10
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ mười
Hôm
nay là ngày 23 tháng 12 năm 1993 chúng ta ở tại xóm thượng
và học tiếp về chánh niệm. Chánh niệm là trái tim của
sự thực tập, vì vậy ta phải học tập về chánh niệm thật
kỹ. Tất cả những chi phần khác của bát chánh đạo sẽ
không thể nào thành tựu khi ta không phát triển chánh niệm.
Trong đời sống hàng ngày nhiều khi chúng ta không có mặt,
không thực sống trong giờ phút hiện tại. Vì vậy, chánh
niệm trước hết là sự có mặt của chính mình trong đời
sống.
Trong
nền văn học của nhân loại, tác phẩm đầu tiên xuất hiện
sớm nhất để dạy chúng ta trở về để sóng và an trú trong
hiện tại, là Kinh Người Biết Sống Một Mình (Bhaddekaratta
sutta). Kinh Người Biết Sống Một Mình dạy nghệ thuật sống
trong từng giây từng phút hiện tại. Nguồn năng lượng có
thể giúp mình trở về có mặt trong giây phút hiện tại là
chánh niệm. Cho nên chánh niệm là sự tu tập để mình có
mặt bây giờ, có mặt ở đây. Tâm của chúng ta có thể đang
nuối tiếc về quá khứ, đang mơ tưởng chuyện tương lai,
hoặc đang bị giam hãm trong những nỗi lo âu, phiền muộn,
giận hờn trong hiện tại. Chúng ta không có tự do, không có
khả năng tiếp xúc với sự sống đang diễn ra. Chánh niệm
là yếu tố giải phóng cho chúng ta.
SỐNG
GIÂY PHÚT HIỆN TẠI
Trước
hết chúng ta định nghĩa chánh niệm là thứ năng lượng đem
chúng ta trở về với sự sống. Có những người chỉ biết
lo lắng cho tương lai, chỉ mơ ước về tương lai và vì vậy
họ không có khả năng sống với sự sống hiện tại. Có
những người lại thương tiếc, vướng víu vào quá khứ,
chỉ thấy sự sống ở trong quá khứ. Cả hai đều không tiếp
xúc được với sự sống trong giờ phút hiện tại. Do đó,
trong cuộc đời của họ, sự sống không có mặt, dù họ
có đủ sáu căn để tiếp xúc được với sáu trần. Thất
niệm làm cho họ không có sự sống. Nhà văn Albert Camus dùng
văn ảnh “Sống như một người chết.” Một người sống
trong thất niệm, không an trú được trong hiện tại, sống
không ý thức thì cũng như đã chết.
Tự
đánh mất mình trong những tham đắm vật dục, đó cũng không
phải là đang sống ý thức trong hiện tại. Bị sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp lôi cuốn, mê mờ không biết mình đang
làm gì, không biết mình thực sự là ai, đó cũng không phải
là đang sống. Tự tàn phá đời mình và làm khổ những người
xung quanh mà không hay, cũng không phải đang sống. Tuy không
bị quá khứ, không bị tương lai lôi cuốn, nhưng vẫn sống
trong mê tưởng, thì cũng chưa biết an trú trong hiện tại.
Sống trong hiện tại là sống tỉnh táo. Sự sống ở đây
được nuôi dưỡng bằng chánh niệm. Chánh niệm là hạt giống
quý báu ở trong tâm ta. Việc tu tập hàng ngày của chúng ta
là để tiếp xúc được với hạt giống đó, giúp nó nẩy
mầm, nở hoa và làm đẹp đời mình và đời những người
xung quanh.
Kinh
Người Biết Sống Một Mình được chú giải và xuất bản
bằng tiếng Anh đã mang tên Your Appointment With Life, nghĩa là
Cuộc hẹn ước của quý vị với đời sống. Bản dịch sang
tiếng Trung Quốc lấy tên Dữ Sinh Mạng Hữu Ước, nghĩa là
có Ước hẹn với sự sống. Chúng ta có ước hẹn với sự
sống, chúng ta phải gặp sự sống, đừng để lỡ cuộc hẹn
hò này “do not miss your appointment with life”. Yếu tố giúp
chúng ta khỏi bị lỡ hẹn với sự sống chính là chánh niệm.
Mà ta hẹn hò với sự sống ở đâu, vào lúc nào? Câu trả
lời là “Chúng ta chỉ có thể gặp gỡ sự sống bây giờ
và ở đây.” Cho nên tu tập là tiếp xúc được với sự
sống trong mỗi giây, mỗi phút của đời sống hàng ngày.
Nói như dễ hiểu và dường như dễ làm. Nhưng nếu không
có thầy, không có bạn và không có tăng thân thì chúng
ta sẽ lỡ hẹn liên tiếp với sự sống. Thất niệm níu ta
về quá khứ, kéo ta tới tương lai, lôi chúng ta vào những
lo lắng, giận hờn, ghen tỵ và bực bội. Chúng ta trở thành
nô lệ của những thứ phiền não đó và không còn tự do
để gặp mặt sự sống nữa.
Mỗi
buổi sáng thức dậy ta hãy tập thở và mỉm cười, nhớ
rằng hôm nay chúng ta có hẹn với sự sống (I have an appointment
with life today!). Chúng ta hãy thở, mỉm cười và đọc bài
kệ:
Thức
dậy miệng mỉm cười,
hăm
bốn giờ tinh khôi,
xin
nguyện sống trọn vên,
mắt
thương nhìn cuộc đời.
Tôi
nguyện sẽ không lỡ hẹn với sự sống ngày hôm nay, bài
kệ có nghĩa như vậy. Đó là một lời nguyện, là sự bày
tỏ một quyết tâm, thực hiện được chừng nào là tùy công
phu tu tập của mình. Trong hăm bốn giờ đồng hồ ta có thể
tiếp xúc với rất nhiều điều mầu nhiệm của sự sống,
trong ta và xung quanh ta. Nếu ta có đủ năng lượng của chánh
niệm thì tất cả những điều ta thấy và nghe đều có tác
dụng giúp ta thực tập như lý tác ý, lay thức ta dậy để
ta trở về với giây phút hiện tại. Trước khi đi ngủ, chúng
ta hãy thở và kiểm điểm lại xem ngày hôm nay chúng ta đã
tiếp xúc được với sự sống tới mức nào. Chúng ta đã
để cho những hờn giận, ganh ghét và buồn phiền trấn ngự
trong tâm đến mức độ nào? Ta tự hẹn ngày mai sẽ làm khá
hơn. Giá trị của tăng thân và của khung cảnh tu học là
ở chỗ có thể tạo ra những hình ảnh và âm thanh giúp ta
trở về chánh niệm. Tiếng chuông chùa là một yếu tố hỗ
trợ như thế. Tôi trở về được với chánh niệm, tôi được
nuôi dưỡng bằng những thức ăn lành mạnh, đẹp đẽ và
vui tươi của đời sống, đó là nhờ anh, nhờ chị, nhờ
em. Tăng thân gồm tất cả mọi người và mọi cảnh vật
có tác dụng giúp ta trở về với chánh niệm.
Vậy
thì chánh niệm là có mặt trong cuộc sống. Khi thở một cách
có ý thức, thở trong chánh niệm, tự nhiên ta thiết lập
đuợc sự có mặt của ta. Tôi đang thở vào và tôi biết
là tôi đang thở vào. Tôi đang thở ra và tôi biết là tôi
đang thở ra. Phép tu tập đó tuy đơn giản nhưng có thể đem
ta trở về với giây phút hiện tại. Chánh niệm là một ngọn
đèn chiếu sáng cho ta thấy. Có bông hoa rất đẹp, có bầu
trời rất xanh, có cây bồ đề rất tươi tốt, có nụ cười
em bé rất ngọt ngào, có người sư chị dịu hiền, có người
sư em rất tươi vui. Nhưng khi bị giam hãm trong giận hờn và
trong lo lắng, khi đang phiêu lãng trong quá khứ hay tương lai,
ta không tiếp xúc được với những vẻ đẹp đó. Nụ cười
tươi mát kia, bầu trời xanh kia, vì sao ta không được hưởng?
Vì ta không có mặt. Người và cảnh chung quanh đều có thể
giúp ta thức dậy trở về với chánh niệm. Người phát thư
đi tới hỏi: “Có ai trong nhà không?” Ta trả lời: “Có,
tôi đang ở đây.” Với câu nói đó, ta thực tập chánh niệm:
Tôi biết tôi đang có mặt bây giờ và ở đây. Người phát
thư không biết ta đang thực tập chánh niệm. Nhưng câu trả
lời “Tôi đang ở đây” có nghĩa là: “Tôi đang ở đây,
tôi đang thực sự có mặt đây, ông phát thư ạ.” Thấy
một sư chị đang rửa chén, chúng ta hỏi: Sư chị đang làm
gì đó? Tự nhiên sư chị biết đây là một người sư em
đang đến giúp mình vượt thoát ra ngoài thế giới của suy
nghĩ, của lo lắng, để có thể tiếp xúc lại với sự sống
mầu nhiệm. Vì rửa chén trong chánh niệm và thở trong chánh
niệm cũng là một phép tu tập. Rửa chén với tâm an lạc
cũng giống như đang tắm cho một đức Bụt sơ sinh. Ta đâu
cần trở về 2000 năm về trước, ta đâu cần đi tới vườn
Lâm Tỳ Ni, ta đâu phải đầu thai thành một vị thị nữ
của bà Maya mới có dịp tắm cho đức Bụt sơ sinh? Phép lạ
thứ nhất của chánh niệm là làm cho ta có mặt trong sự sống
hiện tại.
CHÁNH
NIỆM LÀM SỰ SỐNG CÓ MẶT
Khi
thất niệm, vì ta không có mặt nên những cái khác cũng không
có mặt. Cái khác đây là bầu trời xanh thẩm, là hoa đào
đang nở rộ, là người anh rất ngọt ngào, là người bạn
rất tươi mát, là một em bé rất xinh đẹp. Nếu ta không
có mặt thì tất cả những thứ ấy đều không có mặt. Cho
nên sự có mặt của ta đem lại sự có mặt của vũ trụ,
của sự sống, của tất cả những mầu nhiệm quanh ta. Đời
sống có những khổ đau, những bi lụy; nhưng đời sống cũng
có rất nhiều nhiệm mầu. Nếu chúng ta chỉ tiếp xúc với
khổ đau thì chúng ta sẽ ốm o gầy mòn, nhưng nếu biết cách
tiếp xúc với những yếu tố mầu nhiệm, tươi mát và lành
mạnh của đời sống thì ta sẽ tự nuôi dưỡng được bằng
những chất liệu mầu nhiệm, lành mạnh và tươi mát. Khi
được nuôi dưỡng bởi những yếu tố lành mạnh, tươi mát
và có tính cách trị liệu rồi, chúng ta mới có khả năng
tiếp xúc với khổ đau để chuyển hoá khổ đau. Phép lạ
thứ hai của chánh niệm là xác nhận sự có mặt của đối
tượng, của người, của vật khác ở ngoài ta.
Vật
ở ngoài kia là bông hoa đào, là bầu trời xanh, là tiếng
chim hót. Đó cũng là sự có mặt của các em bé, của anh,
của chị, của mẹ, của cha. Nếu ta không có mặt thì những
đối tượng đó cũng không có mặt. Cho nên phép lạ thứ
hai của chánh niệm là xác nhận được sự có mặt của
đời sống, của tất cả những mầu nhiệm trong giây phút
hiện tại. Khi nhìn lên mặt trăng với chánh niệm, chúng ta
có mặt đích thực mà mặt trăng đích thực cũng có mặt.
Biết mình có đó, biết có mặt trăng ở đó, đây đã là
một phép lạ, một phép thần thông rồi. Phép thần thông
đó ta có thể tạo ra trong mỗi giây mỗi phút. À, ta đang
có mặt và mặt trăng kia cũng đang có mặt; sự có mặt nhiệm
mầu, sự có mặt đích thực, chứ không phải là một giấc
mộng nữa.
Một
trong những vấn đề triết học là ta có mặt hay là không
có mặt (to be or not to be). Con người có thật không, hay chỉ
là một ảo ảnh? Triết học đi tìm những lý luận để chứng
minh rằng con người có mặt thực sự. Ngày xưa triết gia
Descartes, muốn chứng minh con người có mặt một cách rõ ràng
và chính xác, sau khi suy nghĩ rất nhiều, đã đi đến một
công thức nổi tiếng, ông viết: “Tôi suy nghĩ cho nên tôi
có mặt” (Cogito ergo sum, I think therefore I am). Đó là dùng
lý luận, thứ lý luận toán học, để chứng minh : tôi đang
có mặt ở đây. Đặt câu hỏi ta có mặt hay không, đó đã
là suy tư. Ta có suy tư, và hễ có cái ta suy tư tức là ta
đã có mặt rồi. Cho nên ông kết luận: tôi tư duy, vì vậy
cho nên có tôi. Đó là một lý luận chứ không phải là một
kinh nghiệm. Trong khi đó sư chú đứng nhìn mặt trăng không
tư duy gì cả. Sư chú thấy mình đang có mặt ở đây, đang
tiếp xúc với mặt trăng ở kia, và đó không phải là một
tư duy. Đó không phải là một lý luận nữa, đó là sự sống
đích thực. Nghĩ sâu hơn thì ta thấy rằng càng tư duy chúng
ta lại càng không có mặt. Vì khi tư duy, chúng ta đánh mất
sự sống trong dòng tư duy. Tư duy trở thành một chướng ngại
khiến chúng ta không tiếp xúc thực sự được với sự sống.
Cho nên càng không tư duy càng tốt. Bận tư duy rồi thì làm
sao sống! Khi bế một em bé mà mình cứ tiếp tục tư duy thì
mình đang ôm cái tư duy của mình và đâu có thực sự ôm
em bé? Khi nhìn bông hoa mà tư duy thì mình đâu có thực sự
ngắm hoa? Vì vậy tôi tư duy là tôi không có mặt (I think,
therefore I am not there). Phái thiền Tào Động nói: phi tư duy
thị thiền chi yếu giả (không tư duy là điểm thiết yếu
của thiền, non thinking is the essential of zen pratice).
Năm
ngoái ở Làng Mai, chúng ta có cơ hội đọc truyện Kiều với
nhau, và nghe giảng truyện Kiều qua cái nhìn thiền quán. Chúng
ta nói đến hai câu thơ giờ đây đã rất nổi tiếng ở Làng
Mai:
Bây
giờ rõ mặt đôi ta,
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?
Bác
Tư đã viết hai câu này treo trong thiền đường Cam Lộ. Người
đời đi vào sẽ ngạc nhiên: tại sao ở trong một thiền viện
lại còn nói đến chuyện đôi ta? Hai chữ đôi ta ở đây
còn được đọc qua con mắt thiền quán. Đôi ta là chính mình
và sự sống. Như mình với mặt trăng, mình với hoa đào,
mình với em bé. Có chánh niệm thì tự nhiên sự có mặt của
mình và của các pháp trở thành hiển nhiên: Bây giờ rõ mặt
đôi ta. Đó là nhìn rõ sự sống, trong hiện tại, và ở đây.
Nguyễn
Du viết hai câu này khi kể lại lúc Thúy Kiều qua thăm Kim
Trọng lần thứ hai. Hôm đó gia đình đi ăn giỗ bên ngoại,
Kiều đã lấy cớ nhức đầu hay đau bụng gì đó để ở
lại nhà. Qua thăm Kim Trọng lần đầu, Thúy Kiều chỉ ngồi
một lúc thôi. Kiều hơi thấp thỏm, sợ ở bên này lâu quá,
lỡ bố mẹ với các em về không thấy mình ở nhà thì hơi
quê. Cho nên Thuý Kiều phải trở về ngay nhưng khi về nhà
thì Kiều vẫn thưa thấy ai cả. Nàng bèn vén hàng rào đi
qua hàng xóm lần nữa để gặp lại người yêu. Kim Trọng
lúc đó có lẽ vì đã thức khuya học nhiều thành ra thiếu
ngủ, anh ta đang ngồi gục đầu dựa lên bàn để ngủ. Trăng
đã lên, tiếng chân của Thúy Kiều dẫm trên lối sỏi làm
Kim Trọng thức dậy. Mơ mơ màng màng, chàng thấy người đẹp
đi tới. Trong cơn mơ màng đó, Kim Trọng không biết đây là
sự thực hay trong mộng. Chàng nói: Đây có phải là một giấc
mơ không? Em có thực đó hay không? Thuý Kiều đã trả lời:
Nàng
rằng: quảng vắng đêm trường,
Vì
hoa nên phải tìm đường tìm hoa,
Bây
giờ rõ mặt đôi ta,
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?
Đọc
hai câu đó, nếu biết nhìn bằng con mắt thiền quán ta sẽ
thấy rùng mình. Giờ phút này đây chúng ta đang ở bên nhau,
đang nhìn thấy mặt nhau, đang nói chuyện với nhau. Nhưng nếu
chúng ta không có chánh niệm, không có mặt đích thực thì
biết đâu, giây phút đó sẽ chẳng khác gì một giấc chiêm
bao. Nếu ta sống không có chánh niệm, không tiếp xúc thực
sự với giây phút hiện tại, thì tất cả đều trở thành
một giấc mơ hết. Hai câu này có thể viết treo trong thiền
viện để những người không hiểu sẽ có cơ hội hỏi: Tại
sao trong thiền viện mà lại treo hai câu thơ này?
Khi
nhìn mặt trăng, ta phải nhìn cách nào để thấy được mặt
trăng và thấy được chính mình đang có mặt, ý thức một
cách sâu sắc trong giây phút hiện tại sự hiện diện của
mình và của vầng sáng trên cao. Có những người sống tới
70 năm hay 80 năm mà chưa bao giờ biết ngắm trăng trong ý thức
tỉnh táo như vậy. Có những người thấy hoa đào nở mỗi
năm mà đến hết đời chưa bao giờ nhìn biết ngắm hoa đào
một cách sâu sắc. Cái gì cũng thấy thoáng qua mà thôi. Mẹ
của mình, cha của mình, mình cũng chỉ thấy thoáng qua. Em
của mình, chị của mình, thầy của mình, bạn của mình,
mình cũng chỉ thấy thoáng qua. Cho nên khi nhìn một cành hoa
đào, chúng ta phải thở rất sâu, và chúng ta chỉ vào cành
hoa: bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là
chiêm bao. Ở Làng Mai mỗi tháng tư, hoa mai nở đầy hết đồi
núi, tôi thường đi giữa những hàng mai, bông trắng như tuyết.
Tôi thở và tiếp xúc trong tinh thần đó. Trong một giây phút,
ta thấy mình với hoa mai bất diệt. Hãy thực tập với những
bông hoa khác nữa, chứ đừng chờ tới tháng tư. Tại Làng
Mai, giữa mùa đông cũng có những bông hoa nở rất kín đáo.
Những mầu nhiệm của sự sống có mặt khắp mọi nơi và
bất cứ lúc nào. Đừng bỏ lỡ cuộc hẹn của mình với
sự sống. Sự sống đó được biểu hiện bằng một bông
hoa vàng trong cỏ, hay một trận mưa đầu mùa, tất cả đều
mầu nhiệm. Nếu quí vị mất khả năng tiếp xúc với mưa,
với gió, với những cành cây trụi lá mùa đông, nếu quý
vị không thể tiếp xúc được với trời trong, với mây bạc,
với trăng tròn thì quý vị đã lỡ hẹn với sự sống. Cho
nên chánh niệm trước hết là đem mình trở về để có mặt
trong sự sống. Ý thức sự có mặt của chính mình, ý thức
đó làm cho tất cả những cái khác có mặt. Có mặt, luôn
luôn có nghĩa là có mặt vừa chủ thể vừa đối tượng.
Chủ thể và đối tượng đó gọi là đôi ta.
Ngày
xưa ở Trung Hoa có thiền sư Linh Vân, chỉ nhìn hoa đào nở
mà giác ngộ. Chúng ta có thể cảm nhận được sự giác ngộ
của thiền sư. Ngắm hoa đào thôi mà giác ngộ thì ta phải
biết năng lực chánh niệm của thầy mạnh như thế nào. Nếu
không thường xuyên tiếp xúc sâu sắc với sự sống trong
hiện tại thì không bao giờ ta đạt được kết quả như
vậy. Và đó là một phép lạ mà tất cả chúng ta đều có
thể thực hiện trong mỗi giây phút của đời mình. Cho nên
24 giờ tinh khôi là một tặng phẩm lớn của đất trời cho
chính chúng ta. Mỗi buổi sáng thức dậy mà không biết mình
có 24 giờ đồng hồ để sống, mà tự để mình chết đuối
trong giận hờn, buồn bã, ganh tị và lo lắng, tức là sự
tu học của mình đã thất bại. Người đời chết đuối
đã nhiều, chúng ta vào thiền viện, được hướng dẫn để
tu tập, được dạy thiền hành, thiền tọa, biết rửa chén,
ăn cơm im lặng, nếu ta không tỉnh thức được thì thật
uổng phí công trình của Bụt và của tổ.
CHÁNH
NIỆM LÀ NUÔI DƯỠNG
Khi
tiếp xúc được với sự sống thì chính ta được nuôi dưỡng
mà đối tượng tiếp xúc của ta cũng được nuôi dưỡng.
Đối tượng kia có thể là cây, là lá, là dòng sông, là em
bé, là người mình thương, hay là người mình ghét. Khi ta
có mặt trong ý thức, vật kia có sự chú ý của ta cũng sẽ
có mặt. Chánh niệm là sự chú ý. Khi có chánh niệm, nhìn
vào một khu rừng xanh mát thì ta biết rằng khu rừng này đang
xanh mát. Nhìn đủ sâu sắc thì ta biết phải làm gì để
giữ cho khu rừng này tiếp tục xanh mát. Có những khu rừng
bắt đầu chết vì các độc tố con người tạo ra. Nếu khu
rừng đang vàng úa thì ta biết rằng phải làm gì để khu
rừng có thể tươi mát trở lại. Vì vậy sự có mặt của
chánh niệm sẽ đem tới niềm an ủi và cách trị liệu cho
đối tượng. Đối tượng của chánh niệm có thể là một
người hay một sự vật. Người kia đang sầu héo, đang buồn
bã, đang nhức nhối mà nếu có mặt, có chánh niệm, thì chúng
ta sẽ nhìn thấy rõ tình trạng sầu héo và buồn khổ ấy.
Và chánh niệm có thể giúp chúng ta biết nói gì, làm gì (hay
không nói gì, không làm gì) cho người ta bớt khổ và trở
nên tươi tỉnh lại. Nếu người đó đang sống bình thường,
không sầu khổ, không bệnh tật, mà chúng ta có mặt với
chánh niệm, thì người đó có thể có hạnh phúc.
Sống
mà không được người thân ở chung quanh chú ý thì khổ.
Người sống bên ta có thể khổ vì ta bận bịu quá, lo nhiều
công việc quá, và vì vậy không còn thì giờ cho người ấy.
Ta không đủ chánh niệm để nuôi dưỡng và ôm lấy người
trong tình thương ta. Ta không cần ôm bằng hai cái cánh tay,
ta phải biết ôm người thân bằng năng lượng chánh niệm
của mình. Tôi biết anh có đó, tôi không quên sự có mặt
của anh. Tôi biết em có mặt đó. (I know you are there). Đó
là một món ăn rất bổ dưỡng để nuôi nấng người kia.
Thiếu sự chú ý của những người mình thương, thì mình
chết mòn. Tưởng tượng một ông đang lái xe đi cùng vợ.
Ông đang suy nghĩ về chuyện này chuyện khác, hay đang hát,
đang ngâm nga một bài thơ. Nhưng mà ông hoàn toàn không để
ý tới người đàn bà đang ngồi bên mình. Có thể ông cảm
thấy người này mình đã biết hết rồi, từ thân tới tâm.
Không có gì gọi là mới lạ nơi con người này nữa! Bởi
vậy ông chú ý tới những thứ khác. Người đàn bà ngồi
bên cạnh, bà sẽ cảm thấy mình bị loại ra ngoài tâm ý
của chồng. Ông ta đang nghĩ tới chuyện làm ăn, buôn bán,
chuyện này chuyện khác, và ông ta không muốn nghĩ tới mình.
Người đàn bà sẽ chết dần mòn trong sầu héo và tủi hờn.
Nhưng chúng ta biết trong người đàn bà đó có đủ niềm
vui, những hạnh phúc, những khả năng chưa khai mở. Trong con
người nào cũng có những hạt giống như vậy. Cha mẹ có
thể đã không giúp con phát triển những hạt giống của hạnh
phúc, của tài năng, Thầy, bạn cũng chưa giúp được, cả
ông chồng ngồi một bên cũng không giúp được. Ngồi trên
xe hơi, người vợ đó thấy mình hoàn toàn bị lãng quên.
Chánh niệm có thể mang lại niềm vui, như chất bổ dưỡng
có thể tưới tẩm cho tâm hồn những người đang sầu héo.
Phép
lạ thứ ba của chánh niệm là nuôi dưỡng chính những đối
tượng của chánh niệm. Nếu đối tượng là dòng sông thì
chánh niệm giúp nuôi dưỡng và bảo vệ dòng sông. Nếu đối
tượng là khu rừng thì nó nuôi dưỡng và bảo vệ khu rừng.
Nếu đối tượng đó là em bé, thì nó nuôi dưỡng và bảo
vệ em bé. Vì vậy, chánh niệm là gốc của tình thương. Nếu
không có chánh niệm thì anh không thể thực sự thương. Nếu
không có sự chú ý thì anh không thể thực sự thương, chị
không thể thực sự thương. Nếu không có sự chú ý thì không
có tình thương đích thực. Một người có thể gần gũi người
khác vì thuận tiện hoặc vì nhu cầu, những nhu cầu tâm lý,
sinh lý, hay những nhu cầu xã hội. Đó không phải là tình
thương. Tình thương đích thực là sự có mặt của chánh
niệm, vì chánh niệm có tính cách nuôi dưỡng.
Năm
1964, tôi làm một bài thơ đề là “Vòng tay nhận thức”.
Bài này có chủ đề là đôi ta. Ở đây đôi ta là người
làm thơ và cây bông sứ tại chùa Trúc Lâm ở Gò Vấp tỉnh
Gia Định. Sáng đó tôi dậy rất sớm. Không ngủ được,
tôi ngồi dậy, đi ra cửa sổ. Ngoài cửa sổ tối đen. Cái
thất của tôi, do thầy Châu Toàn làm, nền bằng đất. Nền
đất nên đi hai chân không rất mát. Đi từ giường ngủ tới
cửa sổ, tôi bước trên mặt đất mấy mươi bước thì tự
nhiên thấy trong người rất tỉnh táo.
Chuông
ngân một đêm dài không ngủ
Hai
bàn chân không, tỳ tay cửa sổ
Tôi
đợi vườn cây, hoa lá hiện hình
Ánh
sáng chưa về
Nhưng
trong lòng đêm thâu tôi biết em còn đó
Em
ở đây là cây bông sứ trước của sổ.
Ở
phần sau bài thơ có câu:
Tôi
biết là em còn đó vì tôi còn đây
Hễ
có chủ thể tức là có đối tượng, có đối tượng là
có chủ thể. Khi có chánh niệm ta thấy được sự có mặt
của cả hai. Tôi biết là em còn đó vì tôi còn đây có nghĩa
là tôi biết rằng sự sống có mặt ở đó vì tôi biết tôi
có mặt ở đây. Nhờ tôi có mặt thực sự cho nên em có mặt.
Em tức là sự sống. Khi nhìn một người hay nhìn mặt trăng,
nếu ta nói: “ta biết ngươi có đó”, thì đồng thời ta
xác nhận sự có mặt của chính ta. Chánh niệm không phải
chỉ nuôi dưỡng đối tượng mà cũng để nuôi dưỡng chính
mình. Thiền sư thấy được hoa đào, không những làm hoa đào
rạng rỡ mà còn làm cho người nhìn hoa rạng rỡ. Nhìn hoa
đào không có chánh niệm thì hoa không rạng rỡ được. Không
có cái gì rạng rỡ nếu không có chánh niệm. Có cũng như
không vậy thôi. Trong đời sống hàng ngày, ta phải nhìn như
thế nào, tiếp xúc như thế nào, nói như thế nào, sống như
thế nào để có thể nói, không phải bằng lời mà bằng
sự sống, rằng: “Ta biết ngươi có đó” Darling, I know your
are there. Anh ơi, tôi biết anh có đó, tôi rất trân quý sự
có mặt của anh. Chị ơi, em biết chị có đó, và em rất
trân quý sự có mặt của chị.
Trong
đời sống thường ngày chúng ta ít nói như vậy, chúng ta
ít sống như vậy. Đến khi người kia chết hoặc bị tai nạn
thì chúng ta khóc lóc. Chúng ta chỉ có khả năng khóc mà thôi,
còn trước đó chúng ta không có khả năng chia xẻ hạnh phúc.
Tất cả mọi vật đều vô thường. Mặt trăng kia cũng có
thể sẽ tan vỡ một ngày nào đó. Người mình đang sống
chung, có thể ngày mai không còn nữa. Và chính bản thân mình
chưa chắc đã còn có mặt bên người đó ngày mai. Phải tinh
tấn hôm nay, kẻo ngày mai không kịp. Chánh niệm giúp chúng
ta sống một cách sâu sắc, đích thực ngay trong giờ phút
hiện tại, để ngày mai ta không phải tiếc nuối. Tập Bông
Hồng Cài Áo là một bài thực tập chánh niệm mà đối tượng
của thực tập là bà mẹ của mình. Đối với mẹ ta thực
tập như vậy mà đối với con ta cũng thực tập như vậy.
Sự thực tập rất đơn giản, rất thực tế.
Vậy
chánh niệm là năng lượng làm cho ta có mặt, làm cho vật
kia hay người kia có mặt, và nuôi dưỡng đối tượng đồng
thời nuôi dưỡng mình.
CHÁNH
NIỆM LÀM VƠI ĐAU KHỔ
Phép
lạ thứ tư là, nếu người kia đang chịu khổ đau, chánh
niệm sẽ có năng lượng làm vơi nỗi khổ của người. Khổ
trong cô đơn, không ai biết tới, không ai để ý tới thì
ta khổ thêm rất nhiều. Nhưng khi có một người thấy được
nỗi khổ của mình, có thể ngồi với mình, mang chánh niệm
ôm lấy niềm đau của mình, và biết hiến tặng cho mình sự
có mặt của người đó, thì nỗi khổ của ta vơi bớt đi
nhiều. Vì vậy thực tập chánh niệm bên người đang đau
khổ cũng là một phương pháp thực tập lòng từ bi.
Tôi
biết anh đang khổ, cho nên tôi đang ngồi đây với anh, tôi
đang có mặt đích thực bên anh. Điều này có thể nói ra
bằng cách nhìn, cách nói, bằng cử chỉ của ta. Nếu ta ngồi
gần bên người ấy mà ý nghĩ đặt ở chỗ khác, nói chuyện
này chuyện nọ, thì ta không biểu hiện được sự có mặt
của ta. Sự có mặt đích thực nâng đỡ người ấy và giúp
nỗi khổ niềm đau của người ấy nhẹ đi. Đó là tình thương
đích thực. Nếu không có chánh niệm thì không có thứ tình
thương đó. Nếu chánh niệm yếu thì tình thương cũng không
đủ để giúp người bớt khổ.
Chúng
ta biết người đang lìa đời rất cần sự có mặt rất vững
chãi của một hay nhiều người thân bên cạnh. Trong giờ phút
lâm chung người ta có thể bị sự sợ hãi và cô đơn làm
cho đau khổ thêm cả ngàn lần. Nhưng nếu người đang chết
thấy được sự có mặt của một người hiểu mình, đang
ở đó thực sự với mình thì sẽ cảm thấy vững chãi trở
lại, cảm thấy được nâng đỡ, được an ủi và sẽ ra
đi một cách nhẹ nhàng.
Tất
cả những điều này có thể học được trong kinh điển đạo
Bụt. Bụt đã dạy ta hộ niệm cho người lâm chung như thế
nào. Các thầy lớn như thầy Xá Lợi Phất, thầy A Nan… đều
đã thực tập. Người tu phải biết thực tập hàng ngày để
khi cần thì thể hiện sự vững chãi và đích thực của mình
trong những giờ phút nguy nan đó. Phép lạ là làm cho người
sắp lìa đời cảm thấy vững tâm, cảm thấy được an ủi.
Họ sẽ thấy các nỗi khổ đau, lo lắng và sợ hãi vơi đi,
nhờ sự có mặt đích thực của mình. Sự có mặt đích thực
đó được tạo nên từ chánh niệm. Đó là một chân ngôn
có hiệu nghiệm rõ ràng. Những câu chân ngôn chỉ có thể
hiệu nghiệm khi thân, khẩu, ý của mình hợp nhất, nghĩa
là khi ta có chánh niệm vững chãi. Giáo lý của mật tông
là khi thân, khẩu và ý hợp nhất thì người ta có định
lực rất mạnh. Định lực mạnh làm cho chân ngôn có hiệu
nghiệm.
CHÁNH
NIỆM ĐỂ QUÁN CHIẾU
Công
năng thứ năm của chánh niệm là nhìn sâu. Chữ quán trong
Quán Tự Tại, Quán Thế Âm, hay là thiền quán, chỉ quán,
có nghĩa là nhìn sâu (deep looking). Thiết lập chánh niệm và
duy trì chánh niệm trên một đối tượng thì ta sẽ có thể
nhìn sâu vào đối tượng. Nhìn sâu vào bông hoa hay nhìn sâu
vào tình trạng của một người, đối tượng của sự quán
chiếu của ta, ta sẽ thấy được bản chất của những mầu
nhiệm và những khổ đau trong ấy. Đó là quán (vipasýana,
phiên âm tiếng Hán Việt là tam ma thiền na).
Bốn
công năng trên, bốn tác động trên là giai đoạn Chỉ. Chữ
chỉ ở đây có nghĩa là làm ngưng tụ lại (samatha). Chánh
niệm làm cho mình ngưng lại, tụ vào một điểm. Ekaggata là
nhất điểm tụ, tức là đem năng lượng của chánh niệm
quy tụ vào một đối tượng duy nhất. Ngưng tụ rồi, có
một năng lượng mạnh mẽ, ta có thể nhìn sâu và nhìn kỹ,
đó gọi là quán. Nói như trên không có nghĩa là đến tác
động thứ năm ta mới có quán, mới nhìn sâu. Ban đầu, phép
lạ của sự có mặt đã là nhìn sâu rồi. Công nhận sự
có mặt của kẻ kia, nuôi dưỡng và làm vơi nỗi khổ đau,
cũng đã là bắt đầu có quán. Hễ có Chỉ là có Quán. Và
chỉ càng mạnh thì quán càng sâu. Có năng lượng của chánh
niệm, ngưng tụ được tâm ý, ta chiếu năng lượng ấy trên
một đối tượng, làm đối tượng sáng lên. Ta được nuôi
dưỡng, đồng thời ta bắt đầu nhìn sâu vào đối tượng.
Chiều
sâu của các pháp gọi là tự tánh. Kiến tánh là thấy được
tự tánh, đó là công năng thứ sáu của chánh niệm. Tự tánh
của bông hoa và tự tánh của người có liên hệ với nhau.
Thấy được tự tánh của một bông hoa là thấy được tự
tánh của mọi pháp, tức là thấy bản chất chân thật của
sự vật (true nature). Bản chất chân thật của một bông hoa,
là bản chất vô sinh, vô thường, vô ngã và tương tức. Ta
thấy thật chứ không phải thấy qua những danh từ này. Nhìn
sâu cũng có nghĩa là lắng nghe. Quán Thế Âm, chữ quán còn
có nghĩa là lắng nghe. Ta quán bằng con mắt mà cũng có thể
quán bằng lỗ tai. Người học dược thì phải quán cả hương
và cả vị nữa. Học dược phải nếm đủ các loại cây
lá, phải ngửi các loại dược thảo để phân biệt, để
nhận diện lá húng là lá húng, lá long não là lá long não,
và đôi khi phải nếm bằng lưỡi. Vì vậy, quán là dùng tất
cả sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, chứ không phải
chỉ dùng ý mà thôi.
Mục
đích của quán là nhìn sâu để thấy được tự tánh.
Đối tượng của sự quán chiếu có thể là chính mình. Ta
không biết mình là ai, không biết chỗ yếu, chỗ mạnh của
mình, không biết mình có một kho châu báu, không biết mình
có nhiều khối nội kết, tất cả đều là do không biết
tự tánh của chính mình. Phản quán tự tánh tức là đem chánh
niệm trở về để nhìn sâu và nhìn kỹ chân tánh của mình.
Khi đi xem hát ta thường thấy người ta chiếu một chùm ánh
sáng vào một nhân vật trên sân khấu. Chùm ánh sáng được
chiếu vào người ca sĩ để chúng ta đừng chú ý tới những
thứ khác mà chỉ chú ý vào người đó thôi. Chánh niệm cũng
giống như thế, đó là năng lượng phát khởi trong tâm. Chúng
ta đưa năng lượng ấy vào mắt để quán, đưa vào tai để
quán. Và khi quán chiếu như vậy thì chúng ta tập trung trên
một đối tượng, như thế gọi là định. Vì vậy trong chánh
niệm đã có chánh định. Cũng như trong chỉ có quán, trong
quán có chỉ,v.v.. Vì vậy công năng thứ sáu của chánh niệm
là thấy rõ. Và thấy rõ tức là tuệ giác. Chúng ta có thể
dịch đơn giản là understanding, hiểu. Hiểu đây không phải
là kiến thức khái niệm. Hiểu đây là lúc ánh sáng phát
sinh, khi khối u mê của chúng ta vỡ ra.
Ví
dụ một bà mẹ đang nấu cơm trong bếp nghe tiếng con khóc.
Trong bà mẹ có hạt giống chánh niệm, bà mẹ bỏ công việc
chạy vào. Phép lạ thứ nhất mà bà mẹ làm ra là có mặt
bên con mình. Bà mẹ ẵm đứa con lên: mẹ đây con ơi, con
đừng khóc nữa. Darling, I am here, I am here for you. Bà mẹ có
mặt và xác nhận sự có mặt của con. Em bé có thể chưa
biết tư duy rõ ràng, nhưng em biết bà mẹ đang có mặt. Chỉ
có từng ấy thôi, người mẹ chưa làm gì mà em bé đã thấy
bớt khổ. Có thể là em bé đang bị đau, nhưng khi được
mẹ ẵm vào lòng, thì dầu vẫn còn đau, em bé đã thấy nhẹ.
Sự có mặt của bà mẹ nuôi dưỡng em bé và làm vơi đi nỗi
khổ đau của em. Em bé còn nhức đầu, còn đau bụng, hay còn
đói nhưng bà mẹ chưa thấy. Nhưng sự có mặt của bà mẹ
đã đem tới bốn công năng hay bốn phép lạ đầu tiên. Chỉ
cần sự có mặt chánh niệm là bốn công năng đầu đã có
thể xảy ra. Thứ nhất là sự có mặt của mẹ, thứ hai là
em bé được công nhận. Thứ ba là chúng ta nuôi dưỡng nhau.
Và thứ tư là đứa con cảm thấy mình được an ủi, vì trong
lúc này, người mẹ đã có mặt.
Ôm
lấy đứa con, bà mẹ bắt đầu nhìn vào đứa con, nhìn kỹ
xem tại sao nó khóc. Và bà mẹ tìm ra nguyên do làm em bé khóc.
Cái đầu bé nóng, hoặc em bé đói, hoặc là cái tã được
quấn chặt quá. Công năng thứ năm là nhìn sâu, nhìn kỹ.
Diễn trình ấy là tiếp xúc với khổ đế để tìm ra tập
đế. Mà thấy được tập đế rồi, thấy được nguyên do
của khổ đau rồi thì bà mẹ có thể giúp em bé một cách
dễ dàng. Nếu nó đói thì bà cho nó ăn. Nếu nó nóng thì
bà cởi bớt cho nó cái áo. Nếu cái tã chặt quá thì bà nới
ra. Tất cả đều được thực hiện dễ dàng một khi có hiểu
biết, tức là có tuệ giác. Trong đạo Bụt, tuệ giác là
yếu tố giải phóng cho mình. Sự cứu độ trong đạo Bụt
là sự cứu độ bằng tuệ giác (salvation by understanding), chứ
không phải bằng ơn huệ của một đấng thiêng liêng. Trong
những tôn giáo khác, sự cứu độ có thể tới nhờ ân huệ
của một đấng thiêng liêng. Nhưng trong đạo Bụt sự giải
thoát được thực hiện bằng tuệ giác. Mà sở dĩ tuệ giác
có được là nhờ công phu thiền quán. Tuệ giác đó không
phải từ bên ngoài tới, mà vốn có hạt giống trong ta. Các
vị Bụt và các vị bồ tát trong ba đời và tăng thân mười
phương có thể giúp mình chạm tới hạt giống tuệ giác ấy,
làm cho nó lớn lên và nở hoa. Đó là giải thoát.