08
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ tám
Hôm
nay là ngày 16 tháng 12 năm 1993, chúng ta ở tại Xóm Thượng
và học tiếp về tứ diệu đế. Hôm nay chúng ta nói đến
phần chánh ngữ.
Chánh
ngữ tức là lời nói chân chính. Đây là một phép thực tập
rất quan trọng. Chúng ta biết rằng chánh tư duy cũng là một
hình thức của chánh ngữ, tư duy là loại ngôn ngữ thầm
ở trong tâm. Tuy người khác không nghe thấy nhưng trong tâm,
ta thường thường vẫn đang nói. Tầm và tứ là hai hình thức
ngữ ngôn ở trong tâm. Như có một cuốn băng ghi âm phát thanh
ở trong đầu mình một cách liên tục, ta nghĩ cái này rồi
nghĩ qua cái khác. Tư duy ở trong ta, như con tằm tự giam mình
trong kén, lúc nào cũng tự nói mình nghe. Nếu có chánh tư
duy thì tầm và tứ sẽ soi sáng cho ngôn ngữ và cho hành động,
và làm giàu cho chánh kiến. Ngược lại, tà tư duy sẽ làm
giảm bớt chánh kiến, đánh mất chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng,v.v. Có những tư duy bị che dấu, thỉnh thoảng
tự nhiên ta bật nói ra. Bởi vậy chánh tư duy sẽ đưa đến
chánh ngữ. Về tư duy có tầm và tứ, còn về chánh ngữ có
ngôn và luận. Ngôn tương đương với tầm (vitarka), còn luận
tương đương với tứ (vicara). Ngôn chỉ là nói, còn luận
là có phân tích, chứng minh, mổ xẻ.
ÁI
NGỮ
Kinh
Tạp A Hàm số 785 định nghĩa chánh ngữ bằng cách nêu ra
bốn đặc tính: không nói dối, không nói hai lưỡi, không
ác khẩu và không nói thêu dệt. Đây là một định nghĩa
phổ thông, thấy trong tất cả các kinh điển. Thứ nhất là
không vọng ngữ, nghĩa là không nói dối. Vọng là sai. Có
nói là không, không nói là có, trắng nói đen, đen nói trắng,
nói không đúng sự thật, là vọng ngữ.
Thứ
hai là không lưỡng thiệt. Lưỡng thiệt tức là hai lưỡi
(double tongues), với người này nói thế này, với người khác
thì nói khác. Đôi khi nói cho vừa ý một người, rồi lại
nói khác đi để làm vừa ý một người khác, kết quả là
nói lời không đúng sự thật. Cố nhiên cách nói có thể
thay đổi cho người ta dễ tiếp nhận, nhưng chánh ngữ là
phải nói đúng sự thật.
Thứ
ba là không ác khẩu. Ác khẩu tức là nói to tiếng, thô tục,
quát mắng, chửi thề, nói lời tạo đau khổ, bực tức, hận
thù cho người khác. Có những người tâm rất tốt, không
muốn làm hại ai, nhưng khi nói ra thì như châm trích và tàn
hại người ta vậy. Đó là khẩu xà tâm Phật. Tuy gọi là
tâm Phật, nhưng thực sự bên trong còn có quá nhiều nội
kết cho nên cái miệng mới nói lời ác. Nếu có thói quen
ái ngữ thì ta sẽ không nói như vậy. Dầu là tâm ta không
có ý hại ai nhưng nếu ta bị tập khí ác ngữ miệng ta vẫn
gây ra những đổ vỡ. Lời nói có thể làm cho người khác
thêm mặc cảm, lời nói có thể làm cho người ta mất hết
ý chí, và có khi lời nói có thể làm cho người ta đi tự
tử. Khi cha mẹ mắng con: “Mày là đồ vô dụng, không ra
cái tích sự gì cả!” nói như vậy cũng là ác khẩu, vì
câu nói đó tiêu diệt niềm tin của em bé, làm cho nó có mặc
cảm tự ti. Cho nên tu tập chánh ngữ rất quan trọng.
Thứ
tu là không ỷ ngữ, ỷ ngữ tức là nói những lời thêu dệt.
Thêu dệt là vẽ vời ra cho sự việc thêm đẹp đẽ hơn gấp
bội, hoặc xấu xa hơn gấp bội. Như nói làm thế nào cho
mọi chuyện thê lương hơn, hay mỹ miều hơn, giật gân hơn
hoặc hấp dẫn hơn mà không cần đúng với sự thật.
Nhiều
kinh điển định nghĩa chánh ngữ là không nói dối mà phải
nói lời chân thật, không nói hai lưỡi mà chỉ nói một lời
thôi, không ác khẩu mà chỉ nói những lời dịu dàng, không
ỷ ngữ, chỉ nói sự thật không thêm không bớt. Trong Trung
Bộ (Majjhima nikaya), kinh số 117, cũng có định nghĩa giống
như vậy. Khi nói về chánh ngữ, chúng ta trở về với giới
thứ tư trong năm giới: không được nói dối, không được
nói để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không được
nói lời gây chia rẽ căm thù, không loan truyền những tin mà
mình không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án
những điều mình không biết rõ. Phải có can đảm nói ra
sự thật về những điều bất công, và phải dùng lời nói
của mình để thực hiện hoà giải và thương yêu. Giới thứ
tư nhằm duy trì chánh ngữ.
Khi
dùng điện thoại, chúng ta có thể thực tập chánh ngữ. Thiền
điện thoại không những là phép thực tập chánh ngữ, mà
còn thực tập chánh tư duy. Trước khi bấm số, chúng ta thở
theo một bài kệ:
Tiếng
đi ngoài ngàn dặm,
Xây
dựng thêm tin yêu,
Một
lời là châu ngọc,
Một
lời là gấm thêu.
Lúc
bắt đầu thực tập, chưa thuộc những câu kệ, chúng ta viết
kệ xuống một mảnh giấy, dán vào chỗ điện thoại. Mỗi
khi ta dùng điện thoại ta lại nhìn thấy bài kệ, và bắt
đầu tập hơi thở chánh niệm : thở vào đọc câu đầu (tiếng
đi ngoài ngàn dặm), thở ra đọc câu thứ hai (xây dựng thêm
tin yêu). Thở vào đọc câu thứ ba (một lời là châu ngọc),
thở ra đọc câu thứ tư (một lời là gấm thêu). Trong khi
thực tập thở ra và thở vào, ta lập lại lời nguyện ái
ngữ, nguyện sẽ nói những lời xây dựng, bồi đắp thương
yêu và hiểu biết. Trong lúc đó, ta cũng đang thực tập chánh
tư duy, nhờ vậy lòng ta an tĩnh hơn, ta nhìn thấy mọi chuyện
sáng rõ hơn. Người bên kia cầm ống điện thoại lên sẽ
được tiếp xúc với một con người tươi mát, nghe những
lời xây dựng, êm đẹp, không làm họ đau khổ, có thể giúp
họ an tịnh trong giây lát.
Dùng
ái ngữ, chúng ta có thể tạo hạnh phúc cho người khác. Lời
nói của mình có thể khơi dậy những hạt giống của niềm
tin và an vui nơi người khác. Đó là một hành động phát
xuất từ tình thương yêu.
Khi
thấy hai người không hòa hợp với nhau, ta có thể dùng lời
nói hòa giải để đưa họ tới gần nhau. Quán chiếu vào
tâm trạng, hoàn cảnh và nỗi đau khổ của mỗi người, ta
có thể luôn luôn tìm ra những điểm tích cực. Nói những
sự thật tích cực của người này cho người khác nghe sẽ
giúp họ hiểu lẫn nhau. Chỉ cần nói sự thật thôi, khi hai
bên hiểu nhau hơn họ sẵn sàng tha thứ cho nhau, sẽ dễ dàng
hòa giải với nhau hơn. Như ở Nam Phi, có một cộng đồng
da trắng, một cộng đồng da đen thường thù ghét, kỳ thị
và chống đối nhau từ lâu. Ta biết rất rõ là cả hai cộng
đồng, dù đen hay trắng đều đau khổ, vì cả hai đều sống
trong sợ hãi, lo lắng. Người thực tập chánh ngữ trình bày
những nỗi khổ đau, sợ hãi, mặc cảm, những ước vọng
của cộng đồng này cho người trong cộng đồng kia nghe. Mỗi
bên bắt đầu thấy an ninh và hạnh phúc của mình liên hệ
tới hạnh phúc của bên kia. Nhờ vậy lòng họ có thể chuyển
hoá. Nếu ta đứng về một phe thì chỉ làm cho tình trạng
càng căng thẳng, càng khó khăn hơn.
Muốn
thành công trong việc hòa giải ta cần biết nói năng khéo
léo. Nhưng bản chất nội tâm của con người hòa giải rất
quan trọng. Con người đó cần chứa đựng sự hiểu biết,
thương yêu, cần được cả hai bên tin cậy, thì lời nói
mới có ảnh hưởng lớn lao hơn. Vì lời nói phát xuất từ
chánh tư duy, chánh ngữ, chứ không phải là do mưu mẹo, và
những khéo léo bên ngoài mà thôi.
Chánh
ngữ là nói sự thật, nhưng sự thật nhiều khi cũng có thể
gây ra đau khổ. Cho nên sự thật phải được diễn tả bằng
ngôn ngữ khôn ngoan để giúp cho người nghe dễ chấp nhận.
Nói một sự thật mà gây tan vỡ và hư hại thì không phải
là chánh ngữ. Khi nói phải biết tâm lý, dùng thứ ngôn ngữ
thích hợp với người nghe, chọn thời gian và hoàn cảnh thuận
tiện, và diễn tả cách nào để họ hiểu được, chấp nhận
được, thì mới nên nói.
Kinh
Pháp Hoa có nói về một vị Bồ tát hiệu là Diệu Âm. Bồ
tát Diệu Âm thành tựu một tam muội gọi là hiện nhất thiết
ngữ ngôn tam muội, nghĩa là thể hiện được, hiểu và sử
dụng được tất cả các loại ngôn ngữ. Ngài có thể đối
thoại với bất cứ loài chúng sinh nào, vì ngài hiểu tâm
ý của chúng sinh, và nói ngôn ngữ nào thích hợp với họ.
Vì vậy, chánh ngữ cần chất liệu của chánh tư duy, lại
cần chất liệu của nghệ thuật nói năng khôn ngoan. Chúng
ta phải học hỏi nghệ thuật truyền thông và diễn đạt.
Nhưng hình thức khéo léo có nghệ thuật phải chứa đựng
chánh tư duy. Nịnh nọt, tán dương, tâng bốc sai sự thật,
hoặc chỉ làm tăng thêm ngã mạn của người, đều là tà
ngữ.
HẠT
GIỐNG CỦA CHÁNH NGỮ
Không
thể hiểu được chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ nếu
không biết rằng tất cả chúng ta đều có hạt giống của
những chánh đạo này trong tâm thức. Hạt giống của ngôn
ngữ căn cứ trên tưởng. Tưởng là tri giác.
Nhắc
lại, năm yếu tố tạo thành con người là Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành và Thức. Sắc là phần sinh lý. Thọ là cảm giác. Tưởng
là tri giác (perception). Tri giác gồm hai phần : năng tưởng
và sở tưởng. Một là chủ thể của tri giác, hai là đối
tượng của tri giác. Chúng ta thấy một cái bàn, cái bàn mà
chúng ta đang thấy và đang sờ vào là đối tượng của tri
giác, của tưởng. Còn tự thân cái bàn có thể rất khác.
Đối với một con mọt đang ăn cái bàn thì đó là một kho
thức ăn. Cùng một giòng sông, đối với con cá là nhà cửa,
lâu đài của nó mà đối với chúng ta đó là cái chỗ để
lấy nước tắm và giặt. Khi hai người ghét nhau, thì trước
hết họ ghét cái đối tượng tri giác, cái tưởng của họ
về người kia. Nhưng tự thân người kia so với ý niệm mình
có về người kia thường rất khác nhau. Hai kẻ yêu nhau cũng
vậy. Người được yêu khác với hình ảnh trong tri giác người
đang yêu. (Cưới về ba, bốn năm sau mới thấy được một
phần sự thật !). Vậy tri giác có thể rất sai lầm, rất
khác với cái sở duyên duyên đã giúp tạo ra đối tượng
của tri giác. Ví dụ như ta chụp ảnh cây bồ đề. Nhìn hình
ảnh ta thấy cây bồ đề, nhưng đó chỉ là hình ảnh cây
bồ đề thôi. Cây bồ đề thật ở ngoài không phải là cây
bồ đề in trên phim ảnh. Chánh kiến tùy thuộc vào tưởng.
Vì thế luôn luôn ta phải dùng chánh niệm, phải trở về
khám phá những thiếu sót, sai lầm của tưởng. Đó là phương
pháp duy nhất để cho cái thấy của ta bớt sai lầm, để
tăng thêm phần chánh kiến. Chánh kiến mạnh thì tư duy mới
vững vàng được.
Uẩn
thứ hai là hành (mental formations). Hành tức là những hiện
tượng tâm lý phát khởi trong ta. Vui, buồn, giận, ghen, thương,
ghét, đều là hành. Chữ Phạn là citasamskara. Giáo lý Duy Thức
của đạo Bụt Bắc Truyền nói tới 51 loại tâm hành. Năm
tâm hành phổ biến nhất là xúc, tác, ý, thọ, tưởng, tư,
trong đó có thọ và tưởng. Thọ và Tưởng là những tâm
hành rất quan trọng trong số năm tâm sở biến hành, nên được
tách ra liệt kê thành hai uẩn. Đạo Bụt Nam Truyền, hệ phái
Theravada cũng nói có 50 tâm hành.
Uẩn
thứ năm là thức (vijnana). Tất cả những cảm thọ và tri
giác của chúng ta đều có hạt giống chứa ở trong thức.
Thức ở đây phải hiểu là tâm địa, là đất tâm, tức
là mảnh vườn trong đó có sẵn tất cả những hạt giống
của tâm hành, gọi là chủng tử. Chúng ta có chủng tử của
tình thương, của sự ghét bỏ, chúng ta có hạt giống của
sự trung kiên, hạt giống của sự phản bội. Chúng ta có
đủ các loại hạt giống, tốt cũng như xấu. Thức ở đây
còn gọi là nhất thiết chủng thức. Nhất thiết chủng (sarva
bijaka) là tất cả các hạt giống. Phật giáo Nam Truyền, hệ
phái Đồng Diệp Bộ (Theravada, Tamrasatiyah), có nói về Hữu
phần thức (bhava anga citta). Đây là cái tương đương với
nhất thiết chủng thức. Còn Hữu Bộ thì gọi là căn bản
thức. Tất cả chứng ta đều có hạt giống của chánh kiến.
Có chánh kiến, không phải tại vì Bụt trao cho ta, thầy trao
cho ta, mà vì chúng ta có sẵn hạt giống chánh kiến trong tâm
rồi. Khi chúng ta nói «Phật tại tâm » là nghĩa như
vậy. Tuệ giác đó đã có sẵn ở trong tâm thức của ta.
Tuệ giác ấy chỉ cần người hay hoàn cảnh giúp khơi mở
ra mà thôi. Có thể đó là Bụt, là thầy, là bạn, có thể
là một nỗi đau khổ cùng cực của ta. Khi ta đau khổ nhiều
tự ta cũng có thể khơi mở được chánh kiến.
Ngày
Bụt thành đạo, Ngài ngồi thiền suốt đêm. Và buổi sáng
tinh sương, nhìn lên thấy ngôi sao mai mọc, Ngài đạt được
quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác (giác ngộ hoàn
toàn). Những lời đầu tiên mà Bụt thốt ra chứa đựng một
chút ngạc nhiên. Ngài nói : « Lạ quá, tất cả mọi người
đều có tuệ giác trong lòng. Vậy mà đời này sang đời khác,
con người cứ trôi lăn trong biển trầm luân, khổ ải. »
Câu nói của Ngài có nghĩa rằng tuệ giác Ngài đạt tới
không phải được từ bên ngoài mang vào mà đã từ trong chiều
sâu tâm thức phát hiện lên. Hạt giống của trí tuệ, hạt
giống của từ bi đều có sẵn trong tâm thức mỗi người.
Hạt
giống chánh kiến ở trong tâm thức ta gọi là giác tánh. Tất
cả chúng sanh đều có sẵn giác tánh, nên ta vẫn nói rằng
Bụt ở trong lòng. Phật tức tâm là một sự thật có thể
chứng nghiệm được, chứ không phải là lý thuyết. Vì nếu
không sẵn hạt giống giác tánh thì có tu, có học gì chúng
ta cũng sẽ không thành công. Tu học có nghĩa là tạo những
điều kiện tưới tẩm cho hạt giống tuệ giác nở ra. Khi
hạt giống của chánh kiến nẩy mầm rồi, tự nhiên tư duy
sẽ đi vào đường chánh. Càng thực tập chánh tư duy, chúng
ta lại càng giúp cho những hạt giống chánh kiến khác nẩy
nở thêm. Chánh kiến nuôi dưỡng chánh tư duy và chánh tư
duy khơi mở thêm chánh kiến. Rồi nhờ sự phát triển của
chánh kiến và chánh tư duy mà chánh ngữ biểu hiện. Bởi
vậy khi lời nói của chúng ta còn gây ra đau khổ thì ta phải
biết là cái thấy của chúng ta chưa sáng và tư duy của chúng
ta chưa đúng.
Ngôn
ngữ có hạt giống trong đất tâm. Những lời nói, kho ngữ
vựng, những hình thức diễn tả trong ngôn ngữ đều có hạt
giống ở đây cả. Tu tập chánh ngữ bắt đầu từ tâm, bắt
đầu từ tưởng, tức là tri giác. Tri giác sai lầm sẽ sinh
nhiều tà kiến. Tri giác càng đúng thì càng thêm chánh kiến.
Tri giác sai lầm, tư duy chúng ta sẽ sai lầm. Chúng ta thấy
mối liên hệ rất mật thiết giữa chánh ngữ, chánh kiến
và chánh tư duy. Cho nên nếu chúng ta muốn tu tập chánh ngữ
một cách thật vững chãi thì chúng ta phải dựa trên chánh
kiến và chánh tư duy.
Vì
vậy, các vị bồ tát sau khi tu tập chánh kiến và chánh tư
duy thì đạt tới biện tài. « Trí tuệ hoằng thâm đại biện
tài. » Biện tài ở đây không phải là nói khéo. Biện tài
chính là « nhất thiết ngữ ngôn tam muội », phát hiện khi
bồ tát có chánh kiến và chánh tư duy vững chãi. Biện tài
ở đây là khả năng nhiếp phục được người khác, khả
năng khai thông cho tâm ý, làm cho người ta bỏ con đường
mê tối mà hướng tới con đường sáng. Đôi khi chỉ cần
nói một hai câu mà có thể đưa người khác trở về với
con đường an lạc. Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài nghĩa
là nhờ trí huệ sâu rộng, nên bồ tát đã đạt tới biện
tài vô ngại để thuyết pháp độ sinh.
Sự
tu tập chánh ngữ phải căn cứ trên chánh kiến và chánh tư
duy. Những hạt giống của tri giác nằm sâu trong tâm thức,
những hạt giống của tư duy cũng nằm sâu trong tâm thức,
những hạt giống ngôn ngữ cũng vậy, ba loại hạt giống
đó có dính líu với nhau. Trong tương giao giữa mọi người,
chúng ta cần tập nhìn đúng, nghĩ đúng về người khác. Muốn
tập chánh ngữ, ta phải bắt đầu bằng sự quán chiếu về
người và về mình. Xung đột giữa vợ chồng, cha con hay bạn
bè có khi xảy ra chỉ vì lời nói. Tu tập chánh ngữ trở
thành một yếu tố rất quan trọng để gây niềm thông cảm.
BÀI
THỰC TẬP CHÁNH NGỮ
Ta
hãy lấy một ví dụ về thực tập chánh ngữ để giải toả
những nội kết gây xung đột giữa hai người bạn. Cũng có
thể áp dụng cho hai người thân yêu, như anh em, vợ chồng,v.v..
Có một người tên là A và có một người tên là B, liên
hệ giữa A và B không tốt đẹp. Mỗi khi A nói thì B khó chịu
và mỗi khi B nói thì A khó chịu. Có thể A có lòng tốt không
muốn làm khổ B, và B có lòng tốt không muốn làm khổ A,
nhưng hai người vẫn làm khổ nhau hoài. Có thể là A vụng
về trong khi nói hay B vụng về trong khi nói. Muốn giải quyết,
chúng ta không thể chỉ tuyên bố rằng cả hai bên đều có
lòng tốt cả, không sao. Nói như vậy không đủ. Chúng ta phải
quán chiếu sâu xa để thấy nguồn gốc từ nơi tưởng, nơi
tri giác của mỗi người.
Ở
làng Hồng các thiền sinh đã thực tập viết thư gửi Bụt.
Chúng ta thử bắt chước phương pháp đó trong trường hợp
này. Mời hai người cùng đại chúng vào ngồi trong một căn
phòng, hai người ngồi hai bàn khác nhau. Đưa cho A và B mỗi
người một tờ giấy trắng. A sẽ viết cho B một lá thư,
và B viết cho A một lá thư. Viết xong hai người trao thư cho
nhau. Mỗi người nhận rồi đem thư ra đốt, không cần đọc.
Trong đại chúng không ai biết trong thư nói gì cả.
Trước
khi thực tập, hai người được hướng dẫn riêng về
“mẫu viết thư”. Mục đích của lá thư là cho mỗi người
có dịp quán chiếu về tính tình, phản ứng và hành động
của mình và của người kia. Thí dụ lá thư của A viết như
sau:
Phần
1 – A biết tánh của B như thế này (...) Mấy dấu chấm trong
ngoặc này là nơi A quán chiếu về B. Nhìn vào người kia,
ta thấy tánh khí và tâm trạng của người đó, các thói quen,
tập khí của người đó, quá khứ thời thơ ấu lớn lên
trong gia đình, trong học đường như thế nào, v.v.. Như thế
gọi là quán chiếu.
Phần
2 – Cho nên mỗi khi B nói hay làm như vậy ( như vậy là làm
sao, phải nhớ rõ về các hành động của B đã gây đau khổ
cho mình), thì để tránh gây ra xích mích, A phải biết không
nên có những phản ứng như mình thường vẫn có ( kể rỏ
những phản ứng thường xẩy ra của chính mình).
Phần
3 – A cũng biết rằng tánh A như thế này (tự nói về mình)
và hay phản ứng như thế này (là phản ứng ra sao, tự mình
kể ra cho rõ), nên A đã khổ, A cũng đã làm cho B khổ và
không giúp gì được cho B.
Phần
4 - Vậy từ nay để phá vỡ vòng luẩn quẩn và tạo cơ hội
cho cả hai chuyển hoá, A sẽ thực tập những cách sau đây
(ghi những ý kiến về cách thực tập của mình). Tới đây
cần viết một câu quan trọng: “Sự chuyển hoá của A chắc
chắn thế nào cũng đưa tới sự chuyển hóa của B”. Câu
này nên lập đi lập lại hoài. Tại vì thường thường chúng
ta hay nghĩ: “ người kia không thay đổi tại sao mình tôi
phải thay đổi?’
Đây
chỉ mới là phần thực tập của A thôi, còn phần của B
là khác. Chúng ta hãy thử đọc lại và chiêm nghiệm thêm
về mẫu thư trên một lần nữa.
1-
A biết rằng tánh của B như thế này (. . . ) Mỗi người phải
nhìn vào người kia, dù đó là cha mình, thầy mình, anh, em
của mình. Ba dấu chấm trong ngoặc đơn đó quan trọng lắm.
Nên viết càng nhiều càng tốt. Mỗi người phải tìm hiểu
về người kia. Có thể là B sanh ra trong một gia đình mà bố
mẹ có tánh tình như thế, không khí gia đình như thế. Rồi
lớn lên học ở trường có ông thầy thế nào, và được
đào tạo theo mẫu mực, lề thói thế nào. Chìa khóa là ở
chỗ ta nhìn thấy như vậy. Phải thấy được, mà thấy rồi
thì chúng ta dễ chấp nhận nhau hơn. Mới chỉ quán chiếu
thôi, chưa đòi hỏi người kia phải thay đổi mà ta đã thấy
khoẻ hơn rồi. Lá thư không bắt đầu bằng những câu như
“ Nếu anh mà muốn em thương anh thì phải sửa cái tánh đó
đi.” Mình bắt đầu nghĩ lại là anh mình sở dĩ nói năng
như vậy (...), hành xử như vậy (...), có lề thói phản
ứng như vậy (...) là vì đã có quá trình sinh ra, lớn lên
và được đào tạo như vậy. Hiểu được rồi tự nhiên
ta cười xòa, không còn bực tức nữa. Phản ứng của ta thay
đổi. Mà ta thay đổi cách phản ứng của ta thì ta sẽ giúp
được anh của ta thay đổi.
2-
Cho nên mỗi khi Ba nói hay làm như vậy (...) thì A phải biết
không nên có những phản ứng như mình thường có (...) Phần
giữa hai ngoặc đơn này cũng rất quan trọng. Phải quán chiếu
rất lâu. Đoạn này liên hệ hành động của hai người: vì
B như thế đó (...) cho nên A nói hay làm như thế này (...).
Chỉ trong ba chấm đó thôi nhưng chúng ta phải thiền hành,
thiền tọa rất lâu để tĩnh tâm mà tìm cho ra rõ nguồn cơn,
“Lắng nghe thấu tận nguồn cơn, học nhìn lại hiểu và
thương.” Chìa khóa là quán chiếu. Cho nên mỗi khi B nói và
làm như vậy (...) thường thường A bực bội, chống lại,
không chịu nổi. Khi mà thấy được, hiểu được tại sao
rồi thì dù người kia vẫn còn nói, vẫn còn làm như cũ,
A vẫn có khả năng ngưng những phản ứng như trong quá khứ.
Sự chuyển hoá bắt đầu từ trong tâm mỗi người, chứ ta
không đòi hỏi người kia chuyển hoá trước thì ta mới chịu
thay đổi (peace begins with me).
3-
A cũng biết rằng tánh A như thế đó (...) Trong đoạn này
ta tự tìm hiểu để tự thấy mình. Ta được sinh ra ở một
hoàn cảnh khác, được lớn lên, dạy dỗ và đào tạo trong
hoàn cảnh khác. Ta rất khác B nên ta hay có phản ứng như
vậy. Do những phản ứng đó chính ta làm cho ta khổ và cũng
làm cho người kia khổ. Thấy được điều đó cho nên A mới
tìm và thử có phản ứng khác. Mình tự thay đổi mình trước,
biết rằng người kia sẽ thay đổi sau. Không có nghĩa là
mình phải chấp nhận người kia như vậy hoài. Hiểu và thương
tức là chấp nhận người kia và hy vọng với sự tu học,
với phản ứng mới của mình, người kia sẽ thay đổi. Điều
đó sẽ xảy ra. Người nào trong chúng ta cũng biết là khi
mình thay đổi thì người kia sớm muộn cũng sẽ thay đổi.
A cũng
biết rằng tính tính của mình như thế đó (...) – “ Như
thế đó “ là như thế nào? Phải nói ra, phải dám soi gương
để nhìn rõ tính khí của mình. Mình cũng có thể nhờ các
bạn thân của mình soi sáng cho mình, chỉ bảo cho mình. Mình
cũng có lúc nóng nảy, cũng có lúc vội vã, sai lầm. Và mình
hay phản ứng như thế này, cho nên mình đã khổ và làm cho
người kia khổ. Cho nên A quyết lòng tu tập để phá vỡ vòng
lẩn quẩn. Trong quá khứ, mỗi khi bên này nói một câu gì
là bên kia nổi điên ngay, vì thế bên này lại giận hơn nữa,
và nội kết của hai bên lôi cuốn lẫn nhau. Bẻ gãy cái vòng
lẩn quẩn đó là thoát khỏi một vòng luân hồi.
Như
thế chúng ta tạo cơ hội cho cả hai chuyển hoá. Và đây công
thức của sự tu tập trong một tăng thân: sự chuyển hoá
của người này sẽ đưa tới sự chuyển hoá của người
khác. Có một thiếu nữ đến tu tập ở Làng Hồng, sáu tháng
rồi trở về Hoa Kỳ. Tự nhiên cô cảm thấy có thể bắt
đầu nói chuyện được với một người mà từ năm, bảy
năm nay cô không thể nào nói chuyện được. Cô cảm thấy
một điều rất lạ. Trước kia cô không thể nói chuyện,
không muốn nhìn mặt người kia: thế mà, sau khi tu tập ở
Làng Hồng sáu tháng trở về, tự nhiên cô thấy mình có thể
nói chuyện được dễ dàng. Ngay trong lần gặp gỡ và chuyện
trò, cô đã thấy người kia thay đổi. Và sau đó gặp lại
nhau trong mấy tuần lễ liên tiếp thì sự thay đổi càng rõ
rệt. Tình thân ái lại nẩy nở, khi chia tay thì bịn rịn.
Sự thay đổi của hai người không xảy ra cùng một lúc, vì
đã chỉ có một người bắt đầu. Sự hoà giải nào cũng
vậy. Ta tự hoà giải trong tâm ta trước, không cần người
kia biết. Khi trong lòng mình có sự hoà giải rồi thì tâm
bình an của mình tỏa chiếu ra, người kia sẽ tiếp nhận
và đến lượt mình người kia sẽ được chuyển hoá.
Khi
hai bên thực tập viết thư và trao cho nhau xong, có thể phép
lạ sẽ xảy ra trong những ngày kế tiếp. Mỗi người đã
xét mình và đã quán chiếu để hiểu người kia. Mỗi người
tự phát nguyện là sẽ thay đổi, sẽ không làm, không nói
theo tập khí của những ngày trước. Nói và cư xử cách nào
để người kia có thể chấp nhận được, có thể hiểu được.
Sau khi quán chiếu, mình sẽ thấy nhiều điều lâu nay mình
tưởng là đúng, mà quả thực là sai. Có khi điều mình nói
là sự thật, nhưng cách mình nói ra vụng về và nóng nảy
cũng có thể tạo ra sự tan vỡ, vì người kia không tiếp
nhận được. Vì vậy ta phải học phương pháp thực tập
chánh ngữ. Vì chánh ngữ bao gồm chánh kiến, chánh tư duy,
nhưng cũng gồm cả nghệ thuật diễn tả. Cách ngôn Trung Hoa
có câu là một lời nói ra bốn con ngựa chạy theo cũng không
kịp (nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy). Phải tu tập ngay
từ chánh kiến và chánh tư duy mới có thể thành công được
về chánh ngữ.
Phương
pháp thực tập chánh ngữ này rất cụ thể, ai cũng có thể
thực hành ngay. Nếu thực tập cho đàng hoàng trong một vài
tuần, ta sẽ thấy kết quả. Tu tập là chúng ta tu tập trong
một tăng thân. Hạnh phúc của một người tùy thuộc vào
hạnh phúc của người khác. Đừng nghĩ người nào tu riêng
người đó, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc. Nghĩ như thế
là thất bại. Phải làm cho người khác có hạnh phúc thì
mình mới thật sự có hạnh phúc. Luôn luôn bắt đầu bằng
sự thay đổi trong tâm mình. Khi ngồi thiền, thay vì quán chiếu
về cây tùng trước sân hay là tiếng vỗ của một bàn tay,
chúng ta hãy quán chiếu về một đề tài thiết thực. Đó
là làm thế nào để thiết lập được chánh ngữ, chánh kiến
và chánh tư duy ngày hôm nay. Viết lên giấy trắng mực đen
có thể giúp cho sự tu học. Ngồi xuống, cây viết trên tay,
quán chiếu về tánh khí của người kia và của mình, do môi
trường, hoàn cảnh, tập quán nào gây ra. Thấy được rồi
ta mới hiểu tại sao ta hay phản ứng như thế này, mà người
kia hay nói hay làm như thế kia. Ta đi tới kết luận là từ
bây giờ ta muốn áp dụng phương cách mới trong cách nói và
cách làm. Ta nói và làm hai hoặc ba lần theo phương thức mới
thì người kia sẽ bắt đầu thấy và cũng tự chuyển hoá.
Nếu hai người cùng thực tập thì mỗi người đều làm như
vậy cả. Hai người sẽ trao đổi cho nhau tuệ giác của mình,
giúp nhau tu tập, và họ là anh em, chị em thực sự. Giữa
hai anh em, giữa vợ chồng, giữa cha con phương pháp này đều
có thể làm được, trong cách cư xử tương kính và thực
sự bình đẳng.
Trong
truyền thống đạo Bụt, tăng thân được tổ chức như một
gia đình. Vì vậy chúng ta thường gọi nhau là sư ông, sư
chú, sư bác, sư anh, sư chị, sư em. Khi sống chung, chúng ta
phải hòa hợp những cá tính lại thành một cọng tính. Không
người nào giống người nào, sở thích cũng khác nhau.
Những tính chất đa dạng đó đem lại những dáng sắc rất
đẹp cho cộng đồng. Tăng thân sống hòa hợp, nhường nhịn
nhau được cũng nhờ ở sự thực tập chánh ngữ.
HẠNH
LẮNG NGHE
Trong
giới thứ tư của năm giới, chúng ta học : « Biết rằng
lời nói có thể đem lại khổ đau hay là hạnh phúc cho nên
tôi thực tập chánh ngữ để có thể làm vơi bớt khổ đau
và mang lại hạnh phúc cho người. » Và một điều thực tập
cần thiết là hạnh lắng nghe. Cái nói liên hệ với cái nghe.
Nói mà không biết nghe tức là chưa có chánh ngữ. Muốn cho
lời nói của ta là chánh ngữ thì ta phải lắng nghe người
khác. Cho nên tập lắng nghe là một phần của sự thực tập
chánh ngữ. Điều này là một ý kiến mới bổ túc cho giới
thứ tư. Từ nay nói về chánh ngữ ta phải nói cả về chánh
thính (right listening). Trong kinh ta vẫn đọc : « Chúng con xin
học hạnh lắng nghe », tức là hạnh của bồ tát Quán Thế
Âm. Nếu không nghe, thì ta sẽ không hiểu và chánh ngữ sẽ
không vững vàng. Trong Kinh có danh từ đế thính : Nhữ đẳng
tỳ kheo đương đế thính, này các tỳ kheo, các thầy lắng
nghe tôi nói đây. Đế thính là lắng nghe cho kỹ. Chữ đế
này giống như trong tứ đế. Đế thính là nghe với tất cả
tấm lòng của mình, nghe với một tâm hồn lắng dịu, không
sôi động, không thành kiến. Đế thính là một nghệ thuật,
nếu tâm hồn còn xao động, còn đầy dẫy tư duy và thành
kiến, nếu chỉ dùng trí năng (intellect) của mình để nghe,
đó chưa phải là đế thính. Có một Kinh về Bát chánh đạo,
thay vì dùng từ chánh ngữ đã dùng từ đế ngữ và chánh
định thì gọi là đế định. Đế thính cần cho đế ngữ.
Vậy khi nghe, ta đừng nghe với thành kiến. Ta phải nghe bằng
cả trái tim của mình. Phải nghe bằng cái tâm trống không,
nghe như vậy mới có thể hiểu được. Nghệ thuật nghe là
không phải chỉ nghe bằng tai. Mắt theo dõi người nói, nét
mặt tự nhiên biến đổi theo những lời phát biểu, ta nghe
bằng toàn thể thân tâm ta. Nhiều khi chỉ cần lắng nghe thôi
ta đã giúp cho người bớt khổ rồi.
Có
những lúc ta chỉ nghe bằng tai, còn tâm ta không nghe, trong
tâm ta vẫn đang nói. Tuy không nói thành lời, nhưng ở trong
lòng ta tầm và tứ đầy ắp, không còn chỗ để ta nghe nữa.
Nghe một câu, trong lòng ta đã có phản ứng. Tuy không nói
ra nhưng trong tâm ta đã bắt đầu phê bình, lên án, bắt bẻ,v.v..
Như vậy không phải là đế thính. Nghe lời dạy của Bụt
ta phải đế thính, mà nghe lời của những người khổ đau
ta cũng phải đế thính. Nghe lời của bạn hay của thù cũng
phải đế thính. Trong tâm lý học Tây phương có phương pháp
nghe gọi là emphatic listening, tức là vừa nghe vừa đồng nhất
mình với người nói, không lên án, không chê bai, không có
thành kiến. Emphatic listening, dịch tiếng Việt là nghe thẩm
thấu, nghe và để lời nói thấm vào. Khi lắng nghe những
người khổ đau, như bác sĩ tâm lý trị liệu, thì ta phải
nghe với tất cả tâm hồn. Lắng nghe như vậy người nói
thấy rằng họ có thể nói sự thật và họ sẽ nói sự thật.
Muốn nghe như vậy trong lòng phải đạt một trình độ tĩnh
lặng, một mức độ từ bi. Người bác sĩ tâm lý trị liệu
phải có từ bi và tĩnh lặng, phải có tuệ giác ở trong lòng
thì phẩm chất của sự trị liệu mới cao. Cho nên người
bác sĩ tâm lý trị liệu nào cũng phải thực tập chánh kiến,
phải thực tập đế thính, phải thương yêu thì người nói
mới có can đảm nói những lời họ chưa bao giờ nói. Chỉ
ngồi nghe không thôi đã làm sứ giả của Như Lai rồi. Ở
Làng Hồng đại chúng có Hiệp Ước Sống Chung An Lạc, một
phương pháp rất mầu nhiệm. Thực tập Hiệp Ước Sống Chung
An Lạc phải quán chiếu, nhìn sâu sắc vào chính ta và người
khác, đó là phép thực tập căn bản. Không phải cứ họp
nhau, nói qua nói lại là có thể giải quyết các vấn đề.
Cần thực tập chánh ngữ, căn cứ trên sự thực tập chánh
kiến và chánh tư duy. Có chánh kiến và chánh tư duy thì tự
nhiên có tình thương. Khi tất cả mọi người đều nắm được
nghệ thuật đế thính và chánh ngữ, những lời nói ra đều
mang chất liệu của sự hiểu biết, của lòng tha thứ và
thương yêu. Danh từ đế thính (sravana) ta đọc thấy trong
Kinh Trường A Hàm, cũng có thể tìm thấy trong Thắng Thiên
Vương Bát Nhã Kinh. Sau này mổi khi nói đến chánh ngữ thì
chúng ta phải nói tới đế thính, tại vì nghe là một phần
quan trọng của nói. Nếu không biết nghe thì ta sẽ không biết
nói.
Một
vài điều ta cần nói thêm để kết luận về phần thế gian,
tức là phần tục đế, của chánh ngữ. Chúng ta biết, cũng
như khi thực tập chánh tư duy, muốn thực tập chánh ngữ
ta phải liên hệ với sự thực tập quán chiếu về tưởng
(perception). Thực tập Chánh ngữ, ta phải thấy sự liên hệ
với chánh niệm hoặc thất niệm. Nếu sống trong thất niệm
mãi thì chúng ta không có hy vọng tiến bộ trên con đường
thực tập chánh ngữ. Nói phải biết mình đang nói gì. Trước
khi nói ta biết ta sẽ nói gì, chứ đừng có để lời nói
chạy ra trước rồi mình chạy theo sau. Tu tập chánh niệm
giúp ta nắm được thân, tâm và ngôn ngữ của ta.
Thực
tập chánh ngữ phải quan tâm tới tập khí. Ta có những tập
khí, những thói quen, cho nên đôi khi lời nói ta chỉ là phản
ứng rất máy móc. Nghe một điều, ta tự nhiên có những phản
ứng tự động và bật nói ra. Đó là do tập khí. Chúng ta
phải nhận diện các tập khí, mỉm cười mỗi khi chúng xuất
hiện, và nói : « tập khí ơi, chào mi ! » Rồi thực tập
chánh ngữ, tình thương và bồ đề tâm. Cần quán chiếu,
cần thấy nỗi khổ của người, cần thấy hạt giống
của niềm vui nơi người, nhờ đó ta có thể tạo hạnh phúc
cho những người xung quanh ta. Ta có thể ban phát rất nhiều
hạnh phúc, chỉ cần nhờ thực tập chánh ngữ. Và cố nhiên
khi tạo nên hạnh phúc cho người thì chính ta không thể nào
không có hạnh phúc.