỗi ngày sống được những giây phút như vậy. Đây
là phương thuốc đối trị chúng bệnh thời đại của chúng
ta, bệnh lo sợ. Những chứng ưu uất (stress), những bệnh
tâm thần của ta đều phát xuất từ áp lực của lo sợ.
Và sự lo sợ của những người khác lại thúc đẩy nỗi
lo sợ của ta. Thấy người ta lo, mình cũng sinh lo, mình không
thể thản nhiên được. Từ đó phát sinh ra một nỗi lo tập
thể. Thế giới chúng ta đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa
của lo sợ, của bất an.
Phương
thuốc của Bụt hết sức mầu nhiệm: hãy buông bỏ hết tất
cả những lo sợ ấy đi, dầu là lo lắng cho sinh môi, cho tương
lai thế giới, cho nạn nhân mãn. Hãy trở về, tự nuôi dưỡng
bằng sự sống trong giây phút hiện tại. Rồi anh sẽ thấy
anh làm được gì để chuyển hóa tình trạng. Lo lắng suông
đâu có ích lợi gì mà chỉ làm băng hoại thêm tình trạng.
Vô ưu và quán chiếu là phương thuốc trị liệu cho anh và
thời đại của anh.