04
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ tư
Hôm
nay là ngày mùng 2 tháng 12 năm 1993, chúng ta ở tại Xóm Thượng
và chúng ta học tiếp về tứ diệu đế.
Trong
tiếng Hán - Việt khổ nghĩa là đắng, là không ngọt. Như
vậy, hạnh phúc được so sánh như vị ngọt, khổ đau như
vị đắng. Nhưng giữa ngọt và đắng còn có trạng thái trung
tính, không đắng cũng không ngọt. Tam thọ là khổ thọ, lạc
thọ và xả thọ; xả thọ là không khổ cũng không lạc. Đắng
không những là không ngọt mà cũng có nghĩa là không được
trạng thái trung tính nữa. Vậy thì khổ có nghĩa là không
lạc mà cũng không xả. Trong tiếng Phạn chữa duhkha cũng có
nghĩa là không dễ chịu, không bình thường. Tiếng Anh có
thể dịch là ill –being. Ill – being có nghĩa là trạng thái
bế tắc, không dễ chịu. Ngược lại là well – being, tức
là trạng thái trong đó ta cảm giác thư thái, nhẹ nhàng, dễ
chịu.
NIỀM
VUI TƯƠNG ĐỐI
Chúng
ta phải sử dụng nguyên tắc nhị đế và duyên khởi để
học hỏi về tứ diệu đế. Trong bước đầu tu học chúng
ta đi vào qua ngưỡng cửa tục đế. Càng quán chiếu và tiếp
xúc sâu xa với sự thật tương đối, sẽ tới lúc chúng ta
tiếp xúc với chân đế. Trong tục đế, khổ đối lập với
vui. Như vậy, công nhận sự có mặt của khổ cũng là công
nhận sự có mặt của vui. Theo thuyết duyên khởi, thì cái
khổ được làm bằng những thứ không phải là khổ, trong
đó có vui. Chúng ta đừng vội vàng nói rằng việc tu học
là vượt cả khổ cả vui. Muốn bước ngay vào sự thật chân
đế mà không đi ngang qua con đường tu tập trong tục đế
là một sai lầm nguy hiểm. Thí dụ ta đọc bài thơ sau đây:
Thiên
hạ đua nhau nói khổ, vui
Có
chi là khổ, có chi vui?
Vui
trong tham dục, vui là khổ
Khổ
để tu hành, khổ ấy vui…
Nếu
biết có vui là có khổ
Thà
rằng đừng khổ cũng đừng vui.
Bài
thơ muốn đứng trên bình diện chân đế mà nói, nhưng không
có lợi ích gì, vì đó chỉ là lời nói suông thôi. Tuyên
bố “thà rằng đừng khổ cũng đừng vui” rất dễ, nhưng
đi tới trình độ đó bằng cách nào? Và tuyên bố xong, trong
bụng ta có thể vẫn còn thích vui và sợ khổ như thường,
không làm sao dứt được. Chưa đi ngang qua tục đế mà đã
muốn nhảy tới chân đế là sai lầm.
Hãy
khoan nói vượt thoát cả vui lẫn khổ, chúng ta hãy nói chuyện
trong thế giới có khổ có vui. Trong thế giới tương đối
đó chúng ta biết đời sống có nhiều nỗi khổ. Chúng ta
muốn chuyển hóa những nỗi khổ này để đạt tới những
niềm vui, dầu chỉ là những niềm vui tương đối. Nếu chưa
đạt được niềm vui tương đối thì làm sao ta có thể đạt
tới niềm vui tuyệt đối, vượt cả khổ lẫn vui?
Ví
dụ hôm nay chúng ta cảm thấy một nỗi khổ mà hôm qua không
có. Chúng ta công nhận ngày hôm qua ta không khổ mà hôm nay
ta khổ rồi ta so sánh trạng thái không khổ hôm qua với trạng
thái khổ hôm nay. Rồi ta tâm nguyện muốn trở lại sống
trạng thái không khổ, bằng cách học hỏi những phương pháp
thực tập. Đó là bước đầu học hỏi và tu tập.
Chúng
ta không nên nói lý thuyết rằng khổ không có thật, khổ
chỉ là giả tưởng mà thôi. Nói như vậy chỉ là tự an ủi
và trốn tránh. Vui cũng giả, khổ cũng giả, nói vậy rồi
thôi, ta không chịu làm gì hết ! Sự thật là ta phải làm
một cái gì, phải thực tập để chuyển hóa cái khổ cho
thành không khổ. Trong khi thực tập ta mới tiếp xúc, quán
chiếu và dần dần thấy được tự tánh của khổ cũng như
tự tánh của không khổ. Nhờ đó ta sẽ đạt tới sự thật
chân đế, vượt trên khổ và vui.
Cũng
như khi ta có bệnh nhức đầu. Ta công nhận bệnh nhức đầu
này là khổ, ta nhất định chữa trị, để đạt tới cái
trạng thái không nhức đầu, không khổ. Chứ ta không thể
nói rằng nhức đầu là giả tưởng, không có thật, thôi
đừng lo nghĩ về chuyện nhức đầu nữa. Không lo chuyện
nhức đầu thì đầu vẫn nhức như thường. Tu tập là phải
làm cái gì để chuyển hóa bệnh nhức đầu, để trở về
tình trạng không nhức đầu. Dầu cái khổ là tương đối
và cái vui cũng là tương đối, nhưng trước hết ta phải
công nhận có khổ, có vui để tìm đường chuyển hóa. Phương
pháp của chúng ta là nhìn vào hiện tượng khổ như một khổ
thọ.
KHỔ
THỌ
Vào
khoảng 100 năm sau khi Bụt nhập diệt, có phái Ẩm Quang Bộ,
hay Ca Diếp Di Bộ (Kasyapiya), có khi gọi là Ca Diếp Nhi Bộ.
Phái này chủ trương rõ ràng rằng khổ trước hết là khổ
thọ. Pain, first of all is painful feeling. Điều này rất dễ hiểu.
Chúng ta biết thọ là một trong năm uẩn. Ta hãy vẽ lên bảng
một trái quít và chia trái quít ra làm năm múi. Múi thứ nhất
là sắc, tức là cái thân thể của chúng ta. Múi thứ hai là
thọ, tức là những cảm giác của chúng ta. Múi thứ ba là
tưởng, tức là các tri giác của chúng ta. Múi thứ tư là
hành và múi thứ năm là thức. Chúng ta biết trong các cảm
thọ có khổ thọ, chúng ta phải tìm trong năm uẩn xem những
căn do nào tạo ra khổ thọ, và có thể thấy ngay các căn
do đó trong sắc và tưởng.
Trước
hết ta thấy nếu cơ thể mất quân bình thì chúng ta có khổ
thọ. Máu trong đầu chảy không đều làm chúng ta nhức đầu,
răng bị hư thì nhức răng. Những khổ thọ bắt nguồn từ
sắc uẩn, ta thấy rất dễ. Tình trạng mất thăng bằng trong
cơ thể, tự nó là khổ hay không, chúng ta chưa biết, nhưng
đó là nguyên do tạo ra khổ, ít nhất là khổ thọ. Nhưng
nhiều khi chúng ta thấy khổ thọ không phát xuất từ thân
thể mà từ tâm. Mà tâm gồm đủ thọ, tưởng, hành, thức,
trong đó Tưởng là phần rất quan trọng khi ta đi tìm căn
do của khổ.
Chữ
Tưởng trong năm uẩn là nhận thức, là tri giác của ta. Tri
giác gồm chủ thể tri giác và đối tượng tri giác. Tri giác
sai lầm gọi là vọng tưởng. Viễn ly điên đảo vọng tưởng,
là xa lìa những tri giác sai lầm. Điên đảo nghĩa là trên
dưới lộn ngược, up side down, trắng thấy là đen, người
ta thương mà tưởng người ta ghét. Những tri giác sai lầm
là nguyên do của khổ thọ. Nhìn sợi dây thành con rắn nên
sợ, sợ cho nên khổ. Không phải sợi dây làm ta khổ, mà
chính con rắn không có thật làm ta khổ, nghĩa là tri giác
cũng có thể làm ta khổ.
Ngoài
sắc thân và tri giác còn có thiên nhiên, có xã hội. Ngoại
giới cũng tác động tới năm uẩn tạo nên khổ thọ. Khi
nói con người được tạo tác bằng năm uẩn thì ta dễ hiểu
lầm rằng đó là năm uẩn của mỗi người, tách biệt với
thế giới, với xã hội bên ngoài. Hiểu như vậy là sai giáo
lý đạo Bụt. Năm uẩn không có nghĩa là một hợp thể của
riêng một con người. Vì tưởng có nghĩa là tưởng về một
cái gì. Tri giác là tri giác về một đối tượng. Khi nhìn
thấy trời xanh thì trời xanh là đối tượng của tri giác.
Vì vậy trời xanh, mây trắng, núi cao, sông dài, con người,
con thú, tất cả đều là đối tượng của Tưởng, đều
ở trong Tưởng hết. Khi thực tập bài năm uẩn là tăng, phối
hợp tinh cần, ta đừng tưởng năm uẩn là cái gì nằm ở
trong con người của mình mà thôi. Mỗi uẩn đều gồm có
chủ thể và đối tượng. Thân thể của chúng ta chẳng hạn
có liên hệ trực tiếp với thế giới, với khí hậu, với
mặt trời, mặt trăng. Vì vậy, sắc uẩn của ta khi đưa tới
một khổ thọ là đã phối hợp với các điều kiện vật
lý ở bên ngoài. Tưởng cũng vậy. Tưởng là tri giác, mà
tri giác là tri giác về trời đất, thiên nhiên, xã hội, con
người… Đối tượng của tri giác là tất cả vũ trụ. Năm
uẩn của chúng ta đều có đối tượng bao gồm cả vũ trụ.
Không thể nói năm uẩn của ta tách biệt ra khỏi vũ trụ.
Nhắc
lại quan điểm của phái Ca Diếp Di Bộ cho rằng khổ trước
hết là một khổ thọ. Khổ là đối tượng của Thọ, nhưng
khổ cũng là đối tượng của Tưởng và của Sắc. Thí dụ
trong Kinh nói sinh ra là khổ. Chúng ta thử xét sinh có phải
là khổ hay không. Chúng ta có một ý niệm về sinh, một tri
giác về sinh. Tùy theo tri giác đó như thế nào mà chúng
ta khổ nhiều hay khổ ít. Nhìn lại cuộc đời của chúng
ta, cuộc đời của một số người mà ta biết, chúng
ta thấy từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đau khổ rất
nhiều, hạnh phúc rất ít. Nhận xét đó đưa tới ý niệm
sinh ra là khổ. Ý niệm đó căn cứ trên kinh nghiệm thật
của con người.
Nhưng
đó không phải là sự thật duy nhứt, vì ngoài nó ra, còn
có những sự thật khác. Như khi thái tử Siddharta thì người
ta không có cảm tưởng khổ, tất cả hoàng cung đều mở
tiệc ăn mừng, người ta thấy rằng sinh là một hiện tượng
rất mầu nhiệm. Tất cả tuỳ tri giác của chúng ta, tùy thuộc
Tưởng của chúng ta.
Rồi
khi chúng ta tu tập, đạt tới cái thấy của chân đế, chứng
nhập sự thật không sinh không diệt, thì lúc đó tri giác
của chúng ta hoàn toàn thay đổi. Khi ý niệm sinh đã mất
rồi, hiện tượng mà trước đó ta gọi là sinh không làm
ta sợ hãi nữa. Đó là ta đã tiếp xúc được với chân đế,
ta đã vượt thoát cái tưởng về sinh diệt.
Cho
nên khổ thọ tùy thuộc rất là nhiều vào tri giác, nghĩa
là vào nhận thức của chúng ta. Từ 2500 năm nay người ta
thường đặt câu hỏi là: khổ chỉ là khổ thọ, hay khổ
bao trùm cả các đối tượng của sắc, tưởng, hành, thức?
Nhiều trường phái chủ trương không phải chỉ khổ thọ
mới là khổ, tất cả mọi hành đều là khổ. All formations
are duhkha. Chỉ có Ca Diếp Di Bộ cho rằng khổ chỉ là khổ
thọ. Những phái khác, sau này rất đông, chủ trương rằng
sắc, tưởng, hành, thức đều là khổ hết. Ví dụ Pháp Uẩn
Túc Luận của Hữu Bộ, và Phân Biệt Đế Luận (Sacca
Vibhanga) của tạng Pali đều quả quyết tất cả là khổ.
Tất cả những hiện tượng vật chất, sinh lý; tất cả những
sắc, tưởng, hành, thức; tất cả các nghiệp, nghiệp thiện,
nghiệp ác, nghiệp không ác không thiện, đều là khổ hết.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là đối tượng của
tưởng. Trời xanh, núi cao là đối tượng của tưởng; sắc
thân, xã hội là đối tượng của tưởng; tất cả những
nhận thức đó đều là khổ hết. Cái bàn là khổ, con sông
là khổ. Tất cả những hiện tượng nào được gọi là hữu
vi đều là khổ. Đó là khuynh hướng chính trong đạo Bụt
từ thế kỷ thứ hai sau khi Bụt nhập diệt cho tới bây giờ.
Thời đó, riêng chỉ có Ca Diếp Di Bộ chủ trương khổ chỉ
là khổ thọ, và các thứ khác có thể đưa tới khổ thọ
vì nhận thức sai lầm của chúng ta về chúng.
Để
biết thêm về các bộ phái có quan điểm khác nhau thế nào
chúng ta có thể tham khảo hai tác phẩm. Các tác phẩm này
ghi lại những điểm mà các bộ phái Phật giáo không đồng
ý vì kiến giải khác nhau. Ở Bắc Tông thì có Dị Bộ Tôn
Luân Luận của Thế Hữu (Vasumitra). Dị Bộ Tôn Luân Luận
ghi chép lại những chủ trương khác nhau giữa 18 bộ phái,
từ khoảng 100 năm sau khi Bụt nhập diệt. Trong truyền thống
Nam Tông có tác phẩm Kathavatthu, dịch là Luận Sự, ghi lại
219 điểm. Luận Sự (Points of Controvers) tức là những chủ
đề đưa ra để đàm luận giữa các bộ phái khác nhau.
Điểm
thứ 111 trong Luận Sự nói: “Sự chứng nhập khổ đế có
phải là kết quả của sự lập đi lập lại câu cái này
là khổ phải không? Hành động lập đi lập lại câu cái
này là khổ, đây là khổ, có tuyệt đối cần thiết để
chứng nhập sự thật thứ nhất hay không?“ Đó là chủ trương
của nhiều phái trong đó có các phái Đông Sơn Trú Bộ, Tây
Sơn Trú Bộ, Vương Sơn Bộ và Nghĩa Thành Bộ. Tư liệu trên
cho ta biết rằng ngay khoảng 100 năm sau khi Bụt nhập diệt
thì khuynh hướng tụng đọc, lập đi lập lại câu “đời
là khổ, cái này là khổ, cái kia là khổ” đã tràn lan. Khuynh
hướng đó tạo nên một hình ảnh bi quan về đạo Bụt. Khi
hành trì tứ diệu đế trong kinh, nhiều người bắt đầu
bằng thị chuyển, bằng các lập đi lập lại câu “đời
là khổ” rất nhiều lần. Người ta tưởng làm như vậy
sẽ chứng nhập vào chân lý khổ theo lời Bụt dạy. Cũng
như nhiều người cứ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô
A Di Đà Phật”, nhưng trong lúc đó thì trong đầu nghĩ những
chuyện khác. Cho nên việc lặp câu “cái này là khổ” trở
thành một công thức rất máy móc. Hồi đó, 100 năm sau khi
Bụt nhập diệt, có một số bộ phái chủ trương đạo nhân
thanh cố khởi, tức là sự chứng nhập đạo là do âm thanh
mà phát khởi ra. Như vậy lập đi lập lại câu: cái này là
khổ, đời là khổ, họ hy vọng chứng đạo. Chủ trương
này đã được nói tới trong những lời phê bình của một
vị xuất gia tên là Đại Thiên (Mahadeva). *
Những
điểm phê bình của Đại Thiên cho thấy trong thời đại đó
nhiều người thực tập thị chuyển tứ diệu đế bằng các
lập đi lập lại và nhắc đi nhắc lại với nhau về cái
sự thực gọi là khổ. Có thể từ phép thực tập này nên
có chủ trương tất cả là khổ. Khuynh hướng đó ảnh hưởng
đến cả kinh điển về Tam Pháp Ấn. Cho nên trong Phật giáo
Nam truyền ba pháp ấn gồm có: vô thường, khổ, và vô ngã
trong khi ở Phật giáo Bắc truyền , đó là vô thường, vô
ngã, niết bàn. **
Pháp
ấn là những bản tính của sự thật trong thế giới này.
Thực tại như là cái bàn, mà nói cái bàn này vô thường,
vô ngã thì hiểu được. Nói cái bàn này là khổ thì khó
hiểu lắm. Ta có thể nói rằng cái bàn có tác dụng gây đau
khổ, thí dụ khi ta ham muốn cái bàn quá, không có nó thì
ta khổ. Nỗi khổ đó do nhận thức của mình về cái bàn,
do sự thèm khát của mình về cái bàn mà sinh ra, chứ không
phải là tự thân của cái bàn.
Vậy
khổ trước hết là khổ thọ. Các pháp khác, đối tượng
của tưởng, có thể là tăng thượng duyên tạo nên khổ thọ,
nhưng không phải là khổ thọ. Các pháp khác đi qua nhận thức
sai lầm của tưởng thì thành khổ thọ, nhưng nếu tưởng
không sai lầm thì các pháp không phải là khổ. Vậy ta có
thể nói rằng các pháp hữu vi có tính vô thường, vô ngã
và có tác dụng gây đau khổ. Nếu chúng ta nhìn qua cái tưởng
sai lầm, tất cả các pháp hữu vi đều có thể gây ra đau
khổ.
NĂM
THỦ UẨN
Trong
lý luận cho rằng tất cả đèu khổ người ta thường nói
gốc của khổ là do năm uẩn. Hầu hết các bộ phái nói rằng
khổ không phải là đối tượng của thọ mà là đối tượng
của tưởng. Khổ không phải chỉ là khổ thọ, khổ là do
tất cả các uẩn. Năm uẩn có phải là khổ hay không? Năm
uẩn có phải là nguyên do trực tiếp của khổ hay không? Trong
kinh Tam Chuyển Pháp Luân Bụt nói vướng mắc vào năm uẩn
là khổ. Người ta căn cứ vào câu nói đó, nhưng quên đi
những chữ “vướng mắc vào “ ! Nếu năm uẩn là khổ thì
diệt hết năm uẩn là hết khổ chăng? Nghĩ như vậy rất
nguy hiểm. Trong kinh Đại Bảo Tích có một đoạn rất hay,
Bụt kể :” Có một ông kia cầm cục đá ném con chó. Con
chó đau quá, chạy theo cục đá mà sủa. Nó không biết rằng
nguyên nhân làm nó đau là người ném đá, chứ không phải
là cục đá. Cũng vậy, những người mê tưởng năm uẩn là
nguyên do của khổ, không biết nguyên nhân của khổ là nhận
thức sai lầm của họ về năm uẩn.”
Trước
sự bất đồng quan điểm của các bộ phái, nếu muốn
thiết lập lại tư tưởng gốc của đạo Bụt chúng ta nên
theo lối những nhà khảo cổ. Họ đi đào xới, họ tìm ra
được những bức tượng hay những tác phẩm đã gãy nát,
đã bể vỡ ra nhiều miếng. Họ đem sự hiểu biết và óc
thông minh của họ mà ráp lại, và họ có thể tái tạo được
hình dạng của pho tượng ngày xưa. Đôi khi pho tượng mất
một phần thì họ căn cứ vào phong cách nghệ thuật của
những phần khác, của thời đại đó, để tạo lập lại
phần bị mất cho phù hợp với nghệ thuật của toàn thể.
Trong khi học Kinh, chúng ta cũng phải làm như vậy. Chúng ta
dùng hai dụng cụ là nhị đế và duyên khởi trong khi đọc
kinh thì có thể thiết lập lại được nguyên văn hoặc nguyên
ý của Bụt. Nhiều khi do sự truyền tri mà có những Kinh bị
biến dạng, giống như những pho tượng đã bị vỡ.
Một
trong năm uẩn là Tưởng, tức là tri giác, mà tri giác gồm
đối tượng của tri giác và chủ thể của tri giác. Đối
tượng của tri giác là tất cả vũ trụ, tất cả năm uẩn.
Những đối tượng đó khổ hay không là tùy theo Tưởng, theo
tri giác của ta. Trong Kinh Tam Chuyển Pháp Luân Bụt có đưa
ra một vài ví dụ về khổ: sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, muốn mà không được là khổ, ghét
nhau mà phải gần nhau là khổ, thương nhau mà phải xa nhau
là khổ. Tóm lại, chính sự vướng mắc vào năm uẩn là khổ.
Có danh từ thủ uẩn, upadana skandhas. Thủ có nghĩa là vướng
mắc. Khi vướng mắc vào năm uẩn thì những đối tượng
đó tạo khổ đau, còn nếu đối với những uẩn ấy mà chúng
ta không bị thủ thì không sao. Không phải thủ uẩn thì chúng
ta có thể gọi một tên mới là xả uẩn (upeksa skandhas).
Một
người phát tâm xuất gia là phải từ bỏ cả gia đình, cha
mẹ và anh em của mình. Khi nhìn vào ta có thể coi đó là khổ,
vì những người mình thương mà mình không được sống gần
là khổ. Thương cha mẹ và anh em mà phải bỏ cha mẹ và anh
em ra đi là khổ. Nhưng có thể người đó thấy rằng xuất
gia có nghĩa là sẽ có một cơ hội giúp bồ đề tâm của
mình phát triển, do đó sau này mình sẽ độ được những
người thân của mình. Với tâm niệm như vậy thì trong lòng
không đau khổ gì nữa, mà niềm hy vọng lớn hơn. Cho nên
tất cả đều do Tưởng, do nhận thức của ta. Nhiều người
không xuất gia, họ lấy chồng, lấy vợ, sinh con, rồi không
có thì giờ để chăm sóc cho cha mẹ. Không xuất gia cũng đâu
được gần gũi cha mẹ? Có nhiều người xuất gia được
thảnh thơi, nhẹ nhàng, họ có nhiều cơ hội gần gũi, giáo
hóa cho cha mẹ, anh em họ. Những người đó đâu phải là
những người khổ? Cho nên cái khổ tùy thuộc vào nhận thức
và tri giác. Cũng vậy, nguyên do cái đau khổ của con chó không
phải là cục đá, mà là người ném đá. Chúng ta đọc Kinh,
đọc Luận, phải sử dụng những dụng cụ nhị đế và duyên
khởi để tìm hiểu, đừng đọc gì tin ngay đó; y kinh giải
nghĩa, tam thế Phật oan.
HÀNH
TRÌ THỊ CHUYỂN
Vậy
chuyển hóa cái khổ như thế nào? Khi chúng ta thấy không an
lạc thì phải biết quán chiếu và nhận thức được thực
chất cái khổ của mình. Cách thực tập đó gọi là thị
chuyển. Chúng ta nhận thức bằng chánh niệm. Phải nhận thức
được bản chất và nội dung niềm đau khổ. Như người đau
bụng thì phải biết đó là chứng bệnh đau bụng nào. Nếu
ho lao thì phải biết là bệnh ho lao đến thời kỳ nào. Đó
là nhận diện khổ, thực tập về chân lý thứ nhất, khổ
đế. Chân lý thứ nhất liên hệ với chân lý thứ ba là diệt,
tức là hạnh phúc. Tiếp tục bằng việc so sánh khổ và không
khổ: ngày xưa tôi không bệnh, bây giờ tôi có bệnh này.
Người kia không khổ, tôi có nỗi khổ này. Nhìn vào cái này
khổ, ta thấy cái kia là diệt. Đó là nhận thức duyên khởi.
Phải nhìn sâu bằng chánh niệm chứ không phải chỉ nói suông
là đủ.
Có
chánh niệm rồi, nhìn vào khổ một cách sâu xa ta thấy được
tập. Trong Kinh nói tập là sự vướng mắc, tham ái. Nhưng
quán chiếu ta sẽ thấy rằng không chỉ có ái nhiễm là nguyên
do gây khổ. Ham muốn, vướng mắc tạo ra khổ, nhưng còn có
những nguyên do khác. Si mê và giận dữ cũng là những nguyên
do gây khổ. Đi tìm nguyên do của khổ, chúng ta thấy có ái
dục, sân hận, nghi ngờ, kiêu mạn, ác kiến (tham, sân, si,
mạn, nghi, kiến). Khổ do tri giác sai lầm của chúng ta mà
có. Tri giác sai lầm là vọng tưởng, vô minh. Vì vô minh cho
nên mới có sân giận, nghi ngờ, mới có ác kiến, có kiêu
mạn và ái dục. Cho nên vô minh là gốc rễ của khổ đau,
gây ra những phiền não khác như tham, sân, si, mạn và ác kiến.
Dùng
ánh sáng của duyên sinh soi chiếu, khi nhìn trong khổ ta phải
thấy lạc. Lạc là mặt bên kia của thực tại khổ. Nhức
đầu, đau răng là khổ. Những lúc không nhức đầu, không
đau răng có thể gọi là diệt, tức là sự vắng mặt của
nhức đầu và đau răng. Khi nhức đầu hay đau răng chúng ta
muốn trở lại trạng thái diệt, không nhức đầu, không đau
răng. Nhìn lại, đôi khi cái diệt ở sẵn trong ta mà ta không
thấy, cho nên có diệt cũng như không, có hạnh phúc mà như
không có hạnh phúc. Khi nhức đầu ta đau khổ, mà khi không
nhức đầu ta lại không thấy hạnh phúc, không biết đấy
là diệt. Những lúc đau răng là khổ và ta nghĩ không đau
răng là sướng. Nhưng đến khi không đau răng ta vẫn không
biết sung sướng. Con người thường sống trong quên lãng như
vậy. Sống trong hạnh phúc cũng không nhìn thấy hạnh phúc,
và sống trong khổ đau cũng không biết đó là khổ đau. Không
nhận diện được đau khổ nên ta gánh cái khổ suốt đời.
Khi
đưa ánh sáng chánh niệm vào khổ ta nhận diện được khổ,
đưa ánh sáng chánh niệm vào diệt thì nhận diện được
hạnh phúc. Đây là sự thực tập hàng ngày. Trong những bài
tập ở Làng Hồng có một câu hỏi: “có những niềm vui
nào trong đời sống hàng ngày mà chúng ta có thể sử dụng
để nuôi dưỡng thân tâm của mình, tạo nên hạnh phúc cho
mình và cho mọi người? Trong đời sống hàng ngày có những
cơ hội để ta nuôi dưỡng mình và nuôi dưỡng người bằng
những niềm vui đó hay không?” Đó là thực tập quán chiếu
về diệt. Không nên nghĩ rằng trong ta không có sẵn diệt.
Trong ta vốn có diệt, tức là vốn có hạnh phúc, có những
điều kiện của hạnh phúc. Ta có hai mắt đang sáng, có hai
chân đang khoẻ, ta có hai lá phổi không bị ung thư, ta có
thể đi thiền hành, có thể thở, có thể mỉm cười. Nếu
không cảm thấy hạnh phúc, là vì ta coi thường trạng thái
diệt mà ta đang có. Chỉ khi nào hạnh phúc mất đi, cái diệt
không còn nữa, thì lúc đó ta mới than trời than đất. Vì
ta không để tâm chú ý tới, nên cái diệt có đó cũng như
không. Thật sự là đã có mặt của chân đế thứ ba, có
mặt của diệt, của niềm vui, của an lạc bây giờ và ở
đây. Vì không có chánh niệm nên ta không tiếp xúc được
với hạnh phúc. Đó là bi kịch lớn của cuộc đời: con người
đánh mất khả năng sống hạnh phúc. Con người chỉ biết
than khổ thôi. Con người không có khả năng tiếp xúc với
hạnh phúc, thưởng thức hạnh phúc, vì không biết sống trong
chánh niệm. Có chánh niệm ta có thể tiếp xúc với hạnh
phúc đang có sẵn để ngày mai không hối tiếc. Trong cuốn
Bông Hồng Cài Áo, tôi nói có bà mẹ là một tặng phẩm mầu
nhiệm mà nếu ta không thấy sung sướng thì dù có làm ngọc
hoàng thượng đế chắc cũng không sung sướng. Có mẹ nhưng
không ý thức rằng mình có mẹ, thì cũng như là không có
mẹ. Vậy nên chánh niệm chiếu sáng sự thật thứ nhất là
Khổ và cũng chiếu sáng cả sự thật thứ ba là Diệt. Cho
nên sự tu tập của chúng ta không phải chỉ là tiếp xúc
với khổ, nhận thức cái khổ và chuyển hoá cái khổ mà
thôi. Chúng ta phải tiếp xúc với cả trạng thái không khổ,
nuôi dưỡng cái không khổ, và tự nuôi dưỡng mình bằng
những trạng thái không khổ. Phải thực tập chuyển hóa khổ
và thực tập an lạc cùng lúc. Khi nói chuyện với các nhà
trị liệu tâm lý, tôi thường hỏi: tại sao khi gặp người
bệnh thì các ông, các bà chỉ nói về những chuyện khổ
đau của người ta thôi? Tại sao quý vị không tìm cách tiếp
xúc với những hạt giống hạnh phúc của người bệnh? Hãy
giúp cho họ tiếp xúc được với những hạt giống của niềm
an lạc trong nội tâm và trong đời sống chung quanh họ, như
vậy trị liệu dễ hơn. Tại sao quý vị không mời bệnh nhân
của quý vị đi thiền hành, dự thiền trà hay giúp họ tiếp
xúc được với những niềm vui sẵn có? Đó cũng là một
cách thực tập trị liệu.
RÁC
VÀ HOA
Khi
chúng ta quán chiếu, khi chúng ta dùng năng lượng của chánh
niệm để tiếp xúc với khổ và với trạng thái không khổ
của mình, thì bắt đầu từ những niềm vui và nỗi khổ
hời hợt, chúng ta dần dần thấy trong khổ có thể tìm thấy
vui, và trong vui có khổ. Nhờ thế mà tiếp xúc được với
mặt kia của thực tại, tức là chân đế. Do đó, càng đi
sâu trong quá trình quán sát ta càng đạt tới niềm vui chân
thật.
Ngoài
khổ thọ và lạc thọ, chúng ta có những xả thọ. Khi nói
đến diệt ta có thể phân biệt hai trạng thái: vui và không
khổ, tức là lạc thọ và xả thọ. Trong đời sống hàng
ngày, chúng ta rất lơ là, quên lãng những xả thọ. Dùng chánh
niệm để tiếp xúc với xả thọ, tự nhiên chúng ta biến
xả thọ thành lạc thọ. Trạng thái không nhức răng, không
đau đầu, hành động bước những bước chân trên trái đất,
thở không khí trong lành, đó là những xả thọ có thể biến
thành lạc thọ. Đó là tạo tác niềm vui để chuyển hóa
khổ đau.
Hãy
ví khổ như rác, và hạnh phúc như những đóa hoa. Chúng ta
biết rằng hoa để đó lâu ngày sẽ trở thành rác. Hạnh
phúc, an lạc của chúng ta nếu không được nuôi dưỡng sẽ
biến thành đau khổ rất dễ dàng. Và đứng trên bình diện
tục đế, thì hoa nào một ngày kia thế nào cũng thành rác.
Ngược lại, chúng ta có thể dùng rác để bón cho cây nở
hoa. Chuyển hóa khổ đau chính là biết cách biến rác trở
lại thành hoa. Một mặt phải bảo vệ hoa, mặt khác phải
chuyển hóa rác, chúng ta cần thực tập đồng thời cả hai.
Có những điều kiện của hạnh phúc thì chúng ta phải nhận
thức, nuôi dưỡng, bảo trì. Mặt khác, khi hoa trở thành rác,
vì tất cả đều vô thường, thì chúng ta phải tìm cách chuyển
hóa rác trở lại thành hoa. Bụt Thích Ca Mâu Ni vốn cũng có
một cơ thể, cũng có một đời sống tâm lý như mọi người.
Nhưng Ngài khác với chúng ta ở chỗ là khi những đoá hoa
ở trong Ngài biến thành rác thì Ngài biết chuyển hóa chúng
lại thành hoa. Chúng ta không biết bảo trì hạnh phúc, không
biết chuyển hóa khổ đau. Bụt không sợ hãi, còn chúng ta
sợ hãi.
Trong
quá trình tu tập và chuyển hóa trên, chúng ta thấy được
một điều, là hoa với rác không rời nhau. Có hoa thì có rác,
có rác thì phải có hoa. Đó là nguyên lý bất nhị. Do đó,
chúng ta nhìn hoa và rác bằng con mắt không phân biệt, không
sợ hãi. Bụt nhìn phiền não Ngài thấy bồ đề. Chúng ta
chạy trốn khổ đau để tìm hạnh phúc, chạy trốn thứ này
đi tìm thứ khác, vì chúng ta dùng con mắt nhị nguyên. Chúng
ta chưa thấy được rằng sở dĩ có hạnh phúc vì có khổ
đau, và có khổ đau vì có hạnh phúc. Trong khi đó Bụt nhìn
bằng con mắt bất nhị, Ngài thấy rõ ràng hạnh phúc với
khổ đau nương vào nhau, vì cái này có nên có cái kia.
Thực
tập bảo trì hoa và chuyển hóa rác, chúng ta học được tính
cách bất nhị. Nhìn vào trong hoa, chúng ta sẽ thấy những
cọng rác tương lai, nhìn vào đống rác, chúng ta thấy những
bông hoa sẽ được tưới bón. Hạnh phúc và khổ đau cũng
vậy. Quá trình tu tập quán chiếu về khổ đế và diệt đế
giúp chúng ta dần dần tiếp xúc được với chân đế. Ta
không thấy sợ cái gọi là khổ nữa. Mà cũng không vướng
mắc vào cái gọi là lạc nữa. Chúng ta vốn là những người
phàm phu, muốn chạy trốn khổ, muốn đuổi theo lạc. Nhưng
khi thực tập đạo Bụt chúng ta tìm ra một sự thật, đó
là hoa và rác nhất thể, khổ đau và hạnh phúc nương nhau
mà hiện diện. Chúng ta tiếp xúc được với chân đế của
khổ và của diệt.
NIỀM
VUI XUẤT THẾ
Tóm
lại việc thực tập của chúng ta bắt đầu từ quán chiếu
khổ và lạc trong phạm vi tục đế. Nhờ quá trình thực tập
đó, dần dần chúng ta tiếp xúc được với chân đế của
khổ và lạc. Khi thấy được bản chất tương tức và duyên
sinh của khổ và lạc rồi, chúng ta đạt tới niềm an vui,
sự vững chãi và thảnh thơi mà lúc đầu chúng ta không có.
Bụt
là bậc giác ngô, đã nhìn thấu suốt được bản chất của
khổ nên không còn sợ khổ nữa, đã nhìn thấu suốt bản
chất của lạc rồi thì không bị vướng mắc vào lạc nữa.
Ngài đạt tới niềm vui thanh thoát, vững chãi và an nhiên,
không sợ hãi. Niềm vui đó là niềm vui chân thật, niềm vui
của niết bàn: Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc. Lạc
trong câu này, là lạc ở bình diện chân đế, siêu việt khổ
và lạc của tục đế rồi.
Nhưng
chúng ta không quên rằng chân đế không xa lìa tục đế. Và
cũng không nên quên rằng người bình thường không thể bỏ
quá trình tu tập ở cõi tục đế, không thể nhẩy thẳng
vào vùng ánh sáng hiểu biết của chân đế. Trong đạo Phật
có nhiều danh từ nói về hai mặt của thực tại: một
mặt thuộc về tục đế, một mặt thuộc về chân đế. Tông
Thiên Thai có danh từ tích môn để chỉ tục đế, và bản
môn chỉ chân đế. Chúng ta có danh từ hữu lậu nói về tục
đế. Hữu lậu (Asrava) có nghĩa là nước còn chảy ra, còn
rỉ ra, bị sa xuống, còn đi vòng quanh. Ngược lại là vô
lậu (Anasrava). Ngoài ra còn dùng các từ thế gian và xuất
thế gian. Hữu lậu thuộc về thế gian, vô lậu thuộc về
xuất thế gian.
Do
sự thực tập nên niềm vui thế gian chuyển hóa từ từ, trở
thành vững chãi hơn, thảnh thơi hơn, để sau cùng trở thành
niềm vui xuất thế gian. Niềm vui xuất thế gian không còn
là vui đối nghịch với khổ nữa. Sự giải thoát này khiến
những thứ mà trước đây ta gọi là khổ, là sinh, lão, bệnh,
tử, thì nay được nhận ra không còn là khổ nữa. Nhận thức
của ta đã thay đổi, ta đã phá tung phiền não. Nếu cần
sinh ra thì sinh, đến lúc già thì già, nếu phải bệnh thì
bệnh, rồi khi chết thì chết. Người giác ngộ thấy trên
bề mặt tục đế có sinh, lão, bệnh, tử nhưng trong chiều
sâu chân đế thì không còn sinh, lão, bệnh, tử nữa.
Cho
nên khi tụng Tâm Kinh, chúng ta đọc những câu rất khó hiểu
như là: không có mặt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc,
thanh, hương, vị, xúc pháp; không có khổ, tập, diệt, đạo;
không có trí, không có đắc, không có sở đắc. Đó là từ
sự thật thế gian đã đi sang xuất thế gian, từ thế giới
hữu lậu chuyển qua cõi vô lậu.
Chân
lý thứ ba ban đầu được nhận thức như là sự vắng mặt
của khổ đau. Khi nhìn trên bình diện sự thật xuất thế
gian thì Diệt không phải chỉ là sự vắng mặt của khổ
đau mà thôi, nó là sự vắng mặt của cả cái ngược lại
với khổ đau, nó vượt thoát tính cách nhị nguyên giữa khổ
và vui. Trong Kinh thường nói các vị bồ tát cưỡi trên các
đợt sóng sinh tử mà đi, là ý nghĩa như vậy.
Tu
tập đạo lý tứ đế về phương diện thế gian cho đủ sâu
sắc thì có thể đạt tới đạo lý tứ đế trên phương
diện xuất thế gian. Đạo lý tứ đế có thể diễn bày như
là đạo lý thế gian hướng thượng, đạo lý tứ đế cũng
có thể diễn bày như là đạo lý xuất thế gian siêu việt.
Nhưng hai mặt đó không chống đối nhau. Thực tập trong cõi
tục đế là con đường dẫn tới chân đế.
CHÚ
THÍCH
* Đại
Thiên nêu ra năm nhận xét để phê bình về một vị A la hán,
ông đã tạo ra sóng gió lớn trong tăng đoàn.
Phê
bình thứ nhất là dư sở dụ. Dư sở dụ có nghĩa là tuy
thầy chứng quả A la hán rồi nhưng mà vẫn có thể bị những
loài không phải loài người, tới dụ dỗ trong giấc mơ. Dầu
thầy chứng quả vị A la hán rồi, ông nói, mà trong giấc
mơ vẫn còn thấy ôm một nàng tiên và vẫn bị xuất tinh.
Một bậc A la hán vẫn có thể bị kẻ khác dụ dỗ, gọi
là dư sở dụ.
Phê
bình thứ hai là vô tri. Tuy rằng đã chứng A la hán rồi nhưng
còn nhiều thứ thầy không biết. Ví dụ tôi đưa bông hoa
này ra hỏi tên gì, thầy đâu có nói được. Cũng như trên
đời có nhiều cái thầy không biết, vậy một vị A la hán
có những cái không biết, gọi là vô tri. Các thầy phía Thượng
toạ bộ bác bỏ lời phê phán trên bằng sự phân biệt hai
loại không biết. Một thứ là nhiễm ô vô tri, thứ hai là
bất nhiễm ô vô tri. Nhiễm ô vô tri là không biết do sự
mê mờ, vô minh. Nếu tôi không biết tên bông hoa này, điều
đó không dính líu gì tới sự giác ngộ của tôi, không phải
vì vô minh mà không biết, đó chỉ là bất nhiễm ô vô tri.
A la hán có thể còn những bất nhiễm ô vô tri mà không vướng
nhiễm ô vô tri.
Phê
phán thứ ba là do dự. Do dự tức là vẫn còn nghi ngờ. Nơi
con người của A la hán vẫn còn những điểm nghi hoặc, chưa
giải quyết được hết những nghi ngờ.
Thứ
tư là tha linh nhập. Tha linh nhập nghĩa là thầy đắc quả
A la hán rồi mà tự mình không biết, phải có người khác
chỉ cho mới biết.
Điểm
thứ năm là đạo nhân thanh cố khởi, tức là thầy phải
lập đi lập lại hoài:” đời là khổ, cái này là khổ”
nếu không thì không thấy giải thoát.
Câu
đạo nhân thanh cố khởi được truyền lại trong lời phê
phán trên, cho thấy cách hành trì này rất phổ biến trong
thời đại đó. Cách hành trì phổ thông này có thể ảnh
hưởng tới việc lập thuyết của các luận sư đương thời,
và việc sao chép kinh điển có thể vì vậy nên bị sai lạc
đi.
**
Ba pháp ấn theo đạo Bụt Bắc truyền là vô thường, vô ngã
và niết bàn. Nhưng theo đạo Bụt Nam truyền là vô thường,
khổ và vô ngã. Pháp ấn tức là những tính cách đích thực
của thế giới thực tại theo giáo pháp của Bụt. Trong Kinh
có một đoạn được nhắc lại ở nhiều nơi:
- Này
các vị khất sĩ, sự vật là thường hay là vô thường?
- Bạch
đức Thế Tôn, sự vật là vô thường.
- Sự
vật vô thường, vậy là khổ hay là không khổ?
- Bạch
đức Thế Tôn, sự vật vô thường cho nên chúng là khổ.
- Sự
vật là vô ngã hay không vô ngã? Nếu sự vật là khổ thì
ta có thể nói cái này là ngã được không?
- Bạch
đức Thế Tôn, không được. Sự vật là khổ thì ta không
thể nói rằng cái này là ngã được.
Lý
luận trong đoạn trên “vì vô thường cho nên khổ,” “vì
khổ cho nên vô ngã.” Đoạn kinh trên được nhắc lại hàng
mấy trăm lần trong Kinh điển bộ phái Theravada cũng như bộ
phái Sarvastivada. Đoạn này có thể đã bị ảnh hưởng của
tư trào thời đại đó, khi ý niệm về khổ trở thành quá
quan trọng. Kết quả là Tam Pháp Ấn thay vì gồm vô thường,
vô ngã, niết bàn đã trở thành vô thường, khổ và vô ngã,
trong Phật giáo Nam truyền.
Nhưng
cũng có những kinh bản trong đó nói Tam Pháp Ấn gồm Vô Thường,
Vô Ngã và Niết Bàn. Trong bộ Kinh A Hàm, truyền thống Bắc
Tông, còn lại một Kinh định nghĩa Tam Pháp Ấn là vô thường,
vô ngã và niết bàn, định nghĩa này được lập lại bốn,
năm lần. Chỉ còn lại một Kinh đó thôi, tất cả những
Kinh khác đều nói là vô thường, khổ và vô ngã.
Ngoài
ra, ngài Long Thọ (Nagarjuna), sống vào thế kỷ thứ hai sau
Thiên Chúa, đã nói tới Tam Pháp Ấn, và thầy cũng nói gồm
vô thường, vô ngã và niết bàn. Ngài Long Thọ đã tham khảo
đầy đủ rất nhiều các văn bản kinh tạng Phật giáo nguyên
thuỷ. Ngài sinh trước thầy Phật Âm (Buddhaghosa) và thầy
Thế Thân (Vasubangdu) 300 tuổi. Hai tác phẩm luận nổi tiếng
nhất trong giới Phật học bấy giờ là Thanh Tịnh Đạo Luận
(Visuddhi Maga) do thầy Phật Âm trứ tác, và tác phẩm A Tỳ
Đạt Ma Câu Xá Luận (t. Phạn) của thầy Thế Thân. Ta biết
rằng Đại Trí Độ Luận (Mahaprajnaparamita) của thầy Long
Thọ ra đời 300 năm sớm hơn hai cuốn kia.