07
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ bảy
Hôm
nay là ngày 12 tháng 12 năm 1993, chúng ta ở Xóm Hạ và học
tiếp về tứ diệu đế. Lần trước ta đã học về chánh
kiến, hôm nay chúng ta sẽ học về chánh tư duy. Trong khi học
về chánh kiến, chúng ta đã thấy rằng trong quá trình tu học,
chánh kiến có thể là nhân và cũng có thể là quả. Bất
cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ, dù là vật lý, tâm
lý hay sinh lý, đều phải được nhìn thấy đồng thời là
nhân và là quả. Không có một hiện tượng nào chỉ đóng
vai trò nhân hay quả mà thôi. Theo lý duyên khởi, chúng ta biết
rằng tự tính của chúng ta là nhân mà cũng là quả.
Do
đó dù trong Kinh nói chánh kiến đứng hàng đầu, nhưng chúng
ta không nên hiểu chánh kiến là nguyên nhân đầu tiên từ
đó phát khởi ra các chánh đạo khác. Theo đạo lý duyên khởi
thì không có nguyên nhân đầu tiên, không có một cái gì thuần
túy là nhân hay là thuần túy là quả. Một nhân không bao giờ
đủ đưa tới quả mà phải có rất nhiều nhân để tạo
nên một quả. Mỗi hiện tượng đều do tất cả những hiện
tượng khác phối hợp và biểu hiện ra và mỗi vật có mặt
trong tất cả các vật khác.
BÁT
CHÁNH ĐẠO TƯƠNG SINH TƯƠNG TỨC
Vậy
chánh kiến không phải là nguyên nhân đầu tiên của các chánh
đạo. Tám sự hành trì chân chánh tương sinh tương tức, mỗi
phần đều là nhân và quả của các phần kia. Bảy sự hành
trì kia cũng là nguyên nhân đưa tới chánh kiến. Bát chánh
đạo còn được gọi bằng một từ khác là bát thánh đạo
phận. Bát Thánh Đạo Phận là tám thành phần của con đường
cao quí. Trong tiếng Phạn, thánh đạo phận là arya marga anga,
thánh đạo có tất cả tám chi phần. Thứ nhất là Chánh kiến
mà chúng ta đã bàn. Rồi tới Chánh tư duy (right thinking) là
sự tư duy đúng đắn. Chánh ngữ (right speech) là lời nói
có tác dụng chuyển hoá, tháo gỡ, đem lại hạnh phúc và
đánh tan mê lầm. Chánh nghiệp (right action) là hành động
không tạo khổ đau, đưa lại hạnh phúc. Chữ nghiệp ở đây
chỉ thân nghiệp, là hành động do thân thể ta làm. Còn khẩu
nghiệp thuộc về chánh ngữ và ý nghiệp thuộc về chánh
tư duy. Tiếp theo là Chánh mạng (right livelihood). Mạng tức
là phương tiện sinh sống. Chánh mạng là nghề nghiệp, là
phương cách sinh sống không gây đau khổ và mê lầm cho con
người, không tàn hại thiên nhiên. Chi phần thứ sáu là Chánh
tinh tấn (right energy). Tinh tấn là sự siêng năng. Thứ bảy
là Chánh niệm (right mindfulness) và sau cùng là Chánh định
(right concentration).
Về
sự phát triển của tuệ giác, giáo lý luôn luôn nói tới
niệm, định và huệ. Tu tập chánh niệm dẫn tới chánh định
và có chánh định thì đạt tới tuệ giác. Tại sao trong bát
chánh đạo không nói chánh tuệ mà lại nói chánh kiến? Suy
nghĩ về điều này giúp chúng ta phân biệt rõ hơn ý nghĩa
chữ chánh kiến trong phạm vi tục đế và phạm vị chân đế.
Đồng thời ta cũng thấy rõ hơn bảy chánh đạo khác góp
phần vào sự chuyển hóa chánh kiến từ phạm vi thế gian
sang phạm vi xuất thế gian như thế nào.
Chánh
kiến bắt đầu bằng những giáo lý, chưa phải là tuệ giác.
Hiểu biết về tứ diệu đế, về bát chánh đạo, về lý
nhân quả mới chỉ là những hiểu biết có tính cách lý thuyết
mà thôi. Nhờ có văn, tư và tu mà những ý niệm và ngôn từ
đó trở nên tuệ giác chân thật. Trong quá trình văn, tư,
tu chúng ta phải thực tập chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng,v.v..
mà nếu không thực hành bảy thánh đạo kia thì những lý
thuyết trong kinh sách không bao giờ biến thành tuệ giác cả,
mãi mãi chúng sẽ chỉ là một mớ ý niệm trong đầu, hoặc
để nói cho vui thôi. Những điều ta học hỏi bằng khái niệm
và ngôn từ có chứa chất những hạt giống của chánh kiến,
của tuệ giác; nhưng không có văn, tư, tu thì chúng chưa thể
trở thành tuệ giác được. Người học đạo bắt đầu tiếp
nhận những kiến thức, ngôn từ và khái niệm từ trong kinh
sách, từ thầy và từ các bạn tu. Sau đó người ấy phải
thực tập bát chánh đạo để biến cái vốn liếng nghèo
nàn đó thành tuệ giác đích thật, phát sinh từ nội tâm
của mình.
Bụt
nói tất cả chúng sinh đều có sẵn giác tánh, tức là hạt
giống của chánh kiến, của tuệ giác. Giác tánh đó bị che
lấp vì vô minh, buồn khổ và sầu hận, cho nên không phát
triển được. Được nghe pháp, được gần gũi bạn lành
và được học hỏi thì chánh kiến có cơ hội nẩy mầm và
nở hoa: hạt đậu năm xưa hé miệng cười. Cho nên chánh kiến
là nhân nhưng cũng là quả, và khi chánh kiến thành kết quả
đó chính là tuệ trong bộ ba niệm, định, tuệ (smrti, Samadhi,
prajna). Nhờ tu tập bảy chi phần khác của bát chánh đạo
nên tuệ nẩy nở. Sau đó, tuệ giác lại nuôi dưỡng tư duy,
ngôn ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh
niệm và chánh định.
Cho
nên chánh kiến tuy là mẹ của bảy chi phần khác, nhưng cũng
là con của bảy chi phần khác. Cũng như là lá cây. Có thể
nói thân cây, rễ cây, cành cây là mẹ, còn lá cây là con.
Nhưng lá cây cũng đóng vai trò mẹ. Vì lá cây có bổn phận
phải tiếp nhận thán khí, dùng ánh sáng mặt trời thực hiện
diệp lục hóa. Mỗi chiếc lá chính là một viện bào chế,
nhờ thế những khoáng chất ở trong đất đi lên. từ nhựa
nguyên biến thành nhựa luyện để nuôi cây. Thành ra tất
cả các chiếc lá tuy là con của cây nhưng cũng đều là mẹ
của cây. Giống như vậy, chánh kiến nuôi dưỡng chánh tư
duy, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, vân vân, nhưng đồng
thời cũng được chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
ngữ, v.v.. nuôi dưỡng. Chúng ta càng thấy rõ tính duyên khởi
có thể áp dụng trong bát thánh đạo phần.
Với
chánh kiến, chúng ta phân biệt thế nào là căn lành và căn
không lành; chúng ta hiểu bốn sự thật khổ, tập, diệt,
đạo,v.v.. Có chánh kiến thì tự nhiên tư duy sẽ đi đúng
đường, chúng ta suy nghĩ khỏi sai lầm. Có chánh kiến về
duyên sinh thì chúng ta biết rằng hạnh phúc của chúng ta tùy
thuộc vào hạnh phúc của người khác, như giữa anh chị em,
vợ chồng hay cha con. Thấy rồi, mỗi người sẽ không đi
tìm hạnh phúc cho riêng mình nữa. Vì khi cha khổ thì con không
thể nào hạnh phúc được, chồng khổ thì vợ không thể
nào có hạnh phúc được, anh khổ thì em không thể nào có
hạnh phúc được. Chánh tư duy là tư duy xem ta phải làm thế
nào để cho người kia có hạnh phúc thì lúc đó ta mới thực
sự có hạnh phúc. Người đi tìm hạnh phúc riêng rẽ là người
không có chánh kiến, vì chánh kiến là cái thấy của đạo
lý duyên khởi.
Nói
về chánh ngữ cũng vậy. Nếu chúng ta có chánh kiến thì tự
nhiên ngôn ngữ của chúng ta sẽ đi vào đường chánh. Chúng
ta sẽ không nói những điều gây hiềm khích và đổ vỡ.
Nếu thấy được tính khí của ta, những ưu, nhược điểm
của ta và của người khác, thì ta sẽ không nói ra những
câu tạo ra địa ngục giữa hai người. Trong tương giao xã
hội, thấy rõ được ưu điểm và nhược điểm của mình
và của người khác là có chánh kiến. Có chánh kiến thì
tư duy và ngôn ngữ sẽ chánh, sẽ không gây thêm đau khổ.
Điều đó cũng đúng với chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
CHÁNH
TƯ DUY VỀ VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ
Chánh
tư duy tiếng Phạn là samyak samkalpa, Kinh A Hàm dịch là chánh
trí, tiếng Pháp có thể dịch là conception correcte. Tư duy có
hai loại là tầm (vitarka) và tứ (vicara). Tầm là những ý
nghĩ đơn thuần. Còn tứ là suy đi nghĩ lại sâu xa hơn. Suy
nghĩ tới lui, quanh quẩn, không dừng được, như cái máy vô
tuyến truyền hình mở giờ này sang giờ khác không ai tắt,
không có mục đích nào cả, thì sự suy nghĩ đó không phải
là chánh tư duy. Chánh tư duy giúp cho ta nhìn thấy rõ, làm
phát sinh chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Còn tà tư
duy thì càng nghĩ càng gây đau khổ. Có chánh kiến, nhìn thấy
bốn sự thật, duyên khởi, vô thường và vô ngã thì tư duy
sẽ đi vào đường chánh. Tà tư duy phát sinh do cái nhìn không
đúng về sự vật, về bản thân và hoàn cảnh của mình và
của người. Chánh tư duy phát sinh căn cứ trên chánh kiến
và nuôi dưỡng chánh kiến, hai phần nuôi dưỡng lẫn nhau.
Chánh
tư duy là suy nghĩ dựa trên sự thật, không phải là tư duy
trên mây, không dính líu gì với thực tế. Sự thật hiện
rõ ra là nhờ chánh kiến, Nhiều người suy nghĩ và đi lạc
trong vòng luẩn quẩn của lý thuyết, nói thao thao bất tuyệt,
và với những cuốn sách dài tràng giang đại hải. Nếu không
có chánh kiến, họ vẫn chỉ nói chuyện trên mây. Chánh tư
duy căn cứ trên chánh kiến, trên tuệ giác, nhờ đó ta thấy
bản chất của sự vật là vô thường và vô ngã. Suy tư mà
ngược lại với nguyên tắc vô thường và vô ngã là tà tư
duy. Thí dụ nuôi con ta cứ nghĩ là đứa con nhỏ của mình
sẽ như vậy suốt đời là sai. Sự thật là lên 12 tuổi nó
đã khác, lên 14 tuổi nó đã có thể có những ý kiến ngược
với mình, lên 16 tuổi nó đã có thể tranh luận với mình
rồi.
Chánh
tư duy là phải thấy được bản chất của vô thường trong
con người của ta, của kẻ khác và của sự vật. Mọi người
bây giờ rất dễ thương nhưng một ngày kia có thể trở thành
dễ ghét và có thể trở thành kẻ thù. Mỗi chúng ta đều
có đủ loại hạt giống, có hạt giống của sự trung thành
mà cũng có hạt giống của sự phản bội. Bụt và các vị
bồ tát đều như vậy hết. Nhờ ta tu tập nên hạt giống
của sự phản bội không có môi trường phát triển. Khi một
người phản bội ta thì chính ta cũng tưới tẩm những hạt
giống phản bội nơi họ từ ngày này sang ngày khác. Có người
nói “Thôi đi tu cho xong!” nhưng nếu hạt giống xuất gia
trong người ấy không đủ lớn thì chắc người ấy không
đi được tới quyết định. Tuy vậy hạt giống không xuất
gia, hạt giống muốn lập gia đình nó vẫn còn trong con người
đã xuất gia. Nếu sống với thầy với bạn mà vẫn thấy
khổ thì tự nhiên hạt giống không xuất gia, nghĩa là niềm
ước muốn lập gia đình, có vợ, có con, hạt giống đó sẽ
lớn lên. Trong đời sống xuất gia nếu ta có hạnh phúc, nếu
ta tự thấy mình có chuyển hóa và đã giúp ích được nhiều
người, thì cái hạt giống không xuất gia kia, có thể lâu
lâu phát hiện một lần trong giấc mơ nhưng không bao giờ
lớn lên được cả. Người tại gia cũng vậy. Người đã
quyết định thành lập gia đình cũng có cái hạt giống xuất
gia ở trong tâm. Đôi khi cũng nằm mơ thấy mình đi tư, và
nếu trong cuộc sống lứa đôi gặp nhiều khổ đau, thì lại
cảm thấy tiếc ngày xưa mình đã không đi tu.
Trong
ta, tàng thức chôn nhiều hạt giống, có khi những hạt giống
ấy chống đối với nhau. Nhìn sâu, ta thấy tâm ta là mảnh
đất chứa đựng tất cả mọi hạt giống. Người bạn hôn
phối của bạn cũng mang sẵn đủ loại hạt giống như vậy.
Người sư anh, người sư chị và người sư em của ta cũng
vậy. Tất cả đều có những hạt giống trái ngược nhau
ở bên trong. Nếu ta biết tưới tẩm, biết giúp đỡ thì
các hạt giống tốt sẽ phát triển, hạt giống tiêu cực
sẽ càng yếu, càng nhỏ, dù không bao giờ biến mất. Vì vậy,
tâm thức gọi là nhất thiết chủng thức (sarvabijaka), nghĩa
là “tất cả các loại hạt giống”.
Chúng
ta phải tập nhìn mình, nhìn người và nhìn xã hội chung quanh
cho rõ. Mỗi ngày cái thấy của ta phải sáng thêm, phải mạnh
thêm, đó là tuệ giác. Nếu cái thấy không sáng thêm, không
mạnh thêm thì sự tu hành của ta chưa có kết quả. Tình trạng
tuệ giác còn ốm yếu được kinh gọi là liệt tuệ. Tuệ
giác ốm yếu thì không thể giúp nuôi dưỡng bảy chi phần
khác của bát chánh đạo.
Một
em bé 12 tuổi về Làng Hồng, đã hỏi một câu làm cho Sư
ông thương quá. Em hỏi: “Bạch sư ông, một người mình
thương hôm nay, làm sao mình có thể biết trước rằng ngày
mai mình còn thương nữa hay không?”
Người
mình thương hôm nay, ngày mai mình có thể ghét, đó là một
sự thật mà em bé này đã chứng kiến. Ba mẹ nó ngày xưa
khi quyết định lấy nhau, đã bị cả hai gia đình chống đối.
Ba đã tranh đấu, đã thách đố cả gia đình và cả xã hội
để cưới được mẹ. Vậy mà bây giờ hai người coi nhau
như thù nghịch. Ba và mẹ đang thù ghét nhau nên bé rất đau
khổ. “Bạch Sư ông, làm sao mình biết cái người mình thương
hôm nay, ngày mai mình vẫn còn thương?” Làm sao chúng ta biết
được! Vì lòng của chúng ta cũng vô thường. Nơi tâm người
kia có những hạt giống khác nhau, nơi tâm ta cũng có những
hạt giống khác nhau. Cái thấy về vô thường cho ta biết
rằng ta phải cẩn thận trong đời sống hàng ngày. Nếu không
biết vun bón những hạt giống tích cực mà cứ hàng ngày
tưới tẩm những hạt giống tiêu cực nơi mình và nơi người,
thì tự nhiên người mình thương hôm nay, ngày mai có thể
mình sẽ ghét; cái người hôm nay thương mình sẽ có thể
ghét mình ngày mai. Đó là chánh kiến dẫn ta tới chánh tư
duy. Nếu tư duy không căn cứ trên tuệ giác về vô thường
thì đó là tà tư duy.
Vô
ngã là một nhận thức căn bản khác của chánh tư duy. Nếu
tư duy của chúng ta không căn cứ trên nguyên tắc vô ngã thì
vẫn là tà tư duy. Vô ngã có nghĩa là mỗi hiện tượng tùy
thuộc nhiều hiện tượng khác, không một hiện tượng nào
có một tự thể riêng biệt và độc lập với tất cả những
hiện tượng khác. Các hiện tượng đều do nhân duyên mà
sinh khởi.
TƯ
DUY Ở TRÌNH ĐỘ XUẤT THẾ GIAN
Trong
Kinh có nói đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
Trong trình độ thiền thứ nhất có tư duy, có tầm (vitarka)
và tứ (vicara) nghĩa là còn có những ý nghĩ. Nhưng vào thiền
bậc thứ hai, đệ nhị thiền, thì không còn tầm và tứ nữa.
Càng tiếp xúc trực tiếp với thực tại thì càng thoát khỏi
ý niệm và ngôn ngữ. Ý niệm và ngôn từ tuy được sử dụng
để chỉ bày sự vật, nhưng cũng có thể làm cho ta xa cách
thực tại. Vượt khỏi hàng rào của ý niệm và ngôn từ
ta mới tiếp xúc sâu sắc được với sự thật. Như khi nói
đến người Mỹ, người Pháp, nhiều người có sẵn những
hình ảnh, ý tưởng, tình cảm vốn có về người Mỹ, người
Pháp. Đến khi gặp một người Mỹ hay một người Pháp, nếu
chúng ta vẫn giữ nguyên các ý niệm cũ, như những định
kiến, để nhìn họ thì chúng ta không thể thấy và tiếp
xúc được với con người thật trước mắt mình. Như vậy
ý niệm và ngôn từ ban đầu có thể giúp ta biết có các
sự vật, nhưng sau đó có thể trở thành chướng ngại vật
ngăn không cho ta tiếp xúc với bản thân của thực tại. Cho
nên trong quá trình tu tập ta phải dần dần học tiếp xúc
với thực tại một các trực tiếp không qua trung gian ngôn
từ và ý niệm.
Tư
duy phải dùng đến ý niệm và ngôn từ. Nhưng trong quá trình
văn, tư, tu, chúng ta phải tập vượt ý niệm về ngôn từ
để đi vào bản chất của sự vật. Ban đầu của sự học
hỏi thì tứ đế, bát chánh đạo, vô thường, vô ngã, thiện
căn, ác căn, đều là những ý niệm và ngôn từ. Và khi đã
bắt đầu thấy được bản chất của tứ đế, của bát
chánh đạo, của vô thường, vô ngã thì ta không cần đến
những danh từ và ý niệm ấy nữa. Như thế gọi là thực
chứng (direct experience). Trong phái Tào Động có câu châm ngôn
về ngồi thiền: tư lương cá bất tư lương để, bất tư
lương để như hà tư lương. Phi tư lương thị thiền chi yếu
giả. Viết là tư lượng, đọc là tư lương. Tư là tư duy,
lượng là đo lường, so sánh. Tư lương cá bất tư lương
để là suy tư và đo lường cái không thể suy tư và đo lường,
tư duy về cái không thể tư duy được. Bất tư lương để
như hà tư lương là cái không thể suy tư thì làm sao mà suy
tư được. Cho nên, phi tư lương thị thiền chi yếu giả:
không suy tư, đó là yếu chỉ của thiền.
Người
ta thường hay hỏi khi ngồi thiền ông suy nghĩ về cái gì?
Ngồi thiền cốt yếu là không suy nghĩ gì cả. Lúc ban đầu
trong sơ thiền thì còn suy nghĩ, còn dùng khái niệm và ngôn
từ. Sau đó, phải vượt khái niệm và ngôn từ.
Khi
ta thực sự sống với một người hay trong một hoàn cảnh
nào thì dần dần những ý niệm và ngôn từ sẵn có về hoàn
cảnh và về người đó tự nhiên rơi rụng. Từ đó có thể
kết luận rằng khi ta đã bước sang lãnh vực chân đế, xuất
thế gian, thì tất cả mọi tư duy đều là tà tư duy. All thinkings
are wrong thinkings.
Khi
học về chánh kiến, chúng ta cũng đi từ lãnh vực của thế
gian sang lãnh vực xuất thế gian. Lãnh vực thế gian là thấy
có chánh kiến, có tà kiến. Khi đi sang lãnh vực xuất thế
gian tất cả các kiến đều là tà kiến. All view are wrong views.
Chánh tư duy cũng vậy, ban đầu thì ta phân biệt có chánh
tư duy và tà tư duy. Nhưng sau quá trình văn tư tu, ta an trú
trong thực tại nhiệm mầu của pháp thân. Lúc đó không thể
nào diễn tả thực tại bằng ngôn từ và ý niệm nữa. Gọi
là tâm hành xứ diệt. Tâm hành xứ tức là cái chỗ đi về
của tâm ý. Nẻo về của mọi tâm hành không còn. Cái gọi
là chánh tư duy cũng không còn diễn tả được sự thật,
nó chẳng qua chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Chánh kiến và
bất cứ một chi phần nào của Bát chánh đạo cũng đều
có hai mặt thế gian và xuất thế gian như vậy. Cho nên Bụt
nói giáo pháp ta như biển, có những bải biển thoai thoải
giúp ta đi từ từ xuống nước, chứ không bắt buộc ta phải
đi ngay vào chỗ quá sâu.
Học
về vô thường, vô ngã, lúc đầu chúng ta chỉ có khái niệm
và danh từ vô thường và vô ngã. Chúng ta có thể nói về
vô thường, vô ngã suốt đời mà giáo lý vô thường vô ngã
không ảnh hưởng chút nào tới đời sống hàng ngày của
chúng ta. Đó là những chiếc xe vận tải trống rỗng. Trái
lại, nếu chiếc xe có chuyên chở vât liệu xây cất, thì
khi xe rút lui chúng ta vẫn còn vật liệu. Và chúng ta không
còn bị kẹt vào những chiếc xe hình thức của ý niệm và
ngôn từ.
Bụt
có dạy các phép quán về bất tịnh và khổ. Bất tịnh nghĩa
là không sạch sẽ: tuy bề ngoài ta thấy sạch sẽ và đẹp
đẽ nhưng bên trong thì không. Cảnh thiên nhiên bên ngoài có
thể rất đẹp nhưng bên trong lại không. Cảnh đồng quê
thái bình tươi tốt, chim én lượng bay, thấy rất đẹp nhưng
bên trong có thể là chất phân hóa học đang giết bao nhiêu
côn trùng. Những con chim đang liệng bay kiếm sâu để ăn,
và những con sâu đang run sợ. Ta đừng để cái bề ngoài
đánh lừa. Những con người trông rất trong trắng, nhưng bên
trong thân tâm có những yếu tố bất tịnh. Khi khám phá ra
được thì có thể trễ mất rồi. Phải thấy được các
yếu tố bất tịnh bên trong chính bản thân mình, trong người
khác và trong vạn vật chung quanh. Địa ngục có thể xuất
hiện bất cứ lúc nào. Đó là phép quán bất tịnh. Trong đạo
Phật có phương pháp quán cửu tưởng, tức là quán sát về
thân thể con người để thấy được những sự thật về
tính chất bất tịnh. Đó là một cách đối trị tham dục.
Quán
khổ là để đối trị với ảo tưởng về vui. Nhìn một
cá nhân, một gia đình chúng ta có thể thấy qua bề ngoài
hình như có sự hòa thuận và vui vẻ nhưng bên trong có thể
chứa chất nhiều khổ đau. Bề ngoài ta thấy một gia đình
đầm ấm và tươi vui, nhưng bên trong có thể là oán giận,
ghen ghét và mọi người phải chịu đựng lẫn nhau như trong
một địa ngục. Bụt dạy quán khổ để ta xoá ảo tưởng
về những niềm vui giả tạo. Sau này các thầy nêu ra hai đề
tài quán chiếu, khổ và bất tịnh để chép chung với các
phép quán vô thường và vô ngã. Quán chiếu để thấy bốn
tà kiến gọi là bốn điên đảo (viparyasa). Đó là: sự vật
vô thường mà nói là thường, sự vật khổ mà nói là lạc,
sự vật vô ngã mà nói là hữu ngã, sự vật bất tịnh mà
nói là tịnh. Điên đảo tức là ngược lại, tiếng Anh là
up side down, quay ngược đầu xuống đất. Tâm Kinh Bát Nhã
nói viễn ly điên đảo mộng tưởng tức là xa lìa những
cái thấy điên đảo do tri giác sai lầm sinh ra.
Bụt
đã cho bốn bài học: vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh
để ta thoát khỏi những ý niệm và danh từ về thường,
lạc, ngã và tịnh. Nhưng có người chỉ nắm bắt được
danh từ và ý niệm thôi. Họ bị kẹt cứng trong các danh từ
và ý niệm vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh ấy. Họ
chỉ than đời vô thường quá, đời vô ngã quá, đời khổ
quá, đời bất tịnh quá và âm thầm kết luận: thôi thì
chết đi, hay bỏ cõi đời này tìm sang một cõi khác cho rồi.
Đây là mối lầm rất quan trọng, làm họ không tiến thêm
một bước nào trên đường tu học.
Trong
bài “đệ tử chúng con từ vô thỉ” có câu: “Cùng tăng
thân xin nguyện ở lại cõi đời này làm việc độ sinh”,
ý nói ta không cần phải lìa bỏ cuộc đời này để đi tìm
một cõi khác. Muốn giải thoát khỏi bốn cái điên đảo,
tìm tới bốn chánh kiến, nhưng nếu không khéo thì người
ta có thể lại kẹt vào những ý niệm vô thường, vô ngã,
khổ và bất tịnh. Như một kẻ bị bệnh được người ta
cho thuốc, rồi lại bị bệnh ghiền thuốc. Đạo Phật Đại
Thừa gọi những người này bị bệnh giáo pháp (dharma sickness).
Ban đầu bị bệnh khổ đau, bây giờ bị bệnh thêm vì giáo
pháp. Trong giới Phật tử, những người bị bệnh đắm vào
các ý niệm vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh rất đông.
Tuy họ nói hoài về vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh,
nhưng những giáo lý đó không ích lợi gì cho họ trong đời
sống hàng ngày cả. Những chiếc xe vận tải đó không chuyên
chở được vật liệu nào cả, chỉ là những chiếc xe không.
Đó là những hạt thóc lép không bao giờ mọc ra được lúa
gạo. Đạo Bụt Đại Thừa nói niết bàn là thường, lạc,
ngã, tịnh. Lấy ngay tứ điên đảo để làm bốn đức của
Niết bàn. Chúng ta nghe mà giật mình. Có người sẽ được
chữa lành bởi cái phương thuốc đó, và cũng có người sẽ
đau nặng thêm vì bốn phương thuốc đó không tiêu.
Thành
ra khi chúng ta đi vào bình diện bản môn thì tất cả các
kiến đều không còn, dù là chánh kiến. Tất cả mọi tư
duy đều nên bỏ hết, dù là chánh tư duy. (All views are wrong
views, all thinkings are wrong thinkings). Phi tư duy thị thiền chi
yếu giả, sự vắng mặt của tư duy là tinh yếu của thiền.
Cho nên chúng ta biết rằng khi nghĩ về những điều xấu và
ác như sát, đạo, dâm, vọng là tà tư duy đã đành rồi;
nhưng nếu chúng ta nghĩ tới tứ đế, vô thường, vô ngã,
bất tịnh, khổ mà bị vướng vào ý niệm và ngôn từ thì
đó cũng là tà tư duy. Chứ không phải cứ đang nói về Phật
pháp là chánh tư duy. Tư duy Phật pháp mà tư duy theo kiểu
bị vướng mắc vào danh từ và ý niệm cũng là tà tư duy.
Nói chuyện về quán rượu, song bạc và sắc dục, cố nhiên
là tà tư duy; nhưng nếu chúng ta nói trong chánh niệm. trong
ý hướng muốn chuyển hoá người nghe, để giúp họ ra khỏi
những hầm hố và địa ngục ấy thì chúng ta đang thực
tập chánh tư duy và chánh ngữ. Và khi đã chuyển sang bình
diện xuất thế gian thì không còn sự phân biệt, tất cả
tư duy đều là tà tư duy.
Trong
việc tu tập, uống trà hay đi thiền hành thì chúng ta chỉ
uống trà và chỉ đi thiền hành mà thôi. Nếu chúng ta còn
tư duy về trà, tư duy về thiền hành, đó cũng vẫn là tà
tư duy. Trong khi đi thiền hành ta chỉ đi thiền hành thôi;
nếu suy nghĩ, dù là suy nghĩ về thiền hành, là hỏng. Trong
khi uống trà ta chỉ uống trà; nếu trong khi uống trà còn
suy nghĩ, so sánh, suy tư về trà, có những ý niệm này, ý
niệm khác về trà, thì đâu còn là uống trà nữa?
Trong
đời sống hàng ngày, trí óc ta luôn luôn suy nghĩ, nghĩ cái
này rồi nghĩ cái khác. Khi sự suy nghĩ đưa chúng ta tới đau
buồn, sợ hãi, lo lắng, chúng ta biết đó là tà tư duy và
chúng ta phải ngưng lại. Muốn ngưng tập khí suy nghĩ ấy
lại, ta phải thực tập chánh kiến. Chánh tư duy đưa tới
an vui, đưa tới quyết tâm muốn tạo hạnh phúc cho mình và
cho người khác. Trong Kinh Thánh Đạo và Tạp A Hàm kinh thứ
785, chúng ta thấy rõ ràng chánh kiến, chánh tư duy và chánh
niệm phối hợp lại thành một bộ ba rất quan trọng, nhất
là trong sự thực tập hàng ngày.
Để
có một phương pháp tu tập về chánh tư duy, tôi đề nghị
bốn mệnh đề này, quí vị có thể tự đặt cho mình như
những câu hỏi, áp dụng vào thực tế.
Mệnh
đề thứ nhất: Có chắc như vậy không? Câu hỏi này thuộc
phạm vi tư duy và tưởng (thinking and perception). Tư duy liên
hệ tới tưởng. Tưởng tức là cái nhận thức (perception)
hay tri giác của mình. Một sợi dây mà ta tưởng là con rắn,
đó là một nhận thức sai lầm, wrong perception. Một người
không có ý nói điều đó mà mình tưởng rằng người ấy
muốn nói điều đó, một điều giả định mà mình tưởng
là sự thật: đó gọi là vọng tưởng. Càng nhiều vọng tưởng
thì càng nhiều tà tư duy. Cho nên đừng vọng tưởng về mình,
về người, về hoàn cảnh xung quanh. Và muốn như vậy thì
phải có chánh niệm. Tự hỏi: có chắc như vậy không? Có
chắc cái tri giác mà mình tiếp nhận đó là đúng hay không?
Trong một khóa tu nọ, tôi đề nghị mỗi người viết câu
hỏi Are you sure? dán trong phòng mình. Chúng ta có rất nhiều
nhận thức sai lầm trong đời sống hàng ngày. Những sai lầm
đó tạo địa ngục cho chúng ta và những người sống chung
với chúng ta. Vì vậy muốn chánh tư duy phải biết quán chiếu
và kiểm chứng xem những tri giác của ta có đúng hay không.
Mệnh
đề thứ hai mà ta nên luôn luôn tự hỏi mình là: Ta đang
đi về đâu? Đây là vấn đề liên quan đến tư duy và thất
niệm. Tư duy thường lôi ta đi khắp nơi. Nó xỏ mũi mình
và kéo mình đi như trẻ mục đồng kéo con trâu đi theo. Nó
mang chúng ta xuống địa ngục, chúng ta theo xuống địa ngục.
Vì vậy cần phải thực tập chánh niệm. Ta đang đi về đâu?
Khi biết mình đang để cho thất niệm hoành hoành, để cho
tà tư duy kéo mình đi vào địa ngục, ta nói: tôi biết tôi
đang đi vào địa ngục, và tự nhiên ta ngưng lại. Tôi biết
tư duy của tôi đang đưa tôi xuống địa ngục và tôi quyết
định không đi theo nữa.
Mệnh
đề thứ ba có liên quan đến tư duy và tập khí. Tập khí
là những thói quen ta có, từ hồi ấu thơ, có thể đã do
các thế hệ ông bà truyền lại. Khi nhận ra một tập khí
của mình ta hãy chào một câu: “À! bạn cố tri đó hả?”
Một thói quen mà chúng ta thường nghĩ là hay nhưng có thể
là dở. Ví dụ như cái thói hay làm. Hễ hở tay ra một cái
thì kiếm việc ra để làm, nếu không làm thì không chịu
nổi. Căn nguyên sâu xa là vì từ đời này sang đời khác
dân ta vốn rất nghèo đói. Cho nên ông bà tổ tiên nhà mình
khi nào có chút thì giờ rảnh là phải làm một cái gì, để
giúp gia đình có thêm cơm ăn áo mặc. Đó là một đức tính
tốt. Vì thương gia đình, thương cha mẹ cho nên mình chịu
khó làm như vậy. Nhưng thói quen đó có thể trở thành một
tập khí xấu có thể làm cho mình không còn cơ hội để sống
đích thực nữa. Rất nhiều người trong xã hội của chúng
ta bị cái bệnh gọi là ghiền công việc (workaholism), tức
là không làm gì đó thì chịu không nổi. Họ không có thì
giờ để ngắm nhình trời xanh, mây trắng, không có thì giờ
để đi từng bước thảnh thơi. Sự sống phải có những
giây phút thản nhiên, nhàn hạ để có thể được ngắm hoa
đào nở, để có thể nhìn mặt trăng lên, để có thể uống
một chén trà trong thanh tịnh. Cho nên ta phải quán chiếu tập
khí này. Mỗi khi nhận ra mình đang hớt hải nhìn đâu cũng
thấy việc chưa làm, việc muốn làm, lo lắng bồn chồn vì
công kia việc nọ, chúng ta biết cái tập khí, cái thói quen
cũ đang chiếm cứ tâm mình. Và ta cất tiếng chào: “Kìa,
bạn tôi đã trở lại!” Nếu biết tập khí đó ta đã tiếp
nhận từ mẹ ta, thì ta sẽ chào :“ Mẹ ơi, con đã nhận
ra mẹ rồi!”
Những
tập khí trong cuộc sống với người chung quanh càng đòi hỏi
ta giữ chánh niệm hơn nữa. Một người mà nói ra câu gì
là ta phản ứng lại ngay lập tức. Tập khí tạo ra một phản
ứng máy móc không kịp suy nghĩ. Một trăm lần ta phản ứng
giống hệt cả trăm, như một phản ứng hóa học. Một người
hễ nói xong câu này thì thế nào người kia cũng điên đầu
nổi giận. Một trăm lần nói là một trăm lần giận. Cho
nên người sống chung với ta phải biết về tập khí của
ta và ta cũng phải tự biết về tập khí của chính ta. Nhờ
vậy, tga có thể tránh được rất nhiều phiền não và khổ
đau. Biết như vậy tức là thực tập chánh niệm. Mà biết
như vậy không phải là tự ghét mình, giận mình, phạt mình.
Ta không cần phải có mặc cảm tự ti, vì người nào cũng
có tập khí cả. Có những tập khí do nhiều đời ông bà
truyền lại. Cách tu tập của ta là không tự trách, không
phải tự đày đọa vì các tập khí đó. Cách thực tập là
phải mỉm cười với tập khí, mỗi khi thấy nó ló đầu
ra thì ta mỉm cười nói: “Chào anh! Tôi biết anh rồi! Hello,
I know you are there.” Đó là phương pháp hay nhất. Và khi ta
nhận diện được tập khí của ta thì ta sẽ làm chủ tình
hình và tập khí đó sẽ từ từ chuyển hoá. Trong lúc đó,
ta tập thêm những tập khí mới, luyện nên những tập khí
tốt. Ví dụ thiền hành. Nếu ta đi thiền hành cho đều và
thấy an lạc trong khi đi thiền hành, thì thiền hành cũng trở
nên một tập khí. Mỗi ngày nếu không đi thiền hành thì
ta thấy thiếu thốn. Những người tập yoga cũng vậy. Có
những ngày không tập yoga họ thấy giống như họ chưa được
ăn cơm. Đó cũng là một tập khí tốt.
Và
cuối cùng, để chánh tư duy được phát triển với bồ đề
tâm, ta sẽ nhớ tự hỏi: “Ta làm gì, ta nói gì để thể
hiện Bồ Đề Tâm?” Bồ đề tâm tức là một ý chí, một
ước muốn rất thâm sâu trong tâm thức của ta. Bồ đề tâm
tức là ao ước được giác ngộ, được hiểu biết, được
có chánh kiến để có thể tạo hạnh phúc cho nhiều người,
cho nhiều loài. Động lực khiến một người đi tu là bồ
đề tâm. Nếu có bồ đề tâm rồi, thì ngày đêm ta tâm niệm
làm thế nào để có thêm tuệ giác, thêm chánh kiến, thêm
năng lượng để tự tu, tự độ và giúp cho người khác vượt
thoát khổ đau. Bồ đề tâm trở thành một vùng năng lượng
rất lớn. Chính nó đẩy tư duy của ta đi tới mục đích.
Tự hỏi: “Ta làm gì, ta nói gì, ta suy nghĩ gì để ước
mơ thành tựu ?” Nuôi dưỡng bồ đề tâm trong đời sống
hàng ngày bằng chánh niệm thì tư duy của ta sẽ đi về hướng
chánh. Tư duy sẽ không bị lôi kéo vào những đề tài vẩn
vơ không bổ ích. Năng lượng của tâm bồ đề sẽ đưa ta
tới chánh tư duy một cách rất nhẹ nhàng.
Quý
vị cứ theo bốn tiêu chuẩn trên đây thực tập; sẽ đạt
nhiều tiến bộ về chánh tư duy.