12
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ mười hai.
Hôm
nay là ngày 30 tháng chạp năm 1993, chúng ta ở tại Xóm Thượng
và học tiếp về chánh niệm.
Kỳ
trước chúng ta đã nói về Kinh Niệm Xứ và Kinh Quán Niệm
Hơi Thở. Hai Kinh đều dạy về phương pháp thực tập chánh
niệm và cho chúng ta những chỉ dẫn rất cụ thể. Đó là
hai cuốn Kinh gối đầu giường mà chúng ta phải tụng đọc
luôn. Kinh Quán Niệm Hơi Thở (sách tiếng Anh: Breathe, You Are
Alive), Kinh Niệm Xứ có in trong cuốn Con Đường Chuyển Hoá
(sách tiếng Anh: Transformation and Healing) dạy chúng ta thực
tập chánh niệm trong bốn lĩnh vực. Trước hết là lĩnh vực
thân thể, thứ hai là lĩnh vực cảm thọ (feelings), thứ ba
là lĩnh vực tâm, tức là tâm hành (mental formations) và thứ
tư là lĩnh vực pháp, tức là tất cả những đối tượng
của tâm hành. Nếu các tâm hành có 51 thứ thì pháp cũng có
51 loại. Kỳ trước chúng ta đã học về quán niệm trong lĩnh
vực thân thể. Chúng ta đã học rằng hơi thở có thể là
đối tượng đơn thuần của chánh niệm, nhưng hơi thở cũng
có thể đồng thời chuyên chở một đối tượng khác.
TIẾP
XÚC VỚI SỰ SỐNG NHIỆM MẦU
Khi
chúng ta tiếp xúc với hai mắt: “Tôi đang thở vào và có
ý thức về hai mắt của tôi, tôi đang thở ra và mỉm cười
với hai mắt của tôi.” thì đối tượng của tâm trong chánh
niệm lúc bấy giờ là hơi thở và đồng thời cũng là đôi
mắt. Trong khi thở vào, ta quán chiếu hai con mắt trong suốt
chiều dài của hơi thở. Và trong suốt thời gian của thở
ra ta mỉm cười với đôi mắt của chúng ta. Nếu thành công,
nếu cảm thấy dễ chịu, ta có thể lập lại. Và chúng ta
có thể quán chiếu tất cả những bộ phận khác của cơ
thể theo lối ấy. Thực tập tiếp xúc và mỉm cười với
cơ thể, chúng ta nhận biết, phát sinh lòng ưu ái, sự săn
sóc, và chú ý đến thân thể mình. Khi tôi tiếp xúc, mỉm
cười với đôi mắt tôi thì tôi biết rằng mắt tôi còn
đó, mắt tôi còn sáng. Hễ mở mắt ra là tôi có thể thấy
được trời xanh, mây trắng, và những người sống xung quanh
tôi. Cho nên tôi vui mừng vì biết còn hai mắt sáng. Sự quán
chiếu đó có thể đem lại tịnh lạc. Nhiều người trong
chúng ta có hai mắt sáng nhưng có khi phải đợi đến khi bị
đau mắt rồi mới thấy chuyện có hai mắt sáng là một phép
lạ mầu nhiệm. Chánh niệm đánh thức chúng ta dậy để chúng
ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống.
Và do đó chúng ta mới biết trân quý những gì đang có mặt
trong giây phút hiện tại. Nhiều người nghĩ rằng đời họ
không có gì đáng kể hết, không có gì đáng gọi là vui hết.
Trong khi đó thì họ thực sự may mắn hội đủ những điều
kiện có thể cho họ rất nhiều hạnh phúc. Chỉ cần tiếp
xúc với những thứ ấy thôi là tự nhiên họ có hạnh phúc.
Tiếp xúc với đôi mắt chẳng hạn. Biết rằng có hai mắt
sáng mình có thể thấy được bao vẻ đẹp, nhìn ra bao người
thân. Người nào bị mù rồi mới tiếc rẻ :”Bây giờ nêu
có ông bác sĩ nào mổ mắt, làm cho mắt tôi sáng lại, nhìn
được trời xanh mây trắng, thì cũng như là tôi từ địa
ngục mà được đưa lên thiên đường.” Những người có
mắt sáng đều đang ở thiên đường cả, nhưng họ không
biết. Chánh niệm giúp chúng ta ngay trong giờ phút hiện tại
tiếp xúc với thiên đường của hình ảnh và màu sắc.
Khi
ta thực tập “ Tôi đang thở vào và ý thức về trái tim
của tôi, tôi đang thở ra và tiếp xúc với trái tim của tôi,”
thì trong hơi thở ấy, chánh niệm là một năng lượng bao
bọc lấy trái tim ta. Tôi có một trái tim và trong đời sống
hàng ngày tôi ít khi để ý tới nó. Phần lớn chúng ta đều
như vậy. Chúng ta lo toan đủ thứ chuyện nhưng trái tim của
ta, chúng ta không thèm đoái hoài tới. Đến khi nó có vấn
đề, lúc đó ta mới nghĩ tới nó và như vậy có khi đã trễ.
Tôi đang thở vào và tiếp xúc với trái tim tôi, tôi đang
thở ra và mỉm cười với trái tim tôi, đó là một chuyến
trở về. Sự trở về để tiếp xúc với những điều kiện
của tịnh lạc, của hạnh phúc trong ta. Vì trái tim ta không
có vấn đề gì cho nên ta mới có thể ăn, uống, nói, cười,
đi, đứng bình thường. Khi trở về tiếp xúc với trái tim,
ta khám phá ra trái tim ta đang hoạt động một cách bình thường.
Nhiều người đêm ngày chỉ mong ước trái tim của họ hoạt
động trở lại bình thường. Biết trái tim của ta đang hoạt
động bình thường thì ta mừng, đó là một nỗi vui mừng
sinh ra nhờ chánh niệm. Bỗng nhiên, ta biết rằng ta phải
đối xử với trái tim ta một cách sáng suốt. Trong đời sống
hàng ngày ta phải ăn thức nào và uống những thứ nào không
làm hại trái tim. Ta biết khi châm một điếu thuốc lên hút
là ta đã không thân thiện, đã khai chiến với trái tim của
ta, khai chiến cả với hai lá phổi của ta nữa. Khi tiếp xúc
với trái tim bằng chánh niệm, bằng sự tỉnh thức, bằng
lòng ưu ái, ta biết rằng trái tim ta đang làm việc ngày đêm
không nghỉ. Trái tim ngày đêm bơm hàng ngàn lít máu để nuôi
dưỡng tất cả những tế bào trong cơ thể. Ta sẽ thấy thương,
thấy trong lòng biết ơn trái tim, và tình thương và lòng biết
ơn đó là hoa trái do chánh niệm sinh ra.
Từ
niềm ưu ái, tình thương đó, ta nguyện phải sống, phải
ăn uống như thế nào, phải kiêng cữ như thế nào để trái
tim ta đừng khổ nhọc. Chánh niệm đưa tới ý thức về giới,
giới đây là sự gìn giữ và bảo vệ trái tim của mình.
Anh phải bảo vệ được hai mắt, bảo vệ được trái tim
của anh, nếu không anh làm sao bảo vệ được ai? Khi tiếp
xúc với hai lá phổi và với lá gan cũng vậy. Không có lá
gan lành mạnh, ta không thể sống. Trong khi đó thì ta thất
niệm, hàng ngày nuốt vào trong ta những chất độc làm hại
lá gan. Có thể là gan đang năn nỉ: “Thôi ông ơi, tội tôi
lắm mà! Đừng có uống rượu nữa!” Nhưng ta không nghe thấy
lời năn nỉ ấy, vì đầu ta còn đang mải nghĩ tới chuyện
gì đâu đâu. Chúng ta chưa bao giờ trở về lắng nghe lá gan
của mình. Bây giờ nghe Bụt day, ta thực tập: “Tôi đang
thở vào và tiếp xúc với lá gan của tôi.”
Chánh
niệm về thân thể trước hết là sự trở về với thân
thể để nối lại tình thân thuộc lâu nay đã đánh mất.
Đối xử với bạn mình, với anh em, cha mẹ mình, ta cũng làm
như vậy thôi. Không trở về với chánh niệm thì không thể
tiếp xúc, không thể hiểu, không thể thương. Và cũng không
biết mình cần chấm dứt ngay những hành động gây đau khổ.
Thực tập quán chiếu thân thể là dùng năng lượng của chánh
niệm để chiếu rọi, để tiếp xúc và mỉm cười với những
bộ phận trong cơ thể.
CHUYỂN
HÓA XẢ THỌ THÀNH LẠC THỌ
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở dạy chúng ta bắt đầu tiếp xúc với
hơi thở đơn thuần, sau đó dùng hơi thở ấy để quán chiếu
cơ thể, cảm thọ và những pháp khác. Lĩnh vực quán chiếu
thứ hai là cảm thọ. Có những cảm thọ dễ chịu, những
cảm thọ khó chịu và những cảm thọ trung tính. Trong ta có
dòng sông cảm thọ. Cảm thọ này phát sinh, tồn tại và tiêu
diệt, rồi cảm thọ khác phát sinh, tồn tại và tiêu diệt,
mỗi cảm thọ được ví với một giọt nước trong lòng sông.
Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt cho chúng ta bốn bài thực
tập quán niệm về thân, và sau đó là bốn bài thực tập
tiếp xúc với thọ và quán chiếu về thọ. Chúng ta nên có
Kinh Quán Niệm Hơi Thở đem theo bên mình, mỗi khi cần thì
lấy ra để tham cứu và thực tập. Những Kinh như Kinh này
có thể được nghiên cứu, thực tập và khai triển để áp
dụng hàng ngày trong đời sống mới.
Chánh
niệm là ý thức về sự có mặt của những gì đang xảy
ra. Trong bước đầu, ta nhận diện một cảm thọ và biết
đó là khổ thọ, lạc thọ hay xả thọ. Khi có một cảm giác
dễ chịu, ta biết đây là một cảm giác dễ chịu. Khi có
một khổ thọ, ta biết đây là một cảm giác khó chịu. Khi
có một cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, ta biết
rằng đây là một xả thọ. Nếu ta duy trì được chánh niệm
sâu hơn thì chánh niệm ấy có thể chiếu sâu vào cho ta thấy
được những gốc rễ và bản chất của các cảm thọ đang
nhận diện và quán chiếu.
Chánh
niệm có khả năng chuyển hóa từ một xả thọ hay một khổ
thọ thành một lạc thọ. Khi nhức răng chúng ta có một khổ
thọ. Khi quán chiếu khổ thọ đó, “Tôi đang thở vào và
biết rằng tôi đang nhức răng, tôi đang thở ra và mỉm cười
với cái răng nhức của tôi,” ta thấy rằng không nhức răng
là một hạnh phúc. Bình thường ta cho tình trạng không nhức
răng là một xả thọ. Khi nhức răng, ta mới khám phá ra rằng
không nhức răng quả là một lạc thọ. Điều này có liên
hệ tới sự thật thứ ba của tứ diệu đế: diệt. Diệt
là sự vắng mặt của đau khổ. Sự vắng mặt của đau khổ
đã là an lạc, đã là hạnh phúc rồi. Niềm an lạc đó chính
là một lạc thọ, nhưng lâu nay đã được ta xếp vào loại
xả thọ và ta không thấy được giá trị của nó. Trong đời
sống thất niệm, chúng ta cứ nhận lầm rất nhiều lạc thọ
là xả thọ. Bây giờ, khi không nhức răng, ta có thể thực
tập: “Tôi đang thở vào và tiếp xúc với tình trạng không
nhức răng của tôi, tôi đang thở ra và cảm thấy rất hạnh
phúc vì không bị nhức răng”. Chánh niệm như vậy đã biến
xả thọ thành lạc thọ. Kinh Quán Niệm Hơi Thở dạy: “
Tôi đang thở vào và làm cho thân hành của tôi an tịnh.”
Hành ở đây tức là hiện tượng sinh vật lý, và cũng có
nghĩa là sự vận hành của thân thể. Dùng hơi thở chánh
niệm ta điều hoà thân hành lại và làm cho thân thể ta thoải
mái. Ngồi thiền, nằm thiền hoặc đi thiền đều có tác
dụng làm cho thân thể thoải mái.
Thở
vào, tâm tĩnh lặng.
Thở
ra, miệng mỉm cười.
Trong
thiền quán, thân với tâm là một. Thân tĩnh lặng thì tâm
cũng được tĩnh lặng. Chánh niệm là cái năng lượng có
thể làm êm dịu thần kinh và làm êm dịu thân thể. Bụt
dạy ta tiếp đó một bài tập để đem lại an lạc trong cơ
thể. “Tôi đang thở vào và cảm thấy an lạc trong thân thể
tôi, tôi đang thở ra và cảm thấy an lạc trong thân thể
của tôi”. An lạc không phải chỉ có ở tâm mà còn có ở
thân nữa.
Khi
thực tập tiếp xúc với thọ, ta cũng dùng hơi thở: tôi đang
thở vào và có ý thức tâm hành của tôi. Thọ là một trong
51 tâm hành. Thọ ấy có thể là một lạc thọ, ta tiếp xúc
và mỉm cười với nó. Làm như vậy năm hoặc bảy lần, ta
sẽ thấy được bản chất của lạc thọ ấy. Có thể đó
là một lạc thọ đích thực. Có thể đó không phải là một
lạc thọ đích thực. Một lạc thọ giả tạo sẽ đem tới
nhiều khổ đau. Chánh niệm cũng là để nhận diện khổ thọ:
tôi đang thở vào và tiếp xúc với khổ thọ của tôi, tôi
đang thở ra và mỉm cười với khổ thọ của tôi. Đem năng
lượng của chánh niệm chiếu vào khổ thọ ta có thể khám
phá được bàn chất và nguồn gốc của khổ thọ đó. Khi
được tiếp xúc với chánh niệm, khổ thọ có thể chuyển
hóa trong vòng bốn hoặc năm hơi thở, và không còn là khổ
thọ nữa. Chánh niệm không vật lộn, không xua đuổi, không
đàn áp; chánh niệm chỉ cần ôm ấp và chiếu ánh sáng vào
thôi mà cũng chuyển hóa được các cảm thọ.
Sau
hơi thở ý thức tâm hành, Bụt dạy hơi thở an tịnh tâm
hành: Tôi đang thở vào và làm an tịnh tâm hành tôi. Tâm hành
đang được nói tới ở đây là cảm thọ. Ví dụ ta đang
có một khổ thọ vì trong lòng ta đang có sự ganh ghét. Năng
lượng ganh ghét là cho ta bực tức và mất hết an lạc. Trước
hết, ta phải thở và tiếp xúc với tâm hành ấy. “Tôi đang
thở vào và tiếp xúc với sự bực tức của tôi, tôi đang
thở ra và mỉm cười với nỗi khổ trong tôi.” Thực tập
như vậy vài lần ta có thể thấy rõ được nguồn gốc của
khổ thọ này: sự ganh ghét. Khi thấy được nó rồi, ta tiếp
tục quán chiếu và mỉm cười với nó và sau đó khổ thọ
sẽ tan đi. Gặp trường hợp khó, phải thực tập lâu hơn
thì khổ thọ mới chuyển hóa được.
Khi
cơn giận thiêu đốt, khói lửa làm ngột ngạt “phòng khách
của tâm”. Trước hết, ta phải nắm lấy hơi thở. Ta thở
vào và thở ra để nhìn nhận sự có mặt của khổ thọ ấy.
Đó là tiếp xúc. Nhận diện rồi, ta sẽ thấy rằng khổ
thọ ấy do cơn giận đem tới. Thở vào và thở ra, ta làm
cho khổ đau êm dịu lại. “Tôi đang thở vào và làm êm dịu
khổ thọ của tôi, tôi đang thở ra và làm êm dịu khổ thọ
của tôi.” Ta có thể thực tập thiền ngồi hay thiền đi,
miễn là trong khi thực tập ta biết nắm lấy hơi thở và
ôm lấy khổ thọ bằng năng lượng chánh niệm. Như vậy,
tâm hành ta sẽ êm dịu trở lại. Chánh niệm là Bụt, là
sự hiểu biết, là lòng từ bi, cho nên hễ được chánh niệm
bao bọc thì thế nào khổ thọ cũng sẽ êm dịu xuống và
chuyển hóa đi. Nếu bà mẹ ôm lấy đứa con đang khóc một
cách dịu dàng thì thế nào đứa con cũng sẽ bớt khổ và
nín khóc. Xin quý vị học lại Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Dầu
đã học rồi quý vị cũng nên học trở lại. Kinh Niệm Xứ
và Kinh Quán Niệm Hơi Thở trong tương lai phải được cho
vào Thiền Môn Nhật Tụng.
Bụt
lại dạy chúng ta dùng hơi thở đưa chánh niệm tới
để tiếp xúc và quan sát những tâm hành khác, trong đó có
tâm hành tưởng. Tưởng tức là tri giác. Ngoài thọ và tưởng,
ta còn có tới 49 tâm hành khác. Cuối cùng, Bụt dạy chúng
ta đem hơi thở chuyên chở chánh niệm để quán chiếu đối
tượng của các tâm hành, tức là các pháp. Thân, thọ, tâm,
pháp là bốn lĩnh vực quán niệm, mà thuật ngữ là niệm
xứ (satipatthana).
Các
thế hệ Phật tử kế tiếp cần học hỏi, nghiên cứu, thực
tập, khai triển và thể nghiệm Kinh Quán Niệm Hơi Thở để
phát triển ra thành những phương pháp hữu hiệu giúp con người
của thời đại hôm nay tu tập để vượt thắng khổ đau
mới. Kinh Quán Niệm Hơi Thở cũng như Kinh Niệm Xứ là những
kho tàng cần được khai thác nhiều hơn nữa. Suốt trong 2.500
năm chúng ta chỉ mới sử dụng rất ít những kho tàng vô
giá này. Trong lúc dịch Kinh An Ban Thủ Ý (Kinh Quán Niệm Hơi
Thở), tôi đã thí nghiệm và đưa ra một số những bài tập
cho người ở thời đại chúng ta thực tập, để đối phó
với những khổ đau và những thao thức của thế giới hiện
nay. Nhưng tôi biết rằng Kinh này còn phải được khai thác
một cách tích cực hơn nữa. Có thể chúng ta sẽ cần đến
100 năm hay 200 năm nữa mới khai thác được đầy đủ Kinh
Quán Niệm Hơi Thở và Kinh Niệm Xứ. Ta phải chế tác những
pháp môn mới cho những thế hệ sau này tu tập. Nếu đọc
Kinh Quán Niệm Hơi Thở hoặc Kinh Niệm Xứ trong cuốn Con Đường
Chuyển Hoá, thì quý vị đã định được phương hướng khai
thác ấy. Một con đường trong một khu rừng đã được phát
dọn. Các thế hệ tương lai phải biến con đường ấy thành
xa lộ để nhiều người có thể được cùng đi một lúc:
cả gia đình, cả thành phố hoặc cả quốc dân sẽ có thể
cùng thực tập với nhau.
CHÁNH
NIỆM NUÔI DƯỠNG CÁC PHẦN KHÁC CỦA THÁNH ĐẠO
Khi
thực tập được chánh niệm, ta thấy được vị trí của
chánh niệm trong những chi phần khác là chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn
và chánh định. Trong khi tư duy có chánh niệm, ta biết đang
tư duy về cái gì. Có thể là ta đang thương tiếc quá khứ,
và khi có chánh niệm, thì ta biết đang nghĩ về quá khứ.
Đang lo lắng tương lai mà có chánh niệm thì tự nhiên ta biết
tâm ta đang lo nghĩ về tương lai. Biết rồi thì tự nhiên
chánh niệm đưa ta trở về an trú trong hiện tại. Do đó ta
biết vai trờ chánh niệm trong chánh tư duy rất quan trọng.
Chánh
kiến cũng được nuôi dưỡng bằng chánh niệm. Chánh kiến
có thể nhận diện được chánh tư duy. Thầy Xá Lợi Phất
nói: “Khi có tà tư duy thì chánh kiến cho ta biết đó là
tà tư duy. Khi có chánh tư duy thì chánh kiến cho ta biết đó
là chánh tư duy, và như vậy đã gọi là chánh kiến.”
Truớc
đây ta đã biết chánh niệm có nhiều công năng (function).
Công năng thứ nhất là làm cho ta (chủ thể) có mặt. Công
năng thứ hai là công nhận sự có mặt của đối tượng,
của người kia, của sự vật kia. Công năng thứ ba là nuôi
dưỡng. Công năng thứ ba là tạo ra an tịnh, có khổ thọ
thì làm cho khổ thọ êm dịu lại, người kia đang đau khổ
thì chánh niệm ta cũng giúp cho bớt khổ. Công năng thứ năm
là công năng quán chiếu, nghĩa là nhìn sâu. Công năng thứ
sáu là công năng giác ngộ, nghĩa là thấu hiểu và công năng
kế tiếp là chuyển hóa. Vì vậy cho nên chánh niệm quả thực
là thức ăn cho chánh kiến. Chánh niệm tạo ra chánh định,
là thức ăn cho chánh định. Trong niệm có định, trong định
có niệm. Niệm và Định là hai thứ gần gũi nhất với chánh
kiến.
Có
chánh kiến ta biết rằng ta đang tà tư duy hay đang chánh tư
duy. Tà tư duy là tiếp tục gieo rắc hoặc tưới tẩm những
hạt giống không lành trong tâm thức. Chánh tư duy giúp ta gieo
rắc và tưới tẩm những hạt giống tốt trong tâm địa.
Khi nói năng có chánh niệm, ta biết ta đang nói gì. Tự nhiên
ngôn ngữ của ta sẽ chuyển hướng. Đôi khi chánh niệm giúp
ta thấy rằng ta đang nói những điều chính ta không muốn
nói. Một con ma ở trong ta đang nói. Con ma đó là tập khí,
là nỗi giận, là niềm đau có thể đã được trao truyền
lại tự hàng ngàn năm trước cho ta. Khi có chánh niệm, ta
tự hỏi: mình đang nói gì đây? Đó là một tiếng chuông
cảnh tỉnh. Đó là một tia ánh sáng chiếu vào. Tự nhiên
ta ngừng lại. Nếu điều đang nói có chứa đựng yêu thương
và hiểu biết thì chánh niệm cũng cho ta biết. Chánh niệm
giúp ta thêm năng lượng để tiếp tục nói những lời yêu
thương và hiểu biết ấy. Thành ra chánh niệm nuôi dưỡng
chánh ngữ, phòng hộ cho chánh ngữ, là thức ăn của chánh
ngữ. Viết một lá thư, một bài văn hay một cuốn sách, đó
cũng là cơ hội thực tập chánh ngữ. Chánh niệm soi sáng
cho việc viết lách của chúng ta. Mỗi câu viết trong lá thư,
ta có thể đọc lại bằng chánh niệm. Viết xong một lá thư,
ta nên đọc lại lá thư để thực tập chánh niệm. Đó cũng
là thực tập chánh ngữ. Viết câu nào ta biết ta đang viết
câu đó; viết đoạn nào ta biết ta đang viết đoạn đó.
Viết sách và viết báo cũng vậy, tất cả đều có thể trau
dồi thực tập chánh ngữ.
Chánh
nghiệp là hành động của thân thể. Chúng ta biết rằng khi
quán thân ta cũng phải ý thức được tất cả những động
tác của thân thể. Ví dụ như khi hút thuốc ta phải biết
là ta đang hút thuốc. Ta nhận diện đơn thuần: tôi đang hút
thuốc và biết rằng tôi đang hút thuốc. Đó là chánh niệm.
Còn chuyện thói quen hút thuốc mạnh hơn ta, và tuy ta đã có
chánh niệm mà ta cứ tiếp tục hút, đó là chuyện khác. Điều
quan trọng không phải ở chỗ anh ngưng hút thuốc ngay lập
tức hay không, mà ở chỗ anh có ý thức là anh đang hút thuốc
hay không. Chánh niệm trước hết là sự nhận diện đơn thuần.
Nếu chánh kiến còn yếu thì ta chưa đủ sức ngưng hút thuốc.
Có người nói: tôi có chánh niệm rõ ràng, mà tôi vẫn cứ
tiếp tục hút thuốc thì chánh niệm có lợi ích gì đâu?
Nói như vậy không đúng. Phép tu là anh phải có ý thức rằng
anh đang hút thuốc và anh biết anh đang tự làm hại trái tim
và lá phổi của anh. Anh mới thực tập chánh niệm được
một vài ngày, trong khi đó hút thuốc là một tập khí hai
ba chục năm. Ta nên nhớ thực tập chánh niệm ở đây không
phải là ra trận để vật lộn với thói quen hút thuốc của
anh. Chánh niệm chỉ là ánh sáng chiếu ra, để anh ý thức
rằng anh đang hút thuốc. Nếu anh thực tập chuyên cần như
trong tăng thân thì một ngày nào đó chắc chắn anh sẽ chấm
dứt hút thuốc. Chìa khóa đem lại sự chuyển hoá nằm ở
chánh niệm. Nếu anh uống rượu thì điều đầu tiên tôi
đề nghị với anh thực tập là có chánh niệm về việc anh
đang uống rượu. Cứ thực tập chánh niệm hàng ngày cho chuyên
cần, dầu anh vẫn còn uống rượu. Thực tập chánh niệm,
một mình hay cùng các bạn, để thấy càng ngày càng rõ rằng
uống rượu đem lại những hậu quả nào cho thân, cho tâm,
cho gia đình và xã hội. Anh cứ tiếp tục như vậy, một ngày
nào đó anh sẽ đủ sức mạnh để chấm dứt uống rượu.
Không nên gây ra cuộc chiến giữa chánh niệm và mặc cảm
yếu đuối. Chánh niệm có phong thái của một bà mẹ. Biết
rằng con mình hư đốn mà vẫn yêu thương, vẫn chăm sóc,
vẫn giúp đỡ. Điều này quý vị cần ghi nhớ. Chánh niệm
là sự nhận diện đơn thuần những gì đang xảy ra. Không
lên án, không trách móc, không tấn công, không tiêu diệt.
Chánh niệm nuôi dưỡng, ôm ấp và chuyển hóa. Chánh niệm
cũng nuôi dưỡng những phần khác của bát chánh đạo cho
đến một ngày nào đó các tập khí có đủ sức chuyển hoá.
Đây
là một điều hết sức quan trọng. Tu tập theo đạo Bụt
không có nghĩa là tự biến mình thành một chiến trường:
phe chánh đánh phe tà. Cuộc tranh đấu này có thể đúng trong
một vài truyền thống khác, nhưng trong đạo Bụt thì hoàn
toàn sai lạc. Đó là cách nhìn nhị nguyên, Đứa con đang khóc
và đang khổ ấy không phải là kẻ thù của bà mẹ. Bà mẹ
với đứa con là một. Đứa con hạnh phúc bà mẹ ôm lấy,
đứa con khổ đau bà mẹ cũng ôm lấy. Chánh niệm là như
vậy. Tình thương là ta mà cái giận cũng là ta nữa. Những
yếu đuối trong ta như ganh ghét, nghi kỵ và giận hờn phải
được ta chấp nhận là chính ta. Tôi đang thở vào và biết
rằng có sự ganh ghét trong tôi, tôi đang thở ra và mỉm cười
với sự ganh ghét trong tôi. Đó là hành động nhận diện
và chấp nhận. Trong khi thực tập, nếu quý vị thấy có tình
trạng chống đối và tranh chấp, thì đó chưa phải là thực
tập đúng theo tinh thần đạo Bụt. Sự thực tập ấy còn
căn cứ trên cái nhìn nhị nguyên. Cũng như rác và hoa. Những
người làm vườn khôn khéo biết biến rác thành phân bón
để nuôi hoa. Vì vậy họ không kỳ thị rác, họ gìn giữ
rác. Chúng ta muốn có tình thương và có hạnh phúc mà không
thấy cần phải xua đuổi và đàn áp nỗi buồn, cơn giận
và niềm đau của mình. Nhờ chăm sóc nỗi buồn, cơn giận
và niềm đau của ta đúng mức, ta chuyển hoá chúng. Đó là
lối nhìn bất nhị, là phương pháp bất nhị.
Kinh
thường định nghĩa chánh nghiệp là không tàn hại, nghĩa
là không phá hủy, không làm hư hoại và đổ vỡ những gì
trong ta và xung quanh ta. Hành động phá hoại và giết chóc
là ác nghiệp. Chánh niệm là để biết ác nghiệp là ác nghiệp
và thiện nghiệp là thiện nghiệp. Có hai người đang ngắm
một con cá đang bơi trong hồ. Một nhà khoa học có thể ngắm
con cá để tính toán làm cách nào áp dụng phưong pháp của
cá bơi để sáng tạo ra loại vỏ tàu thuỷ có cơ năng chạy
nhanh hơn. Trong khi đó, người thứ hai có thể đang nhìn con
cá để suy tư xem con cá này chiên thì ngon, hay là đem hấp
thì ngon hơn. Những thái độ đó biểu hiện tùy theo tập
khí của mỗi người. Thí dụ như người thứ hai đã đến
chùa Làng Mai tu học, đã ăn chay được ba, bốn năm rồi.
Anh ta đã có tập khí ăn chay, đã cảm thấy sung xướng trong
khi ăn chay và đã bỏ thói quen ăn mặn. Một hôm ra hồ, anh
nhìn thấy con cá. Tự nhiên tập khí cũ nhảy ra : con cá này
chiên thì sẽ ngon hơn là hấp! Lạ quá ! Anh nghĩ, mình đã
ăn chay ba, bốn năm rồi, mà cái ông bạn cũ tập khí đó
vẫn còn nguyên trong tàng thức, bây giờ lại nhảy ra. Trong
trường hợp đó, anh phải làm gì? Tự trách hay không tự
trách? Câu trà lời là ta chỉ nên phát khởi chánh niệm, để
biết rằng tập khí cũ vẫn còn nấp đâu đó và vừa mới
ló đầu ra. « Tập khí ơi, chào mi ! » Mỉm cười thì tự
nhiên nó tan biến. Lần sau nếu nó xuất hiện nữa thì ta
cũng làm như vậy. Chỉ cần nhận diện đơn thuần mà không
cần vật lộn với nó. Đến một lúc nào đó, tập khí sẽ
được thực sự chuyển hóa. Phép tu trong đạo Bụt là bất
bạo động (non- violence). Phương pháp bất bạo động xuất
phát từ cái nhìn bất nhị. Khi ta nổi giận, ta đừng tự
giận thêm rằng tại sao mình nổi giận. Giận mình vì mình
đang giận thì trên cơn giận này còn chồng thêm một cơn
giận khác nữa, nặng nề thêm.
Chánh
nghiệp trước hết là không tàn hại. Chánh nghiệp còn là
không trộm cắp và không tà dâm. Đó là hiểu chánh nghiệp
một cách đơn giản, gồm ba trong năm giới. Trong năm giới
có những giới giúp ta thực tập chánh ngữ và chánh tư duy.
Tất cả năm giới đều phát xuất từ chánh niệm và chánh
kiến.
NĂM
GIỚI
Gíới
thứ nhất, không tàn hại, tức là bảo vệ sự sống : Ý
thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin
học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người
và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán
thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù
là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. Hành
trì giới thứ nhất, chúng ta thực tập nuôi dưỡng chánh
niệm về những khổ đau do sự tàn hại và giết chóc gây
ra. Ý thức được rằng quá nhiều khổ đau đã do hành động
giết chóc và tàn hại gây ra, con xin nguyện thực tập yêu
thương để bảo vệ sự sống của mọi loài, trong đó có
các loài động vật, thực vật và khoáng vật. Sự tàn phá
đất đá cũng đưa tới sự tàn hại những loài thực vật
và động vật. Con nguyện bảo vệ sự sống trong mọi hình
thức. Chánh niệm giúp cho ta tự biết là ta đang có một thái
độ hoặc một hành động có tính bạo động và tàn hại
sự sống hay không. Bảo vệ sự sống, đem lại niềm vui cho
tất cả mọi loài, đó là chánh nghiệp.
Ý
thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin
học theo hạnh đạo bi để bảo vệ sự sống của mọi người
và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán
thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, trong
tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. Như vậy
giới thứ nhất này bao gồm không những mọi thân nghiệp
mà còn mọi ý nghiệp nữa. Trong tư duy ta nếu có một tâm
niệm không lành đó cũng là đã phạm giới sát rồi. Nói
một lời ác độc xúi xiểm để người ta giết chóc nhau
cũng là giết người bằng lời nói. Chúng ta nên biết rằng
giới thứ nhất có liên hệ với tất cả những giới khác,
và muốn hành trì giới thứ nhất cho sâu sắc ta phải vận
dụng cả tám chi phần của bát chánh đạo. Chúng ta biết
khi còn ôm ấp tà tư duy, người ta có thể giết hại rất
nhiều. Khi tin tưởng rằng một chủ thuyết hay một tín ngưỡng
nào đó là con đường duy nhất có thể cứu đời, và những
ai chống lại chủ thuyết hoặc tín ngưỡng ấy thì nên chết
hơn là sống, thì đó đã là phạm giới sát bằng tư duy.
Sở dĩ ta có tà tư duy vì ta có tà kiến. Tà kiến tức là
nhận thức cạn hẹp của chúng ta và sự vướng mắc của
chúng ta vào các ý niệm và chủ thuyết.
Giới
thứ hai : Ý thức được những khổ đau do luờng gạt, trộm
cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại
từ để đem lại niệm vui sống và an lạc cho mọi người
và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật
của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện
không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải
do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ
khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích
trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của
con người và của muôn loài. Giới thứ hai có liên hệ rõ
rệt tới chánh nghiệp. Hành động bảo vệ công bằng xã
hội là chánh nghiệp. Chánh kiến và chánh tư duy giúp cho ta
thấy được việc tiêu thụ hàng ngày của ta có gây ra sự
tàn hại và bất công hay không. Thực tập bằng lời nói,
bằng tư duy, bằng chánh kiến, và bằng cách mưu sinh của
ta, tức là chánh mạng. Với giới thứ hai, không những ta
không trộm cắp, không khai thác, không chiếm hữu những tài
vật không phải là của ta, mà ta còn phải học sống đời
sống hàng ngày của ta như thế nào để cho xã hội có công
bình. Duy trì một nhà máy làm ô nhiễm nước sông và không
khí cũng là một hành vi trộm cắp. Không khí và nước sông
là tài sản chung của tất cả mọi người. Làm cho không khí
và dòng sông ô nhiễm là phạm giới thứ nhất (không tàn
hại) và cũng phạm giới thứ hai (không trộm cắp).
Giới
thứ ba là giới không tà dâm : Ý thức được những khổ
đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm
để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người
và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với
những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức
được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra đau khổ
cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh
phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng
những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi
cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp
tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời
sống đôi lứa. Với giới này không những chúng ta bảo hộ
cho chính ta, cho những người thân thuộc, mà còn bảo hộ
cho tất cả mọi người. Ta bảo hộ các gia đình và không
để cho trẻ em bị hãm hại và lợi dụng. Chánh niệm soi
sáng trong đời sống hàng ngày để giúp ta hành trì vững
chãi giới thứ ba.
Giới
thứ tư là nói và nghe với chánh niệm : Ý thức được những
khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo
hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người
và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói
có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện
chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và
hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu
biết và hòa giải. Con nguyện không nói những lời sai với
sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con
nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc
là có thật, không phê bình và lên án những điều con không
biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo
nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều
có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể. Gíới này trực
tiếp liên hệ tới chánh ngữ, nhưng nói và nghe luôn luôn
có liên hệ mật thiết với nhau. Nếu không biết nghe mà chỉ
biết nói thì lời nói sẽ không khế hợp với hoàn cảnh
và tình trạng, và có thể đưa tới ông nói gà bà nói vịt,
và sự truyền thông sẽ bị nghẽn lấp. Truyền thông đã
bị nghẽn lấp thì cha không còn nói chuyện được với con,
vợ không còn nói chuyện được với chồng, anh không còn
nói chuyện được với em, và hạnh phúc không thể nào có
mặt. Chánh niệm cho ta biết ta có đang sử dụng ái ngữ hay
không và có đang biết lắng nghe người kia hay không. Lắng
nghe là một phép thực tập sâu sắc có thể làm vơi bớt
nỗi khổ của người nói rất nhiều. Lắng nghe là pháp môn
vi diệu của Bồ Tát Quán Thế Âm. Đây là bài quán niệm
về pháp môn lắng nghe (đế thính) : « Lạy đức Bồ Tát
Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh ngài, biết lắng
nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và
biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú
tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe
mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi
nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để
có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều
không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con
cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.
»
Giới
thứ năm là thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu
thụ, vì vậy rất quan trọng cho thân nghiệp. Giới thứ năm
liên hệ tới các chi phần khác của bát chánh đạo : Ý thức
được những khổ đau do sự sử dụng ma tuý và độc tố
gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức
khoẻ thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm
trong việc ăn uống và tiêu thụ. Trong câu này ta thấy rằng
hành động xây dựng sức khỏe và tâm hồn bao hàm chánh tư
duy và chánh kiến. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể
đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho gia đình và xã hội
con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất
ma tuý, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có
độc tố, trong đó có các sản phẩm truyền thanh, truyền
hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Như vậy, thực tập
giới này có liên hệ tới việc hành trì chánh ngữ, chánh
tư duy, chánh kiến và chánh mạng. Con biết rằng tàn hoại
thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ
tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai.
Con nguyện chuyển hóa bạo động, căn thù, sợ hãi và buồn
giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình
con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết
yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã
hội. Hành động tiêu thụ và ăn uống phải được chánh
niệm soi sáng để ta biết đó là chánh nghiệp hay là tà nghiệp.
Trong giới thứ năm này ta thấy tính cách tương tức của
năm giới, đồng thời thấy tính cách tương tức của tám
chi phần trong bát chánh đạo. Kỳ sau chúng ta sẽ thấy
tác động của chánh niệm trên chánh mạng, chánh tinh tấn
và chánh định.