05
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ năm
Hôm
nay là ngày mùng 5 tháng 12 năm 1993. Chúng ta ở tại Xóm Hạ
và học tiếp về tứ diệu đế. Hôm nay vì đã đi đến phần
Đạo đế, nên chúng ta sẽ học về Bát Chính Đạo.
Đạo
tức là con đường (marga là con đường), con đường chuyển
hóa, con đường đưa tới giải thóat và an lạc. Muốn tìm
con đường giải thoát, con đường chuyển hóa, ta phải tìm
ở đâu? Nhiều người đã trả lời và có những câu trả
lời rất mạnh mẽ. Một vị thiền sư Việt Nam, trong khi thuyết
pháp đã nói: “Mục đích quan trọng nhất của người xuất
gia là vượt thoát sinh tử.” Một vị đệ tử mới hỏi:
“Bạch thầy, tìm sự vượt thoát sinh tử ở đâu?’ Vị
thiền sư trả lời :”Tìm ngay ở trong sinh tử.” Thiền sư
đó tên là Thiện Hội, và thiền sinh ấy tên là Vân Phong,
sống ở thế kỷ thứ mười.
Tìm
cái không sinh tử ở ngay trong sinh tử. Đạo không tách rời
khỏi cuộc sống hiện thực của chúng ta, trong đó có những
khổ đau mà chúng ta đã và đang trải qua. Đạo không phải
tự trên trời rơi xuống đất. Đạo tức là con đường tìm
ra ngay trong hoàn cảnh đau khổ. Nếu không có hoàn cảnh đau
khổ của chúng ta thì không có đạo. Cho nên đạo đế được
làm bằng khổ đế. Điều này cho thấy, một lần nữa, nguyên
tắc duyên khởi và bất nhị của đạo Bụt. Nếu không nhìn
vào cuộc đời thực tại với những đau khổ, với những
vấn đề của nó, thì ta không thể tìm ra đạo. Tìm đạo
ngay trong khổ và trong tập.
Cho
nên khi nói về bát chánh đạo chúng ta phải nhớ rằng đạo
là phương pháp hành trì liên hệ mật thiết đến những khổ
đau có thực của chúng ta. Trong giới Tiếp hiện có một giới
nói về chuyện cần thiết tiếp xúc với đau khổ, không được
trốn tránh đau khổ, phải trực diện với đau khổ. Cũng
như hoa sen không có thể mọc trên đá mà phải mọc trong bùn,
đạo giải thoát phát sinh từ vũng lầy của đau khổ. Không
những đạo đế liên hệ với khổ đế mà còn liên hệ mật
thiết với tập đế và diệt đế.
CHÁNH
KIẾN
Bụt
nói tới con đường giải thoát như là con đường của tám
sự hành trì chân chính, gọi là bát chánh đạo. Sự hành
trì chân chính đầu tiên là chánh kiến.
Kiến
là cái nhìn, cái thấy. Chánh kiến là cái thấy, cái nhận
thức xác thật. Chữ chánh trong tiếng Hán Việt có nghĩa là
thẳng, còn khi nghiêng ta gọi là tà. Chánh kiến có thể dịch
là right understanding hay right view (samyak drsti). Chữ Phạn Drsti
là cái thấy, Samyak là chính.
Trong
văn mạch của tứ diệu đế thì chánh kiến trước hết là
cái nhìn rõ rệt về bốn sự thật căn bản. Phải hiểu thế
nào là khổ, tập, diệt và đạo. Tu tập chánh kiến có hai
giai đoạn, hữu lậu và vô lậu, có cái thấy phản ảnh chân
lý tương đối và có cái thấy phản ảnh chân lý tuyệt đối.
Tuy nhiên ta phải ghi nhớ câu Nhị đế dung thông tam muội
ấn trong nghi thức tụng niệm hàng ngày. Nhị đế có nghĩa
là tục đế không trái chống với chân đế, chân đế bao
gồm tục đế ở trong. Dung có nghĩa là chứa đựng được,
có thể bao trùm được. Tương dung có thể dịch là inter-embrasing,
bao dung lẫn nhau. Thông có nghĩa là cái này truyền với cái
kia, inter-penetration. Phải thấy được tính cách dung thông
của nhị đế trong mỗi giáo lý của đạo Bụt. Nói
rằng chánh kiến là cái thấy đúng đắn về tứ diệu đế,
nhưng cái thấy tới mức nào mới là đúng đắn? Sự hiểu
biết và nhận thức của chúng ta gần với chân đế nhiều
hay ít là tùy theo sự tu tập của chúng ta.
Trong
sự tu tập, học hỏi, chúng ta có ba giai đoạn: văn, tư, tu.
Văn tức là nghe giảng, đọc sách, nghe giáo lý, học giáo
lý, pháp đàm về giáo lý. Tư là dùng trí thông minh, kinh nghiệm
của mình mà chiêm nghiệm. Không vâng tin theo một cách ngây
thơ những gì mình nghe, mình học. Tu là đem ra thực tập.
Thực tập bằng thiền hành, thiền tọa, ăn cơm, im lặng,
làm việc, nói năng. Thực tập để có cơ hội xét nghiệm
lại, để có thể chuyển đổi tự thân cho sâu sắc hơn,
đứng đắn hơn, vững vàng hơn. Đó gọi là quá trình văn,
tư, tu (learning, reflexing, practicing). Văn, tư, tu luôn luôn bắt
đầu bằng tục đế, tức là bằng sự thật thông thường,
có thể dùng óc suy luận, có thể dùng khái niệm và ngôn
ngữ để diễn bày, để chuyên chở. Chúng ta dùng những danh
từ và những khái niệm như khổ, tập, diệt, đạo mà tu
tập. Càng tu tập bao nhiêu thì chúng ta càng có kinh nghiệm
trực tiếp bấy nhiêu, và dần dần chúng ta không còn bị
trói buộc bởi những danh từ và khái niệm nữa, nghĩa là
bước sang lãnh vực chân đế.
Trong
bước đầu văn, tư và tu, tuy rằng chúng ta đang ở trong tục
đế nhưng sự tu tập đã hàm chứa chân đế rồi. Và khi
đạt tới sự chứng ngộ, có được cái thấy tuyệt đối.
thì chúng ta biết rằng sự chứng ngộ đó có chứa đựng
tất cả các hạt giống, những thành quả đã đi qua từ những
bước đầu tu tập. Nói như vậy để nhắc lại một lần
nữa quy tắc Nhị đế dung thông, hai loại chân lý không chống
đối nhau. Cho nên, cái hiểu và cái biết của chúng ta về
tứ diệu đế dù còn nhỏ bé tới đâu, dù chưa đúng hẳn
với lời Bụt dạy, nhưng trong đó đã có hạt giống của
chân đế.
Trong
Kinh thỉnh thoảng Bụt và các thầy có nói tới thế nào là
chánh kiến. Sự diễn tả chánh kiến luôn luôn bắt đầu
ở trình độ dễ dàng để mọi người có thể hiểu được.
Ví dụ như nói chánh kiến là cái thấy về thiện, ác, về
nhân quả: gieo đậu sẽ được đậu, làm lành thì sẽ có
phúc, làm dữ thì sẽ bị tai họa, v.v. tất cả đều thuộc
về chánh kiến. Tất cả mọi người đều cần những ý niệm
sơ khởi như vậy thì mới biết đường đi. Như niềm tin
nơi Bụt, một bậc giác ngộ; niềm tin nơi Pháp, con đường
giải thoát và niềm tin nơi Tăng, đoàn thể tu tập. Đó là
chánh kiến. Tin rằng có thể chuyển hóa đau khổ, rằng có
những bậc A la hán, nhờ tu tập mà đã thoát được những
phiền não và sinh tử luân hồi… những điều đó đều thuộc
về chánh kiến. Hễ lời nói nào, ý niệm nào mà chứa đựng
được một hạt chân lý của Phật pháp trong đó là có chứa
đựng ít nhiều chánh kiến rồi, dầu chưa phải cái thấy
tuyệt đối.
Chúng
ta hãy đọc một đoạn trong Kinh Thánh Đạo. Kinh nói: “ Có
bố thí, có cúng dường, có cha có mẹ, có các loài hóa sanh,
có các vị sa môn, bà la môn, có người tu học thành công,
có sự tu hành để chứng đạt được trong đời này.” Đó
là một cách trình bày chánh kiến để mọi người thấy và
có đức tin. Với đức tin, người ta sẽ đi theo con đường
chuyển hóa, bỏ những hành động sai lầm gây khổ đau, bắt
đầu tạo an lạc và hạnh phúc. Nhưng chánh kiến trước hết
là thấy bốn sự thật mầu nhiệm, tại vì đó là căn bản
của Phật pháp. Mà thấy được bốn sự thật cho rõ ràng
thì điều này không phải là chuyện dễ. Công nhận sự thật
về khổ, tập, diệt và đạo, tức là chấp nhận tứ diệu
đế. Nhưng ta cần có công phu học hỏi, tư duy và công phu
thực tập rất nhiều mới có thể có được cái nhìn sâu
sắc và vững chãi về tứ diệu đế. Sau đây chúng ta thử
tập quán chiếu để có một cái thấy về tứ diệu đế.
CHÁNH KIẾN VỀ TỨ DIỆU ĐẾ
Chúng
ta biết rằng con đường thoát khổ mà chúng ta tìm, con đường
đưa tới sự an lạc mà chúng ta tìm, chúng ta phải tìm ngay
ở trong cái khổ. Đó là nguyên tắc thực tập: phải trực
tiếp đối diện với khổ. Cái khổ có thể là nỗi sợ hãi,
có thể là niềm lo âu, bất an. Cái khổ có thể là mối hận
thù, giận dữ, là buồn rầu, chán nản hay tuyệt vọng. Chúng
ta phải trở về tiếp xúc và tìm hiểu những nỗi khổ đó
với tất cả sự can đảm của mình. Chúng ta phải nâng nỗi
khổ lên, ôm vào trong hai tay và quán chiếu sâu xa vào nó.
Nếu không làm được chuyện đó thì không dễ gì ta thấy
được tập, diệt và đạo.
Khi
quán chiếu về khổ, trước hết chúng ta thấy một sự thật
là nhiều người đang khổ mà không biết là mình khổ. Họ
luôn luôn tìm cách trốn chạy, tìm cách lãng quên cái khổ
của họ. Cũng như người bị bệnh ho lao mà không nhận biết
mình bị bệnh ho lao.
Nhiều
người mang một niềm thất vọng, một nỗi đau khổ quá sâu
kín trong lòng mà không tự biết. Họ chỉ cảm thấy không
an lạc, cảm thấy không muốn đối diện với chính mình.
Vì thế họ tìm sự quên lãng, vùi lấp đời họ trong những
quán rượu, vũ trường, bài bạc, hay chôn nỗi khổ của mình
trong những phim video,v.v. Bụt dạy rằng cái khổ của con lạc
đà hay con lừa phải chở hành lý nặng nề trên lưng, cái
đó chưa phải là khổ. Ngu si không biết mình là khổ, không
biết có đường đi thoát khổ, đó mới là cái khổ thật.
Đó là tình trạng của người không tu, không biết tu. Bắt
đầu vào con đường văn, tư, tu ta nhận diện cái khổ, quán
chiếu cái khổ, gọi tên cái khổ của mình mà không còn sợ
hãi nữa. Và nhờ đó ta thấy được bản chất của cái khổ,
thấy được tập, thấy được diệt và thấy được đạo
ở trong cái khổ.
Thấy
Tập tức là thấy được những gốc rễ gần xa, nguyên do
của cái khổ. Chúng ta đã sống như thế nào, đã ăn uống
như thế nào, đã thở như thế nào, đã tiêu thụ như thế
nào? Đã sống đời sống cá nhân và xã hội của chúng ta
như thế nào? Ta nhận diện cái khổ, gọi tên nó, quán chiếu
và thấy được bản chất của nó. Và khi thấy được bản
chất của khổ thì ta sẽ thấy tập. Tập tức là nguyên do
của khổ, những nguyên do xa gần trong quá khứ và trong hiện
tại. Cái thấy đó chỉ có thể đạt được bằng sự quán
chiếu. Chúng ta có những phương pháp để quán chiếu. Chúng
ta cần sự yên lặng, cần có thì giờ, chúng ta cần thiền
toạ, thiền hành, chúng ta cần bạn tu để giúp đỡ, chúng
ta cần thầy để hướng dẫn. Một ông bác sĩ trị bệnh
cũng làm như vậy thôi. Bác sĩ mà quán chiếu sai lầm, đưa
thuốc sai lầm thì có thể làm hại bệnh nhân. Trong sự tu
học, chúng ta phải làm công việc thầy thuốc cho chính bản
thân. Chúng ta phải có đủ thì giờ quán chiếu, phải can
đảm tiếp xúc với cái đau khổ của mình. Phải tìm ra những
nguyên nhân của khổ đau hàng ngày. Như vậy, không những
ta thấy được tập, mà còn thấy được diệt nữa.
Diệt
tức là khổ diệt, nghĩa là sự vắng mặt của khổ. Hôm
nay cái khổ có mặt cũng có nghĩa là ngày hôm qua, hay trong
quá khứ, nó đã từng không có mặt. Nếu chúng ta biết chuyển
hóa thì ngày mai nó có thể cũng không còn có mặt nữa. Đó
là sự ước ao của chúng ta. Diệt tức là khổ diệt, có
nghĩa là an lạc, hạnh phúc. Ta thấy là ngày xưa ta có những
trạng thái vô tư, an lạc, có sức khoẻ, nhưng ta đã không
biết quý, không biết hưởng và không biết bảo hộ.
Diệt
cũng được thực tập qua ba giai đoạn. Thứ nhất là tiếp
xúc với cái hạnh phúc bình thường trước khi nó mất. Ví
dụ có một bà mẹ yêu quý mà không biết đó là hạnh phúc
nên không hưởng niềm vui có mẹ, khi mẹ mất đi thì thấy
khổ. Có lúc chúng ta không đau răng mà không thấy mối hạnh
phúc của người không đau răng, đợi tới khi răng đau nhức
thì mới thấy rằng lúc không đau răng là hạnh phúc. Vì vậy
khi nhìn vào khổ thì thấy được thế nào là diệt. Thấy
tập rồi là thấy diệt. Không đau răng tượng trưng cho biết
bao nhiêu là an lạc mà mình đã dẫm đạp, đã tàn phá bằng
sự quên lãng và dại khờ của mình. Khi hai chân mình đang
còn khoẻ, còn chạy được, còn đi được thì mình không
biết hưởng, mình không có hạnh phúc. Đến lúc già yếu,
chân đi không vững, mình mới thấy rằng có hai chân khoẻ
là hạnh phúc lớn.
Tình
trạng khổ mà không biết là mình khổ cũng tương tự như
tình trạng diệt, có yên vui mà không biết là mình yên vui.
Đó là vì mình không có khả năng tiếp xúc với hạnh phúc.
Có hai con mắt mở ra để thấy trời xanh, nhưng ta không biết
rằng đó là hạnh phúc. Khi khổ đau mà quán chiếu cái khổ
và tiếp xúc với cái khổ, ta thấy được cái diệt. Trong
một ngày, nếu thực tập quán chiếu bằng chánh niệm, ta
sẽ thấy mình có sẵn rất nhiều điều kiện của hạnh phúc
ngay trong hiện tại. Nhưng vì không tu tập chánh niệm, ta tự
dẫm đạp lên trên những điều kiện hạnh phúc. Sống trong
một tâm trạng chán nản rồi để cho tâm trạng đó trùm
lấp mình, ta không còn khả năng tiếp xúc được với bất
cứ sự mầu nhiệm nào trong đời sống hiện tại. Tại sao
người khác đang đi thiền hành an lạc, đang tự nuôi dưỡng
bằng hơi thở và bằng bước chân hạnh phúc, thì ta tuy cũng
đi thiền hành với họ mà lại tự chôn mình trong đau khổ,
buồn bực, giận hờn?
Trong
khi quán chiếu khổ, ta thấy được diệt, là trạng thái không
khổ và tự nhiên đạo phát khởi. Ta có thể nhận ra rằng
cái khổ bắt nguồn từ sự quên lãng và những tri giác sai
lầm. Quên lãng tức là không có chánh niệm (the lack of mindfulness).
Khi ganh tị, khi giận hờn, ta khổ đau. Mà những ganh tị và
giận hờn ấy bắt nguồn từ vọng tưởng. Có thể người
khác không có chủ ý làm khổ ta, nhưng ta cứ nghĩ rằng người
ấy có chủ ý. Khi thấy nguyên do gây khổ, ta thấy được
tập, và nguyên do đó tại ta. Nếu thấy nguyên do đó không
đáng cho ta khổ, thì cái khổ tan biến, và tự nhiên ta có
nụ cười và ta an lạc. Khổ, tập, diệt và đạo có mặt
đồng thời trong một giây phút.
Đạo,
là con đường chánh niệm phá tan quên lãng, là con đường
chánh kiến phá tan vọng tưởng. Cái khổ của ta vốn chứa
hạnh phúc trong tự thân của nó, nhưng vì cách nhìn sai lầm
của ta nên ta không thấy hạnh phúc. Hạnh phúc của mình,
chính mình vứt bỏ nó đi, mình đẩy nó đi. Biết bao nhiêu
thanh thiếu niên đã dại dột như vậy. Trong một cơn giận
dữ, trong một phút đam mê, họ không còn nhìn thấy được
hạnh phúc lớn lao sẵn có, và họ tự chấm dứt đời họ.
Cái mà mình gọi là khổ có thể đang chứa đựng cái diệt,
có khi ta chỉ cần một thực tập nho nhỏ là có thể tự
chuyển hóa, khôi phục được tình trạng diệt. Phương pháp
khôi phục đôi khi rất đơn giản. Khổ hay lạc đều tùy
theo cách mình nhìn. Một người bạn tu là một người có
thể giúp mình nhìn lại và thấy được những gì mình chưa
thấy. Ta nên nhìn tận mặt cái khổ của ta và hãy chào cái
khổ ấy: Buồn ơi chào mi! Chán nản ơi chào mi! Giận ơi chào
mi!... Quán chiếu trực tiếp vào cái khổ ta thấy ở trong
khổ có tập, có diệt và có đạo. Có người tưởng rằng
đạo phải do thầy dạy, phải được học trong Kinh. Ai ngờ
nhìn sâu vào trong nỗi đau khổ của ta, ta đã có thể thấy
đạo rồi.
Bụt
đã làm như vậy. Bụt có bao giờ học Kinh? Ngài không học
Kinh Pháp Hoa, cũng không học Kinh Hoa Nghiêm, cũng không học
Kinh A Hàm… Ngài chỉ quán chiếu cái khổ của mình mà tìm
ra con đường và Ngài đã dạy chúng ta. Chúng ta cũng phải
nhìn vào sự thật khổ đau, không nên tìm cách quên lãng,
trốn chạy, che dấu, xô đẩy, chống đối lại khổ đau.
Chỉ có sự quán chiếu khổ đau mới giúp ta tìm ra được
những nguyên do khiến cho ta không hạnh phúc, rồi sau đó tìm
ra con đường chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc. Quán chiếu
vào khổ thì thấy tập, diệt và đạo. Một cái chứa đựng
tất cả các cái khác. Giáo lý duyên sinh của Bụt rất màu
nhiệm.
Trong
quá trình quán chiếu, nhận diện và gọi tên như vậy, ta
thấy được bản chất của khổ, thấy tập, thấy diệt,
thấy đạo. Nhờ ta nhìn thấy tập, thấy diệt, thấy đạo
trong khổ, tự nhiên khổ sẽ giảm bớt, các nguyên do tập
thành tự ngưng, đạo hiện ra. Thấy tập thì ngưng tập. Thí
dụ thấy vì uống rượu mà đau gan thì ta sẽ tự ngưng uống
rượu. Thấy phổi yếu vì hút thuốc ta tự ngưng hút thuốc.
Tập càng ngày càng bớt đi và sự chuyển hóa sẽ tới. Đạo
càng ngày càng hiện rõ. Quá trình tu tập đó là văn, tư và
tu.
Khi
mức chuyển hóa đã cao, thì cái khổ trước đây bây giờ
không còn là khổ nữa. Những cái gọi là chết, bệnh, già,
hay giận, buồn, ghen, không làm cho mình sợ hãi nữa. Quán
chiếu sâu xa hơn ta sẽ thấy rằng những cái gọi là sanh
và diệt chỉ là những ý niệm trong đầu mình. Không có sanh
cũng không có diệt, chỉ có sự biểu hiện và sự ẩn tàng.
Cho nên những cái mà thế gian gọi là khổ đã được Bụt
và các vị bồ tát cho là lý thường nhiên. Một chiếc lá
sanh ra, lớn lên, ve vẩy trên cành rồi rụng xuống, đó là
chuyện thường. Chuyện ta sinh ra, lớn lên, già và chết, cũng
thường nhiên như một chiếc lá. Nhìn sanh, lão, bệnh, tử
với con mắt bình thản, ta sẽ không lo sợ.
Vô
khổ, tập, diệt, đạo là một lời tuyên bố của Tâm Kinh.
Ta đi vào phạm vi của chân đế, của vô lậu, của liễu
nghĩa kinh: không có khổ, tập, diệt và đạo. Các vị bồ
tát dạo chơi trong biển sinh tử để cứu người. Nơi ta gọi
là biển khổ chính là môi trường hành đạo của họ. Họ
không còn bị những đợt sóng còn, mất, tử, sinh vùi dập.
Ranh giới giữa khổ và diệt, giữa khổ và vui đã mất đi.
Chính bằng chất liệu khổ mà họ tạo ra an lạc, bằng phân
rác mà họ tạo ra được bông hoa. Phiền não tức bồ đề
là ngôn ngữ siêu việt khổ vui. Hoa và rác tương tức. Chúng
ta biết rằng cái khổ mà chúng ta thấy là ngược với cái
vui, nhưng sau một thời gian tu tập và quán chiếu sâu sắc,
khổ vui sẽ tương tức. Sau khi vượt ra, không còn sợ hãi
và trốn chạy cái khổ, không còn mê đắm trong cái vui tương
đối. chúng ta đạt tới niềm vui chân thật và vô lậu, đó
là niết bàn. Cái vui này siêu việt cả cái khổ và cái vui
thông tục: Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc. Giai đoạn
quán chiếu khổ và tập tuy còn là trong cõi hữu lậu nhưng
giai đoạn đó đã chứa đựng những hạt giống của vô lậu.
Khi nghe ngôn ngữ của chân đế, chúng ta phải thấy ngôn ngữ
đó không nói ngược lại sự thật tục đế.
Bây
giờ ta nói chánh kiến về tập, tức là những nguyên do gần
xa gây ra khổ. Cứ để khổ đau tràn lấp, làm cho đen tối
cuộc đời. Đó là một câu trong bài Sám Nguyện. Hàng ngày,
những ý tưởng, lời nói và hành động của ta có thể đang
nuôi dưỡng cái khổ mà ta không biết. Bây giờ tu học, ta
phải nhận diện, quán chiếu, thấy được những điều ta
đã làm và đã nói thường gây đổ vỡ trong đời sống hàng
ngày.
Bụt
dạy nhiều phương pháp giúp ta nhìn thấy bản chất của khổ
và tập, thấy được bản chất của diệt, thấy ta có thể
đạt tới diệt, tức là hạnh phúc. Nếu làm đúng phương
pháp Bụt dạy, nếu chuyển hóa thành công, ta sẽ phát khởi
được cái nhìn vô lậu. Lúc đó ta sẽ không còn kẹt vào
các khái niệm khổ, diệt và đạo nữa. Tư tưởng ta có thể
bị kẹt. Ví dụ như nghĩ rằng diệt là không còn gì nữa
hết cho nên hết khổ, đó là một quan niệm sai lầm. Chứng
đạo rồi ta không còn chấp trước nữa, dù cả vào sự tu
tập. Trong cửa thiền ta gọi là đói ăn khát uống: Tôi đói
thì tôi ăn, tôi khát thì tôi uống, mà khi làm theo điều mong
muốn, tôi không gây đau khổ cho tôi và cho người. Khổng
tư nói tùng tâm sở dục bất du củ. Tùng tâm sở dục có
nghĩa là lòng mình muốn gì thì mình làm cái đó, và mình
không còn bị kẹt vào hình thức. Bất du củ là vẫn đúng
khuôn phép *. Đó là tình trạng thảnh thơi, an lạc nơi Tịnh
độ. Theo ngôn ngữ của mười bức tranh chăn trâu là thõng
tay vào chợ. Cũng đi vào chợ, cũng nói cũng cười, cũng mua
cũng bán như người khác, nhưng mình vẫn là con người giải
thoát. Không tuyên bố nghiêm trọng: Tôi đang tu đây. Đi thiền
hành thảnh thơi như không. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói ”ngã
pháp hành vô hành hạnh, tu vô tu tu.”
Ở
trình độ “tùng tâm sở dục” - muốn làm gì cũng được,
thì hành động sẽ không còn gây thêm tập, không tạo thêm
những nguyên do của khổ. Nhưng nếu chưa đạt tới trình
độ đó mà ta bắt chước thì đó là điều nguy hiểm. Khi
xưa, Hoà thượng Nhất Định, chùa Từ Hiếu, xin vua được
từ chức tăng cương về trụ trì ở núi Diên Xuân với hai
vị đệ tử. Ngài lập một cái am, gọi là Am An Dưỡng, rồi
Ngài mời bà mẹ về để
được dịp sống gần mẹ già. Các quan trong triều tới thăm,
xin cất một ngôi chùa. Ngài nói: “Thôi, thôi, tôi đã trụ
trì nhiều chùa rồi, mục đích của tôi xin vua về nghỉ là
để khỏi phải giữ chùa, không lý bây giờ các vị lại
bắt tôi làm chùa nữa? Từ đó ngài sống những ngày rất
an lạc cùng bà mẹ. Có một hôm mẹ ngài bị bệnh nặng,
bà nói :”Con, sao mẹ muốn ăn cháo cá quá.” Ngài đi xuống
chợ Bến Ngự, thản nhiên xin một con cá đem về nấu cháo
cho mẹ ăn. Ngài xách con cá trong tay, đi từ dưới chợ lên
núi. Nhiều người nói :” Sao thầy tu mà làm như vậy?”
Nhưng vì Ngài không còn nệ vào hình thức nữa, thành ra Ngài
thản nhiên:” Làm cái gì cũng được hết ”, trong thiền
học gọi là đói ăn khát uống. Người ta chỉ làm được
như vậy khi đã đạt tới tự do và vượt thoát thường tục.
Diệt
tức là sự chấm dứt những nguyên do gây khổ đau. Người
ta sống có hạnh phúc, an lành và thảnh thơi mà không tự
biết. Trước khi bị khổ đau trấn ngự ta đã có tình trạng
diệt, nhưng ta không biết quý. Vì dại dột, ta có thể tự
phá hoại hạnh phúc tự nhiên sẵn có của ta. Nguyên do là
ta sống không chánh niệm, ta thiếu thầy, thiếu bạn để
chỉ cho ta thấy hạnh phúc ta đang có. Những điều kiện hạnh
phúc có thể đang có mặt trong ta và xung quanh ta nhưng ta không
có khả năng tiếp xúc để sống hạnh phúc.
HẠ
THỦ CÔNG PHU
Tu
tập cũng là quán chiếu để nhận diện hạnh phúc bằng những
bài thực tập chánh niệm. Ví dụ: “Tôi đang thở vào và
tôi biết là tôi có hai con mắt. Tôi đang thở ra và tôi mỉm
cười với hai mắt của tôi.” Đó là một trong những bài
tập giúp ta tiếp xúc được với những điều kiện hạnh
phúc đang có của mình. Ta là người đã tiếp nhận nhiều
điều kiện hạnh phúc ấy từ cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên
và trời đất nhưng ta đã không biết thừa hưởng kho tàng
hạnh phúc đó. Kinh gọi đó là người cùng tử. Trong lúc
quán chiếu như vậy ta thấy ngay trong diệt cũng đã có sẵn
mầm khổ. Cách sống hàng ngày của ta có thể tiêu diệt hạnh
phúc của ta và tạo ra khổ đau. Rõ ràng là quán chiếu hạnh
phúc thì ta thấy khổ đau nằm sẵn trong ấy. Và khi thấy
điều đó, ta thấy được đạo.
Bụt
dạy phép an trú trong hiện tại (hiện tại lạc trú), tức
là sống tỉnh thức trong từng giây phút, biết quý trọng
từng giây phút của đời sống. Con đường rõ ràng như vậy,
chỉ có điều ta thực tập hay không mà thôi. Nghe Bụt ta biết
là lời Bụt hay lắm, cần đem ra rao giảng cho thế gian, nhưng
chính ta lại không chịu học hành. Cho nên ta phải quyết chí
thực tập chứ không nói lý thuyết suông, đó gọi là hạ
thủ công phu (get down to the real pratice). Thiền hành mỗi ngày,
tụng kinh mỗi ngày, thực tập mỉm cười và hơi thở ý thức
mỗi ngày, và tập nhìn mọi người bằng con mắt hiểu và
thương. Ta nấu cơm, rửa chén và quét nhà như thế nào để
có thể có hạnh phúc ngay trong khi ta nấu cơm, rửa chén và
quét nhà. Đó là công phu. Trong khi rửa chén, nấu cơm,
kê bàn, dọn ghế, uống nước và cưa cây, ta tự hỏi: “Ta
đang làm gì đây? - What am I doing?” Ta tự trả lời: Ta đang
rửa chén. Rửa chén như thế nào để có an lạc, quét nhà
như thế nào để có an lạc đó là điều quan trọng. Khi ta
tự hỏi: Ta đang làm gì đây? Ta sẽ rửa chén một cách khác
và quét nhà một cách khác. Trong chánh niệm ta thấy hạnh
phúc tràn lan. Ta sẽ không còn xem rửa chén và quét nhà là
những công tác nặng nhọc và muốn làm cho xong. Ta đang làm
gì đây? Hỏi xong ta mỉm cười, và chuyện rửa chén quét
nhà bỗng tạo ra một niềm vui trong đời sống hàng ngày.
Đó gọi là hạ thủ công phu.
Ngoài
việc thực tập trong cuộc sống cá nhân, chúng ta còn thực
tập trong đời sống chung với mọi người. Giả dụ vì xung
khắc mà hai người cùng đau khổ. Chúng ta có cơ hội thực
tập để làm giảm bớt khổ đau. Cơ hội thứ nhất là cả
hai người cùng thực tập. Hai người đều quán chiếu, hai
người đều dùng mắt thương nhìn cuộc đời.
Cơ
hội thứ hai là người này thực tập nếu người kia không
thực tập. Khi ta thực tập và nhìn người kia bằng con mắt
từ bi thì không những ta thay đổi mà người đó cũng sẽ
thay đổi. Ta không cần hai người mới ký được hòa ước,
một mình ta ta đã có thể ký hòa ước rồi. Trong tự tâm
ta có thể hoà giải, ta tự bắt đầu trước, và sự chuyển
hóa sâu xa và chân thật của ta sẽ đưa tới sự chuyển hóa
của người kia.
Cơ
hội thứ ba: nếu người này không thực tập thì người kia
bắt đầu thực tập.
Thành
ta lúc nào ta cũng có ba cơ hội để tạo niềm thông cảm.
Tình trạng không phải là một tình trạng tuyệt vọng. Xung
quanh ta, bất cứ một lời kinh, một tiếng mõ, một tiếng
chuông, một bước chân nào cũng nhắc ta rằng ta có ba cơ
hội đó. Hạ thủ công phu là việc ta có thể làm được
và có thể làm ngay. Ta có thể thành công trong mấy phút đồng
hồ, chứ không hẳn phải chờ ngày này sang ngày khác.
Nếu
ta biết thay đổi cách nhìn thì tự nhiên bể khổ cuộc đời
sẽ tiêu tan. Mắt thương nhìn cuộc đời là một phương pháp
rất mầu nhiệm. Chính ta có thể thay đổi được tình trạng.
Đừng nói rằng nếu người kia không thay đổi thì ta làm
sao thay đổi.
Phương
pháp tu tập này là tiếp xúc với an lạc và tạo tác niềm
vui trong mỗi giây phút của cuộc đời. Đây là thực tập
hiện tại lạc trú, thực tập phép lạ. Cuốn Phép Lạ Của
Sự Tỉnh Thức bản dịch tiếng Pháp nhan đề là Le Miracle,
c’est de marcher sur terre – Phép lạ là đi trên mặt đất.
Đi trên mặt đất đã là thần thông. Phép lạ là biết mình
đang sống. Chỉ đi bộ thôi cũng đã là thần thông. Chỉ
cần rửa chén, chỉ cần nhìn một thân cây thôi, cũng đã
là một phép thần thông. Phép lạ là biết rằng hễ mở mắt
thì thấy đuợc trời xanh. Phép lạ ấy, ta có thể thực hiện
trong từng giây phút để nuôi dưỡng và chuyển hóa, để
an lạc tăng trưởng, và để thấy đạo. Đạo không
phải chỉ được thấy nhờ học Kinh và nghe giảng mà nhờ
thực tập. Càng thực tập ta càng thấy rõ đạo. Theo công
phu tu tập này, những niềm vui hời hợt và giả tạo sẽ
được chuyển hóa thành những niềm vui đích thật và sâu
sắc.
Tuy
biết rằng cái gì cũng vô thường, cũng thay đổi, nhưng ta
không còn sợ hãi, vì ta đã biết cách tạo niềm vui. Thực
tập như vậy, ta sẽ đạt tới mức độ vững chãi, sẽ không
sợ hãi vô thường, sợ hãi thay đổi, đó là tự do, là không
vướng bận. Không phải chờ tới một trình độ cao nào đó
ta mới đạt được vững chãi và thảnh thơi. Công trình tu
tập càng ngày liên tục đem lại cho ta thảnh thơi. Cho đến
khi ta đạt tới sự vững chãi và thảnh thơi vượt lên trên
những khổ vui thông tục thì diệt đế có tên là niết bàn
(nirodha trở thành nirvana). Diệt không phải chỉ là sự vắng
mặt của đau khổ. Sự vắng mặt tạm thời của khổ đau
sẽ dẫn tới sự vắng mặt vĩnh viễn của khổ đau. Tục
đế sẽ đưa tới chân đế. Đó là chân như, có khi gọi
là pháp giới tánh hay là pháp thân (dharmakaya). Và niềm vui
lớn này, ta không thể diễn tả bằng lời nói được nữa,
vì nó đã vượt ra khỏi ngôn ngữ của tục đế.
Niềm
vui lớn này, Bụt và các vị bồ tát đã thực chứng được.
Các vị có thể gật đầu xác nhận rằng niềm vui đó có
mặt, nhưng họ diễn tả không được, và chính ta phải tự
tìm lối vào. Không thể diễn tả được niết bàn (nirvana).
Cho nên trong lĩnh vực này thì diệt đế là ngôn ngữ đạo
đoạn: con đường của ngữ ngôn đã bị cắt đứt. Không
có ngữ ngôn nào có thể diễn tả được niết bàn, được
niềm vui lớn, được sự vững chãi và thảnh thơi của người
đã đạt tới cái niềm vui lớn. Không những ngôn ngữ không
chuyên chở được mà các ý niệm cũng không chuyên chở được.
Không suy tưởng được, không khái niệm được, gọi là tâm
hành xứ diệt. Nó không thuộc về lãnh vực của tư tưởng
nữa. Niết bàn không thể suy tư, không thể so sánh, không
thể tưởng tượng được. Niết bàn chỉ có thể tự thân
tác chứng.
Vậy
thì sự thật thứ ba, diệt, cũng có hai phần. Phần thứ nhất
là phần hữu lậu và phần thứ hai là phần vô lậu. Hữu
lậu là asvara, như nước rỉ ra. Vô lậu là anasvara. Trong lãnh
vực hữu lậu, chúng ta còn tuỳ thuộc vào ngôn ngữ và khái
niệm. Tới lãnh vực vô lậu rồi thì không còn ngôn ngữ
và khái niệm nữa. Nhưng trong quá trình văn, tư và tu, chúng
ta đã có thể thấy được những hạt giống vô lậu trong
cõi hữu lậu rồi. Cũng như không phải đợi chấm dứt sóng
thì mới có nước. Ngay trong khi sóng là sóng thì đồng thời
nó cũng đã là nước rồi.
Chú
thích
*
Đức Khổng Tử nói rằng: ”Năm 30 tuổi, tôi đã có thể
đứng vững. Đến 40 tuổi, tôi bỏ được tất cả những
điều nghi hoặc. Đến năm 50 tuổi, tôi biết được lẽ vận
hành của trời đất. Tới năm 60 tuổi, thì tai nghe đã xuôi.
Tuổi 70, tôi muốn làm gì thì làm mà không trái với đạo
lý. (Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri
thiên mệnh, lục thập chi nhĩ thuận, thất thập tùng tâm
sở dục bất du củ).