09
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ chín
Hôm
nay là ngày 19 tháng chạp năm 1993, chúng ta học tiếp về bát
chánh đạo. Hôm trước chúng ta đã vẽ một trái quit, năm
múi tượng trưng cho năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và
thức. Hôm nay chúng ta vẽ một cái nhà hai tầng. Tầng dưới
là Thức uẩn và tầng trên là Hành uẩn
CHÁNH
NIỆM VÀ 51 TÂM HÀNH
Hành
uẩn ở trên đây gồm đủ 51 tâm hành, trong đó có Thọ và
Tưởng, tức là cảm thọ và tri giác, và 49 hành khác.
Thức
uẩn là phần căn bản của tâm thức. Đạo Bụt Đại Thừa
(học phái Duy Thức) gọi là Thức A lại da (Alaya) hay Tàng
thức. Alaya có nghĩa là hàm tàng, kho cất chứa. Ví dụ lòng
đất chứa đựng các hạt giống. Khi những hạt giống ở
trong đất tâm phát hiện ra, đó là những tâm hành (mental
formations). Tứ là một tâm hành, Tầm là một tâm hành, Thọ
là một tâm hành, Tưởng là một tâm hành. Hành có nghĩa là
phát hiện và lưu hành. Sau khi phát hiện rồi, những tâm hành
sẽ biến trở lại thành những hạt giống mới. Chúng ta thường
ví dụ Thức là cái nhà kho ở dưới và Hành là phòng khách
ở trên. Những hạt giống của tâm thức ở dưới nhà kho,
phát hiện lên phía phòng khách ở trên, tồn tại một thời
gian rồi nó trở lại xuống dưới, lại mang hình thức hạt
giống.
Trong
số 51 tâm hành có Tầm (vitarka) và Tứ (vicara), tức là tác
dụng liên tưởng và tư duy, có hạt giống ở trong tàng thức.
Tuệ giác của chúng ta cũng tồn tại dưới hình thức những
hạt giống ở trong tàng thức. Thường tiếng Anh dịch Tầm
là thought, conception. Tứ dịch là the continuing activity of the
mind. Tầm và tứ là ngữ ngôn của ý, như chúng ta nói thầm
ở trong ý, trong tâm. Trong trí ta các tâm hành tầm và tứ
luôn luôn đang hoạt động mà chúng ta không nghe thấy. Ví
như chúng ta mở máy phát thanh mà chúng ta không nghe được
vì không cắm giây nối vào loa phóng thanh. Khi tư duy chuyển
sang ngữ ngôn thì tầm và tứ phát hiện trong tiếng nói, như
cắm loa phóng thanh vào thì tự nhiên phát ra tiếng. Nhưng trong
thức của chúng ta cũng còn có những hạt giống khác, đồng
thời phát hiện, để chọn lựa những điều muốn phát thanh
ra. Cũng như tầm và tứ được kiểm soát, được nhuận sắc.
Có nhiều người bệnh tới một bác sĩ tâm lý trị liệu,
biết rằng muốn lành bệnh thì phải nói hết cho bác sĩ nghe,
nhưng họ vẫn che dấu, hoặc thêm bớt, tô điểm. Vị bác
sĩ giỏi có khi bất chợt hỏi một câu, bệnh nhân buột miệng
nói. Bác sĩ nhờ câu nói đó mà nắm được một điều, khám
phá ra những sự thật ẩn chứa trong tâm người bệnh.
Khi
có chánh niệm, ta biết ta đang nghĩ gì, ta tự biết những
suy tư đó có phù hợp với chánh pháp không, có phù hợp với
nguyên tắc bốn sự thật, với quan niệm của bốn loại thức
ăn hay không. Chánh niệm giống một cây đèn thắp lên trong
cái phòng khách phía trên, phòng của tâm hành, soi rõ hình
dáng của tầm và của tứ. Nhờ đó ta biết ta đang suy tư
những gì và, nếu thực tập giỏi hơn, biết được nội
dung và bản chất của điều ta suy tư. Biết được như vậy
thì tự nhiên là tầm và tứ thay đổi, đó là nhờ chánh
niệm.
Hạt
giống chánh niệm là một hạt giống rất quý trong đất tâm.
Biết sử dụng thì hạt giống chánh niệm, khi phát hiện thành
tâm hành, sẽ đóng vai trò soi sáng, dẫn đường và chuyển
hoá. Có chánh niệm, ta sẽ biết tư duy của ta là thiện
hay bất thiện, có tác dụng gây tai hại hay không. Khi tầm
và tứ phát ra thành lời nói, chánh niệm vẫn tiếp tục soi
sáng để ta biết ngôn ngữ của ta có phải là ái ngữ hay
không. Phát xuất từ chánh kiến, tầm và tứ là chánh tư
duy. Ngôn ngữ phát xuất từ chánh tư duy là chánh ngữ. Cho
nên ngọn đèn chánh niệm rất quan trọng.
Có
khi những khổ đau và nội kết chìm sâu trong tâm thức quá
lớn. Những giận hòn, bực tức, thất vọng và những thèm
khát của chúng ta, đôi khi không cần đi qua trung gian của
tầm, tứ mà cũng tự phát thành ngôn ngữ. Những nội kết
của ta cũng trực tiếp biểu hiện ra bằng ngôn ngữ khi ta
không đủ chánh niệm, không đủ sức kiểm soát tất cả
những niềm đau, cơn giận, nỗi buồn phiền, thất vọng của
mình. Chúng ào ra thành những tiếng gào thét, khóc lóc, chửi
rủa, hoặc những lời than vãn và kể lể. Người bác sĩ
tâm lý có tài có thể làm cho người bệnh nói ra được điều
họ thường che giấu một cách ý thức hay vô thức. Người
ấy nói một câu làm động tới một điều sâu kín trong lòng
người bệnh; người này tự nhiên mở ra tất cả những điều
chất chứa, dù muốn che dấu cũng không được. Trong câu chuyện
hàng ngày, ta có những bước trượt của vô thức, những
câu nói lỡ lời. Ta phải thấy mối liên hệ giữa chánh ngữ
và tri giác, giữa chánh ngữ và thất niệm, giữa chánh ngữ
với tập khí. Và cuối cùng chánh ngữ liên hệ tới bồ đề
tâm và từ bi tâm. Khi ta có tình thương, có ý chí muốn cứu
giúp người thì năng lượng của bồ đề tâm sẽ là một
yếu tố rất quan trọng giúp biểu hiện ra chánh ngữ. Bằng
chánh ngữ chúng ta có thể giúp người khác thấy được nỗi
khổ, niềm đau và thấy rõ những khối nội kết của họ.
Bằng chánh ngữ chúng ta có thể giúp cho người khác thấy
được những hạt giống của hạnh phúc và của tài năng
họ mà họ không thấy. Những hạt giống hạnh phúc và các
tiềm năng ở trong tâm họ bị đè nén bởi những lớp khổ
đau và phiền muộn cho nên không phát hiện ra được. Với
chánh ngữ, chúng ta có thể tưới tẩm những hạt giống hạnh
phúc và tài năng ấy để chúng tự khai mở.
THỰC
TẬP CHÁNH NIỆM VÀ CHÁNH NGỮ
Câu
chuyện sau đây là một thí dụ về thực tập chánh ngữ.
Có một phụ nữ người Pháp năm 18 tuổi không chịu đựng
nổi gia đình nên bỏ sang nước Anh ở. Cô ấy giận mẹ,
giận gia đình, cô muốn bỏ đi, vĩnh viễn không trở lại.
Nhưng hai chục năm sau, một hôm cái hạt giống quê hương,
hạt giống thương mẹ trong cô nổi dậy. Người phụ nữ
đó bắt đầu có ước muốn về Pháp và hoà giải với mẹ.
Bà mẹ cũng đã bảy mươi mấy tuổi và cũng nhớ con gái.
Bà tuy rất giận con nhưng trong lòng bà tất nhiên cũng có
hạt giống thương con. “Giận thì giận mà thương thì thương”.
Trong tâm thức chúng ta có nhiều hạt giống trái chống nhau
cùng một lúc.
Khi
nghe nói con gái mình sẽ về, bà mẹ rất vui. Người con gái
cũng náo nức về gặp để hoà giải với mẹ. Nhưng đến
lúc hai mẹ con gặp nhau, hàn huyên được vài ba hôm, họ lại
cãi nhau nữa. Trái bom chứa trong lòng người mẹ nổ. Trái
bom trong lòng cô con cũng nổ. Mặc dù cả mẹ lẫn con đều
có ý chí muốn hòa giải. muốn tha thứ, nhưng chánh kiến
đó chỉ mới phôi thai là một ước muốn thôi. Trong khi đó
thì trái bom nội kết ở trong cả hai người vẫn còn nặng.
Khi ngồi xuống với nhau, họ lại vô ý tưới tẩm lên những
hạt giống của bao nỗi niềm đau khổ cũ. Chúng phát hiện,
biểu lộ thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ nóng giận của người
mẹ tưới lên niềm đau khổ của người kia. Cho nên mỗi
khi hai mẹ con gặp nhau lại sinh cãi cọ. Bao nhiêu lần đến
gần nhau để hoà giải, bấy nhiêu lần họ thất bại.
Người
thiếu phụ đã tới Làng Mai, tôi khuyên bà ta phải chờ đợi
một thời gian. Một thời gian để tu tập chánh kiến, học
sống chánh niệm trước khi về gặp mẹ. Trong thời gian đó
người thiếu phụ tập thiền hành, thiền tọa, ăn cơm yên
lặng, sinh hoạt với đại chúng, nấu cơm, xách nước, giặt
áo, v.v.. tham dự vào đời sống của tăng thân. Đây cũng
là thời gian bà ta có dịp tưới tẩm những hạt giống hạnh
phúc lâu nay bị bỏ quên. Trong tăng thân thế nào cũng có
người có nụ cười, có lời nói, có khả năng giúp đỡ
mình vén những tấm màn khổ đau đang che phủ tâm mình, và
giúp mình tưới tẩm những hạt giống an lạc. Trong tăng thân
thế nào cũng có người soi sáng cho mình thấy các sai lầm
trong nhận thức của mình. Và trong thời gian đó, người thiền
sinh có thể phát triển chánh niệm. Sự thực tập tại Làng
Mai là thực tập chánh niệm, đi trong chánh niệm, đứng trong
chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, nấu cơm, giặt áo trong
chánh niệm. Chánh niệm giúp mình thấy tâm tư của mình như
thế nào. Chánh niệm cho mình thấy những vận dụng của tầm
và tứ. Chánh niệm giúp mình nhận ra tầm và tứ của mình
đã bắt nguồn từ những hạt giống nào. Tôi đề nghị người
thiếu phụ đó cứ mười ngày thì ngồi viết cho bà mẹ một
lá thư, viết như một bài thực tập chánh niệm. Lá thư đó
là hoa trái của quá trình tu học chánh niệm ở làng. Tôi
đề nghị rằng trong lá thư đó người con quán chiếu để
thấy con người của bà mẹ và đồng thời cũng thấy được
chính mình. Nghĩa là thấy những tập khí, những nỗi khổ,
niềm đau, những hy vọng và thất vọng của chính mình và
của mẹ. Viết là diễn đạt những tầm và tứ của
mình, một cách an toàn hơn, vì người kia chưa phải nghe. Và
khi viết xong có thể để đó một thời gian rồi đọc trở
lại, dùng chánh niệm xem những đoạn mình mới viết bắt
nguồn từ những khối nội kết nào ra. Bởi vậy viết là
một phương pháp thực tập chánh niệm. Ngồi viết một lá
thư hay một bài văn trở thành một buổi thực tập chánh
niệm. Đây không còn là một công việc nữa, mà là một phép
thực tập. Cũng như khi ta rửa nồi hay lau nhà, nếu chúng
ta biết thực tập chánh niệm thì đó không phải là một
công việc nữa. Đó là những phép tu, gọi là phép tu rửa
chén, phép tu chùi nồi. Mà nếu chùi nồi chỉ để cho nồi
sạch không thôi thì rất uổng. Việc chùi nồi phải dùng
để thực tập như là một phép tu.
Khi
ngồi viết một lá thư trong chánh niệm, người thiếu phụ
đó đã tự nhìn lại mình, nhìn lại mẹ mình, đã thấy rõ
nỗi khổ đau và những điều kiện để có hạnh phúc của
cả hai mẹ con. Đời sống tu tập là cơ hội đầu tiên để
tự khai mở cho mình và khai mở cho mẹ. Lá thư đó là một
công trình thực tập. Nếu trong lá thư đó người con lại
cãi lý hoặc phân trần, thì lá thư sẽ không ích lợi gì
cả. Lý luận và thanh minh chỉ tưới tẩm những hạt giống
khổ đau của bà mẹ mà thôi. Viết như vậy vô ích. Viết
như vậy chứng tỏ trong tư duy của mình, tầm và tứ chưa
được chánh niệm soi sáng, vẫn phát xuất từ những hạt
giống tiêu cực. Nhưng nếu viết để nói về những điều
kiện sẵn có của hạnh phúc mà mẹ chưa bao giờ sử dụng
tới, thì người con làm một công việc trước đây chưa ai
từng làm. Ông ngoại, bà ngoại chưa làm, trường học, xã
hội chưa làm, bè bạn của mẹ cũng chưa làm. Bây giờ người
con gái làm được, vì người ấy có chánh niệm. Thiếu phụ
viết thư kể lể : « Mẹ ơi, con nhớ hồi con còn bé thơ,...
» Kể một câu chuyện bình thường, nhưng để gợi ý và
chứng tỏ cho mẹ thấy là bà có những hạt giống của hạnh
phúc, của tình thương, những hạt ngọc ở trong tàng thức.
Lá thư đó phải do công trình quán chiếu mới viết được.
Quán
chiếu vào lúc nào ? Quán chiếu khi rửa chén, khi lau nhà, khi
đi thiền hành, khi ngồi thiền tọa. Viết lá thư là kết
quả những điều đã thấy trong khi quán chiếu. Và ta tiếp
tục quán chiếu trong khi viết thơ, viết xong rồi thì tự
nhiên thấy khỏe, và biết rằng mẹ mình đọc xong cũng sẽ
thấy khỏe. Ta dùng ánh sáng của chánh niệm chiếu vào để
thấy tác dụng của từng câu, từng chữ. Ta biết rằng lá
thơ này phát xuất từ chánh kiến, từ chánh tư duy và được
thể hiện bằng chánh ngữ. Mười ngày sau người con gái viết
lá thư thứ hai, cũng tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc
của bà mẹ. Trong khi thực tập viết những lá thư như vậy,
người con cũng tự tháo gỡ cho mình. Rồi khi bà mẹ đọc
được một lá thư như thế thì bà mẹ cũng được tháo gỡ.
Nếu người con thực tập đồng thời cho mình và cho mẹ thì
chỉ trong sáu tháng hay một năm là hai mẹ con có thể gặp
lại nhau. Lúc đó thì các niềm đau khổ đã chuyển hóa, vơi
bớt đi nhiều, những niềm vui trong lòng đã phát triển. Chánh
tư duy và chánh ngữ sẽ phát hiện. Hai mẹ con có thể nói
chuyện với nhau. Người con không đợi cho mẹ chuyển hoá
rồi mình mới chuyển hóa. Chúng ta phải bắt đầu từ sự
tu tập của chính mình. Một người tu mà hai người được
lợi ích.
Viết
văn, viết thư trong khi thực tập chánh niệm có khả năng
tưới tẩm, chuyển hoá, có thể ảnh hưởng trên mình và
trên người đọc, nhờ lời văn chuyên chở tuệ giác, chuyên
chở chánh tư duy, vì văn đó là chánh ngữ. Chúng ta thường
nói văn chương để chuyên chở đạo lý, « văn dĩ tải đạo
». Đó là nguyên tắc của người viết văn ở Đông phương.
Viết văn không thể thiếu tinh thần trách nhiệm. Viết văn
không chỉ để cào cấu những niềm đau khổ của mình làm
cho người khác đọc cũng lây đau khổ, cũng bị cào cấu.
Khơi lên những nỗi bực dọc và chán chường vô ích rồi
vung vãi cho tất cả độc giả lãnh đủ, văn chương đó không
phải là văn chương có đạo lý. Những bài hát, những bài
văn đầu độc, làm cho con người hết ý chí sống, mất niềm
tin, những loại văn nghệ như vậy phải xếp vào « Tập Đoạn
Trường ». Có những thanh niên, thiếu nữ nằm ôm máy nghe
những bài hát rên rỉ, tưới tẩm những hạt giống phiền
não, đau khổ của mình. Đó là « văn nghệ đứt ruột »,
không chuyên chở đạo lý. Cho nên người có chánh kiến, người
có chánh tư duy phải dứt khoát với loại văn nghệ đứt
ruột. Không tiêu thụ những độc tố làm hại mình, hại
người. Sự tu học của ta dính líu tới rất nhiều người
khác: cha mẹ, anh chị em, bạn bè của ta, rồi
xã hội bên ngoài. Những lá thư ta gởi cho cha, mẹ, anh, em
phải có tác động chuyển hoá. Sự thành công tu học của
ta trước hết được thể hiện qua sự chuyển hoá của gia
đình, của những người thân thuộc. Những lá thư là chất
liệu nuôi dưỡng, là những luồng gió mát, nâng đỡ, khai
mở, mà nếu không tu tập thì ta không viết được. Cho nên
người tu học ở đây viết những lá thư cho những người
mình yêu thương, phải biết rằng những lá thư đó có giá
trị tưới tẩm và chuyển hoá. Viết thư trong chánh niệm
như vậy là một cách thực tập. Một lá thư như vậy có
giá trị chuyển hoá rất lớn. Dầu chúng ta không gặp khó
khăn với mẹ như trường hợp người phụ nữ Pháp kể trên,
ta cũng nên viết thư cho người thân, 10 ngày, 15 ngày một
lần, ít nhất một tháng một lá thư. Viết để tu tập và
hành đạo. Giá trị của lá thư tùy ở chánh kiến và chánh
tư duy. Viết thư « thuyết pháp » một cách vụng về lại
có tác dụng ngược lại. Đừng tưởng cứ thuyết pháp tức
là hành chánh ngữ. Không có quán chiếu thì ngôn ngữ sẽ
không phù hợp, người nhận sẽ không thích đọc, rồi sau
này khi thấy thư họ sẽ không muốn mở ra nữa. Vì đó không
phải là chánh ngữ, dù lá thư nói về tứ đế, thập nhị
nhân duyên hay bát chánh đạo. Dù đề tài là phật pháp mà
bài thuyết pháp không khơi động, không chuyển hoá được
lòng người, thì đó cũng không phải là chánh ngữ.
PHÉP
TU IM LẶNG
Chánh
ngữ là một phép thực tập cần đi trên quá trình văn, tư
và tu. Đó là phần thế gian, phần hướng thượng. Khi sự
thực tập chín dần chúng ta sẽ thấy được mặt xuất thế
gian. Khi thực tập thiền quán, ban đầu chúng ta còn cần tới
tầm và tứ, tư duy và ngữ ngôn. Càng đi sâu vào thiền quán,
chúng ta càng tiếp xúc được với bản môn, càng tự do ra
khỏi tư duy và ngôn ngữ. Tới một lúc nào đó, hoàn toàn
được tự do, chúng ta không còn lệ thuộc vào ngôn ngữ nữa.
Tuệ giác siêu việt, không cần ngôn ngữ nữa, gọi là ngôn
ngữ đạo đoạn. Đây là một danh từ thiền. Ngôn ngữ đạo
đoạn nghĩa là con đường ngôn ngữ đã bị cắt đứt (the
way of the speech is cut). Giống như chiếc xe lửa thấy đường
rầy không cần thiết nữa, bởi vì nó đã cất cánh biến
thành một chiếc máy bay. Nó bay lên trên không gian, hoàn toàn
tự do.
Chính
tư duy khi đến mức xuất thế gian thì đạt tới tâm hành
xứ diệt. Tâm hành xứ diệt là nơi mà các hoạt động tư
duy tâm hành đều đã bị mất. Tâm hành ở phạm vi chánh
ngữ tức là tầm và tứ. Vì chân lý tuyệt đối hay tuệ
giác siêu việt đã vượt thoát tất cả mọi tư duy, nên gọi
là tâm hành xứ diệt. Vượt thoát tất cả mọi ngôn ngữ
nên gọi là ngôn ngữ đạo đoạn.
Ở
Việt Nam xưa có thiền phái Vô Ngôn Thông. Vô ngôn thông có
nghĩa là sự thông cảm và hiểu biết đuợc thực hiện không
cần qua trung gian của lời nói. Tổ sư của phái Vô Ngôn Thông
trước khi tịch đã để lại một bài kệ nhấn mạnh đến
ý niệm chân lý vượt thoát mọi ngôn ngữ văn tự. Bài đó
nó chấm dứt bằng hai câu: trực nhiêu vấn ngã, ngã bổn
vô ngôn (đừng hỏi tôi nữa, tôi vốn là vô ngôn). Tên ngài
là Vô Ngôn Thông. Kinh Duy Ma Cật nói tới sự im lặng, thứ
im lặng hùng hồn hơn bất cứ ngữ ngôn nào, gọi là im lặng
sấm sét (thundering silence), chữ Hán là mặc như lôi. Lôi là
sấm sét, mặc là im lặng. Trong đạo Nho, đức Khổng Tử
cũng có lần nói: “Trời có nói gì đâu? – thiên hà ngôn
tại ?” Trời không nói gì cả, vì mình không biết lắng
nghe. Nếu mình có chánh niệm, nếu mình biết lắng nghe thì
mỗi bông hoa nở, mỗi tiếng chim hót, tiếng thông reo, đều
là ngôn ngữ cả (tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên). Kinh
A Di Đà có câu là: “Mỗi khi gió thổi qua những hàng cây
ở nước cực lạc phát ra những âm thanh kỳ diệu; nếu lắng
tai thì họ nghe đuợc các giáo lý như tứ diệu đế, ngũ
căn, ngũ lực, thất bồ đề phần và bát thánh đạo phần.
Tất cả những chúng sanh ở nước cực lạc khi nghe những
âm thanh đó thì lòng phát sinh chánh niệm về Bụt, Pháp và
Tăng. “ (xuất vi diệu âm, kỳ vi diễn xướng ngũ căn, ngũ
lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, như thị
đẳng pháp; kỳ độ chúng sinh, văn thị âm dĩ, giai phát niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm). Điều này cũng đúng
ở cõi Ta Bà của chúng ta. Nếu có chánh niệm, khi đi thiền
hành, chúng ta sẽ nghe tiếng chim hay tiếng gió trong những
cây phong hay những cây sồi, chúng ta cũng có thể nghe được
giáo lý ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh
đạo phần. Nghe tiếng gió, tiếng chim, hay tiếng chuông đồng
hồ, chúng ta có thể trở về với chánh niệm. Chúng ta niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và có thể sống với cái kinh
nghiệm của tịnh độ ngay ở đây và bây giờ. Đừng đợi
chết rồi mới sống, hãy tập sống ngay bây giờ kinh nghiệm
cõi tịnh độ. Trong Thánh Kinh có nói rằng mười điều răn
cấm của Chúa (the ten commendements) được mặc khải cho thánh
Moϊse qua những hàng chữ khắc trên đá. Người học đạo
Bụt nhìn vào đá cũng phải thấy những thông điệp. Nhìn
vào cây, nhìn vào suối, nhìn vào đất, nghe tiếng chim, tiếng
gió đều có thể đọc được và nghe được những vi diệu
âm. Đây là một phép thực tập chánh niệm.
Có
những lúc ta cần im lặng để thực tập chánh niệm về ngôn
ngữ. Chúng ta không nói, không trò chuyện, để lắng nghe tiếng
nói của tầm và của tứ ở trong ta, quán chiếu xem những
tầm và tứ ấy phát xuất từ những thấy biết nào, những
nội kết nào. Thời gian tịnh khẩu là thời gian quán chiếu.
Ta tịnh khẩu không phải vì ta không được phép nói. Khi tu
pháp môn tịnh khẩu, mỗi người xin đại chúng được sống
im lặng trong năm ngày, mười ngày hoặc trong một tháng. Như
vậy không phải là để tránh xung đột với người khác.
Chính đó là cơ hội lắng nghe tiếng nói của tầm và tứ
ở trong chính mình, và phát hiện nguồn gốc của tầm và
tứ đó. Trong một khóa tu thường thường chúng ta không nói
chuyện. Những người chưa quen phương pháp này có thể sẽ
thấy căng thẳng và ngột ngạt. Những người đã quen quán
sát tầm và tứ của mình rồi thì khác. Không nói chuyện
là một cơ hội rất lớn để mình có thể nhìn rõ bản chất
của tư duy và cái thấy của mình. Đối với họ, sự im lặng
trong khóa tu rất quan trọng. Nếu không duy trì sự im lặng
đó, chúng ta mất cơ hội thực tập quán chiếu. Tuy nhiên
có những người tuy bên ngoài im lặng nhưng bên trong tầm
và tứ của họ vẫn rất ồn ào.
CHÁNH
NIỆM LÀM CƠ BẢN
Tới
đây ta có thể tạm rời lãnh vực chánh ngữ để bắt đầu
bàn về chánh niệm. Trong khi học về chánh kiến, chánh tư
duy và chánh ngữ ta đã thấy chánh niệm là điều kiện rất
cần thiết rồi. Không thể nào có chánh kiến, chánh tư duy
và chánh ngữ nếu không có chánh niệm. Vì ngay trong chánh
nghiệp, chánh mạng và chánh tinh tấn, vai trò của chánh niệm
cũng quan trọng không kém. Thường thường ta vẫn nói theo
trình tự niệm, định, tuệ. Chánh niệm đưa tới chánh định.
Nhưng chánh niệm không phải chỉ đưa tới chánh định mà
thôi, nó dẫn tới cả chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng và chánh tinh tấn. Chúng ta hãy nói
sơ lược về chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn để
bàn vào chánh niệm và sẽ trở lại ba chi phần đó sau.
Chánh
nghiệp tức là hành động chân chánh, đây là về hành động
của thân thể, tức thân nghiệp. Vì khẩu nghiệp thuộc phạm
vi của chánh ngữ và ý nghiệp thuộc phạm vi của chánh kiến,
chánh tư duy, chánh định và chánh niệm. Trong Kinh nói sát
sanh, trộm cướp và tà dâm là tà nghiệp. Không sát sanh, không
trộm cướp, không tà dâm là chánh nghiệp. Vì vậy, về chánh
nghiệp chúng ta phải nói đến giới thứ nhất, giới thứ
hai và giới thứ ba của năm giới. Thân nghiệp cũng liên quan
tới giới thứ năm. Giới thứ tư thuộc về chánh ngữ và
bốn giới khác có liên hệ trực tiếp tới chánh nghiệp.
Chánh
mạng tức là nghề nghiệp hoặc phương tiện sinh sống chân
chánh. Sống bằng những phương tiện bất chính là tà mạng.
Những nghề nghiệp vi phạm giới sát sanh, giới trộm cướp,
giới tà dâm, phải sử dụng các chất ma túy và phải nói
dối, đều là tà mạng. Vậy chánh mạng cũng liên hệ tới
tất cả năm giới. Người xuất gia cũng có thể phạm vào
tà mạng nếu sử dụng những phương tiện hành đạo không
phù hợp với chánh pháp. Thí dụ đưa người ta vướng thêm
vào vòng mê tín. Nếu không tu tập, chỉ tụng kinh và làm
đám như một nghề sinh nhai, cũng là tà mạng. Việc tụng
kinh và đưa đám nếu hành trì như những phương pháp hướng
dẫn tu học và chiếu ánh sáng của đạo lý vào đời sống
của mọi người và của chính mình, thì đó là chánh mạng.
Còn tụng kinh và làm đám chỉ với mục đích cầu lợi thì
đó là tà mạng.
Chánh
tinh tấn là năng lực giúp ta tu học một cách siêng năng.
Chánh tinh tấn gồm có bốn loại thực tập liên hệ với
chánh niệm. Loại thực tập thứ nhất là với những hạt
giống xấu chưa phát hiện thì cố ngăn đừng để cho chúng
phát hiện, những chủng tử xấu đừng để cho chúng có cơ
hội hiện hành. Mỗi lần hiện hành các hạt giống ấy lại
lớn lên ở trong tàng thức. Đừng cho phát hiện không phải
là đè nén, mà chỉ có nghĩa là đừng để người khác hay
chính mình tưới tẩm những hạt giống xấu trong mình. Ngoài
ra, phải tìm cách cho những hạt giống tốt phát hiện. Đó
là phép thực tập thứ nhất. Thứ hai là khi những hạt giống
xấu phát hiện rồi thì phải biết cách làm cho chúng trở
về gốc càng mau càng tốt, tìm cách cho chúng trở về nguyên
quán, nằm im ở đấy. Đó là phương pháp thay chốt, phương
pháp quán chiếu, phương pháp chánh niệm. Thứ ba là những
hạt giống tốt chưa từng được phát sanh thì tìm cách tưới
tẩm cho chúng phát sanh. Tự mình tưới tẩm hay nhờ sự có
mặt của tăng thân tưới tẩm. Thứ tư là những hạt giống
tốt đã phát sanh rồi thì tìm cách mời chúng ở lại và
nuôi dưỡng cho chúng lớn lên. Bốn phương pháp đó gọi là
tứ chánh cần. Thành ra nội dung của chánh tinh tấn là
tứ chánh cần, tức là bốn loại hành động siêng năng. Mục
đích là làm cho những hạt giống xấu yếu đi và làm cho
những hạt giống tốt lớn lên. Ta thấy chánh tinh tấn liên
hệ tới tất cả các chi phần khác trong bát chánh đạo. Nói
chánh tinh tấn là sự siêng năng thì không đủ nghĩa. Cần
phải có kiến thức về tâm học, về duy thức học thì mới
có thể hiểu được nội dung tám chi phần của bát chánh
đạo. Chúng ta nói qua như vậy để bàn tới chánh niệm rồi
sẽ trở về với ba chi phần ấy sau.
NHƯ
LÝ TÁC Ý
Chữ
niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim,
nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm
là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ
và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà
niệm và chánh niệm. Chánh là thẳng, tà là nghiêng. Chánh
niệm là đặt những điều ngay, thẳng và điều tốt đẹp
vào trong tâm nhớ nghĩ của mình.
Trong
51 tâm hành có một tâm hành tên là tác ý (manaskara, Pali là
manasikara). Tác ý tức là khởi tâm để ý tới một đối
tượng nào đó. Trước đó chưa chú ý tới, bây giờ ta chú
ý tới, gọi là tác ý. Tác ý là một trong năm tâm sở biến
hành. Và tác ý mở đầu cho một niệm. Như khi ta xem một
truyện phim hay nghe một bài hát thì hình ảnh hay câu hát khiến
cho ta tác ý. Nếu ta biết tu tập thì ta sẽ tác ý tới một
điều chính, và ta duy trì điều chính đó lại. Khi nghe chuyện
hay nhìn hình ảnh ta cũng có thể tác ý tới một điều bất
chánh. Khi ta tác ý tới một điều chánh đáng, phù hợp tới
tinh thần bốn sự thật, với kiến thức về bốn loại thực
phẩm, với giáo lý bát chánh đạo thì đó gọi là như
lý tác ý hoặc là như pháp tác ý (yoniso manaskara). Ngược
lại là bất như lý tác ý (ayoniso manaskara). Chữ như lý được
dịch từ chữ yoniso. Yoni có nghĩa là tử cung, cái cung của
đứa con, mọi người đều sinh ra từ đó. Và vì thế yoni
ở đây có nghĩa là cội nguồn. Khi đưa về đúng cội nguồn,
không lạc hướng, thì gọi là yoniso. Đưa đi lạc khỏi cội
nguồn thì gọi là ayoniso, dịch là bất như lý hay phi như
lý tác ý. Thí dụ ở Làng Mai khi nghe tiếng chuông đồng hồ,
mọi người trở về với chánh niệm, thở và mỉm cười.
Ta lấy chánh niệm để soi sáng và như thế ta thực tập như
lý tác ý. Khi nghe một tiếng hát đưa lòng ta tới những thương
nhớ vẩn vơ, quên rằng ta đang ở đây để thực tập chánh
niệm cùng với tăng thân, thì đó là phi như lý tác ý. Cho
nên trong đời sống tu học, chúng ta phải tổ chức như thế
nào để có thể thực tập được như lý tác ý trong mỗi
giây phút. Khi bước vào nhà bếp, thấy một vị thiền sinh
đang xắt cà rốt, tôi hay hỏi: “Anh đang làm gì đó?” Câu
hỏi giống như một tiếng chuông để giúp người đó như
lý tác ý. Trong một tăng thân tu tập với nhau chúng ta phải
giúp nhau gióng tiếng như lý tác ý cho nhau. Cách đi, cách đứng,
cách ngồi, cách nhìn, cách làm việc của ta đều có thể
có tác dụng giúp người khác thực tập như lý tác ý. Trong
tăng thân chúng ta có những người làm được như vậy. Khi
nhìn thấy họ ta tự nhiên trở về với chánh niệm. Sự có
mặt của họ có tác dụng như tiếng chuông tỉnh thức. Xây
dựng tăng thân cũng là thực tập để cho mỗi lời nói, mỗi
cái nhìn, mỗi cái động tác của ta là một tiếng chuông
cho chính ta và cho người khác. Trong thiền viện, từ cách
trình bày bàn thờ, cắm một bình hoa, một góc chùa cong, một
tiếng chuông thỉnh đều chủ ý giúp chúng ta thực tập như
lý tác ý. Cái gì trong thiền viện cũng phải được sắp
đặt để nhắc nhở chúng ta phải trở về như lý tác ý.
Như lý tác ý là giây phút khai sanh của chánh niệm. Ngược
lại, nếu chúng ta sống trong một môi trường mà mọi thứ
đều khiến chúng ta quên lãng, ta sẽ bị kéo theo bởi những
phi như lý tác ý. Ngồi trong một quán rượu, tất cả những
điều chúng ta nghe, thấy và cảm bằng sáu giác quan đều
có tác dụng đưa chúng ta đi lạc vào phi như lý tác ý.
Khi
chúng ta nghĩ tới danh, lợi, tài, sắc, nhớ tới thuốc hút
“nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào
điếu lên”, thì niệm đó là tà niệm. Nhớ một người
nào đến nỗi không làm ăn gì được, không tu học gì nổi,
đó là tà niệm. Có khi chúng ta quán tưởng một dòng nước
trong hay là một bầu trời xanh để cho tâm hồn thư thái,
để tự nuôi dưỡng trước khi trở về đối diện những
khó khăn hiện tại, việc này có thể là như lý vì chúng
ta biết mình đang làm gì. Nhưng thường thì chúng ta không
biết là mình đang mơ mộng và đang trốn tránh. Mà người
tu học không trốn tránh thực tại. Tu học tức là đem chánh
niệm chiếu vào đối tượng khổ đau, để tìm ra những nguyên
do đã đem tới đau khổ. Mà thấy được khổ đế và tập
đế rồi, tự khắc ta thấy được đạo đế. Trốn tránh
thì suốt đời ta không giải quyết vấn đề đau khổ của
ta và của người.
Chánh
niệm là một loại năng lượng để thắp sáng tâm ý. Chúng
ta biết trong chiều sâu tàng thức của chúng ta có hạt giống
chánh niệm. Không tu tập thì hạt giống bị vùi lấp qua nhiều
lớp thất niệm, khổ đau phiền não. Tu tập là chạm vào
hạt giống chánh niệm để nó nở thành hoa. Ta hãy tìm cách
giữ nó lại trong phòng khách của tâm hành, vì đó là một
người khách quý. Người khách đó là Bụt, vì chánh niệm
chính là Bụt tương lai. Nuôi dưỡng chánh niệm là làm cho
Bụt ở trong ta càng ngày càng sáng tỏ. Người tu tập giỏi
có thể nuôi dưỡng ngọn đèn chánh niệm thường xuyên. Ngọn
đèn đó sẽ đem chiếu sáng bốn lãnh vực, đối tượng của
thiền quán.
Lãnh
vực thứ nhất là thân. Thân tức là uẩn đầu tiên trong
ngũ uẩn, gọi là sắc uẩn. Có một kinh chuyên trình bày sự
thực tập chánh niệm về thân, gọi là Kinh Thân Hành Niệm.
Kinh này có trong Trung Bộ (Majjima Nikaya), và cũng có trong bộ
Trung A Hàm. Chánh niệm cũng soi sáng lãnh vực thứ hai gọi
là lãnh vực cảm thọ. Thọ là những cảm giác của mình,
những cảm giác vui, buồn. Những cảm thọ dễ chịu, khó
chịu, hoặc không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi là cảm
thọ trung tính. Chánh niệm soi sáng lãnh vực thứ ba là
tâm ý hay tâm hành. Bất cứ một tâm hành nào phát hiện là
chánh niệm nhận diện được. Thấy tầm thì biết là tầm,
thấy tứ thì biết là tứ, thấy tham thì biết là tham, thấy
sân thì biết là sân, thấy mạn thì biết là mạn. Chánh niệm
nhận diện tất cả 51 thứ tâm hành mỗi khi chúng phát hiện.
Sau cùng chánh niệm soi sáng đối tượng của tâm hành, tức
là các pháp. Pháp ở đây là tất cả mọi hiện tượng tâm
lý cũng như vât lý, và sinh lý. Trước hết pháp là đối
tượng của tưởng, tức là tri giác. Ở đây các pháp là
đối tượng của tâm hành. Chúng ta soi sáng vừa chủ thể
vừa đối tượng của tâm hành.
Chúng
ta thường nghĩ nhầm năm uẩn là của một người này hay
người kia. Phải nhớ năm uẩn không phải là một cái gì
biệt lập, năm uẩn gồm cả chủ thể lẫn đối tượng.
Mà đối tượng của năm uẩn bao gồm cả vũ trụ.
Người
tu học dùng chánh niệm soi chiếu bốn lãnh vực thân, thọ,
tâm ý và đối tượng tâm ý. Sự soi chiếu này đưa tới
tuệ giác, có công năng tháo gỡ và giải thoát cho bản thân
người tu học.