02
Phật
Pháp Căn Bản
Bài
thứ hai
Hôm
nay là ngày 25 tháng 11 năm 1993, chúng ta ở tại Xóm Thượng,
trong khóa tu mùa Đông. Hôm nay tôi muốn trình bày thêm về
cách thức tu học Phật, sau đó sẽ nói về lý duyên khởi.
HỌC
PHẬT PHẢI THẤY LÒNG NHẸ NHÀNG
Khi
học Phật pháp, chúng ta phải làm cách nào để giáo lý của
Bụt giúp cho tâm tư ta nhẹ nhàng hơn, chứ không làm cho ta
nặng nề thêm. Những bài pháp thoại có thể khiến cho đầu
óc chúng ta thêm nặng nề nếu chúng ta chỉ học giáo lý với
mục đích chất chứa thêm kiến thức. Phương pháp đó không
hay. Trái lại, trong khi học mà ta cảm thấy càng ngày càng
nhẹ nhàng hơn thì như thế chúng ta đang theo đúng đường.
Nhẹ nhàng hơn vì những điều ta học có tác dụng tháo gỡ
và phá bỏ những thấy nghe và hiểu biết sai lầm. Nghe tới
đâu, học tới đâu, ta cảm thấy nhẹ nhàng và thoải mái
tới đó.
Trong
chúng ta vốn có nhiều mối vướng víu, nhiều chỗ bế tắc.
Những cái kẹt và bế tắc ấy do tri giác sai lầm hoặc sự
hiểu biết thiếu sót gây ra. Tri giác và hiểu biết sai lầm
luôn luôn tạo ra những bế tắc, rồi từ đó sinh ra những
thành kiến, những ngộ nhận, khiến tâm tư nặng nề thêm.
Vì tâm tư nặng nề cho nên ngay trong đời sống hàng ngày
chúng ta đau khổ, rồi lại gây đau khổ cho những người
chung quanh. Cho nên học Phật không cốt chứa nặng thêm những
kiến thức. Học là để có một cơ hội đưa giáo lý vào
trong tâm, phá những bế tắc, dẹp những vướng mắc. Như
khi ánh mặt trời lên thì tuyết băng tan. Sau khi nghe một bài
giảng, học một cuốn kinh mà tâm tư cảm thấy nhẹ nhàng,
thoải mái hơn, thì chúng ta đã thừa hưởng được bài học
từ cuốn kinh hay từ bài giảng đó.
Lần
trước chúng ta học về nhị đế, hai loại chân lý, và tứ
tất đàn, bốn tiêu chuẩn về sự thật trong kinh điển. Sau
bài học đó, nhiều người có thể nghĩ rằng họ mới học
thêm được hai khái niệm lý thuyết là nhị đế và tứ tất
đàn. Nhưng biết hai điều đó rồi mà không cảm thấy lòng
nhẹ nhàng hơn, tức là chưa học. Cảm thấy lòng thư thái
nhẹ nhàng hơn, là chúng ta đã học và đã có thêm hạnh phúc.
Bài giảng về nhị đế và tứ tất đàn đã phá vỡ, đã
dẹp bỏ cho chúng ta nhiều mối nghi hoặc và bối rối trong
lòng. Chúng ta thở phào ra, nói rằng: Thảo nào, ngày xưa mình
bị kẹt, ngày xưa mình thấy lộn xộn, ngày xưa mình còn
chấp điều này điều kia. Bây giờ mình thấy trong lòng khoẻ
khoắn, khi nghe, khi nói, mình có thái độ rộng rãi hơn, tâm
hồn nhẹ nhõm hơn. Học Bụt để tâm ta thư thái nhẹ nhàng
mới đúng. Trong đời sống hàng ngày, khi nghe và khi nói, chúng
ta sẽ có một thái độ ung dung, một tinh thần cởi mở và
nhẹ nhàng, thì trong cách tiếp xử chúng ta mới không tạo
ra thêm khổ đau cho mình và cho người.
Chúng
ta biết rằng Bụt là một người có tuệ giác và biện tài.
Vậy mà trong thời đại của Ngài, nhiều người vẫn hiểu
lầm. Nhiều khi Bụt cũng chỉ mỉm cười, không nói gì được
nữa. Những sự thật Bụt muốn dạy chúng ta, Ngài phải diễn
bày qua các trường hợp cụ thể. Bụt đã dùng tuệ giác
của mình để quán chiếu căn cơ người đương thời, và
Ngài đã đưa ra những lời dạy có công dụng tháo gỡ cho
họ. Cố nhiên khi Bụt nói với người này thì người khác
cũng nghe và có thể họ không tiếp nhận được vì không
ở trong cùng hoàn cảnh. Vì vậy nên đã có người hiểu lầm
Bụt.
Một
hôm có một nhà triết học tới hỏi Bụt nhiều câu hỏi
nhưng Ngài không trả lời. Ông ta hỏi rằng:”Có Ngã không?”
Bụt không nói gì. “Hay là không có Ngã?” Ngài cũng im lặng.
Sau khi ông khách đi rồi, Thầy A Nan mới hỏi:”Bạch đức
Thế Tôn, tại sao Ngài không trả lời nhà thông thái đó?
Ngài thường dạy chúng con về vô ngã, tại sao Ngài không
nói với ông ta là không có ngã ?” Bụt trả lời rằng :”
Vị này tới để tìm một lý thuyết, để chờ tôi xác nhận
lý thuyết vô ngã. Điều tôi dạy không phải là lý thuyết.
Tôi dạy phương pháp giải thoát khỏi khổ đau. Nếu nhìn
phương pháp của tôi như một lý thuyết thì rất nhầm. Cho
nên khi ông ta hỏi có ngã không, tôi không trả lời, mà khi
ông ta hỏi có phải vô ngã không, tôi cũng không trả lời.”
Thái độ im lặng của Bụt phát xuất từ nhận xét của Ngài
là người kia không đi tìm phương pháp tu học, người kia
đang đi tìm một chủ thuyết. Xác nhận một chủ thuyết CÓ
NGÃ hay chủ thuyết VÔ NGÃ, đều có thể có hại cho ông ta.
Thà rằng đừng nói gì cả.
Một
lần các đệ tử của Bụt đàm luận với nhau, nói Bụt dạy
như thế này, Bụt dạy như thế khác. “Không, Bụt dạy như
thế này này, không phải như anh vừa nói đâu!” Chắc Bụt
cũng hơi nhức đầu nên Ngài bảo :”Tôi có nói gì đâu!
Trong 45 năm thuyết pháp tôi có nói gì đâu!” Câu nói đó
nó chứng tỏ Ngài cũng ý thức lắm, nói ra cái gì cũng có
thể làm cho người ta kẹt vào cái đó, rồi cứ chấp vào
đó mà tranh luận với nhau. Thành ra Ngài bảo:” Tôi đâu
có nói gì đâu mà các ông cãi nhau như vậy?”
Cho
nên ta phải có thái độ mềm mỏng, phóng khoáng, không cố
chấp thì mới tiếp nhận được giáo lý của Bụt. Khi chúng
ta học về nhị đế hay tứ tất đàn, chúng ta biết rằng
mỗi lời Bụt nói nhắm vào mục tiêu tương đối nào đó,
tháo gỡ một cái kẹt của một người hoặc nhóm người
nào đó. Chúng ta phải thấy được hoàn cảnh của họ mới
mong hiểu được lời tuyên bố của Bụt.
KHÔNG
CẦN CHẤT CHỨA KIẾN THỨC
Có
một thiền sinh sống đã ba năm trong thiền viện rồi nhưng
chưa bao giờ được thầy dạy câu gì gọi là cao siêu như
chân như, bản thể, niết bàn,v.v.. Dạy những chuyện như
ăn cơm trong chánh niệm, đi đứng trong chánh niệm, rửa chén
trong chánh niệm,v.v.. một hồi chú chán quá. Chú mới thưa
với thiền sư: “Bạch thầy, con ở đây ba năm rồi, thầy
chưa dạy cho con cái gì sâu xa hết. Thầy chỉ dạy những
chuyện đi, đứng, nằm, ngồi, nói chuyện, thở và cười
thôi”. Ông thầy thương quá, mới nói:” Chú nhìn kìa, nhìn
cây tùng phía trước sân kia kìa.” Rồi thầy không nói gì
thêm nữa. Sư chú chắc là thất vọng lắm.
Trong
đời sống hàng ngày, nếu ta không thực tập chánh niệm,
nếu ta không tiếp xúc sâu sắc với những gì ở trong ta và
xung quanh ta, thì làm sao ta có thể nói được những chuyện
chân như, bản thể? Những lời đó trống rỗng, chỉ là những
danh từ, những ý niệm trừu tượng mà thôi. Cho nên thiền
sư bảo sư chú hãy nhìn cây tùng ở ngay trước mặt. Hình
ảnh cây tùng trước sân về sau trở thành một đề tài đàm
luận của tăng chúng trong thiền viện. Tiếng đồn đi xa,
các vị học giả ở các nơi cũng nghe nói đến chuyện cây
tùng trước sân. Và mấy chục năm sau vẫn có một vị từ
phương xa trở về, cố hỏi cho ra ý nghĩa chuyện cây tùng
trước sân. Khi tới tu viện thì thiền sư đã viên tịch,
ông ta phải tìm một vị cao đồ của ngài để hỏi. Vị
hành giả đó mới đi gặp tu viện trưởng, hỏi về vụ cây
tùng trước sân ngày xưa. Tu viện trưởng nghĩ: Tại sao vị
hành giả này, từ mấy ngàn cây số tới, không nói về những
chuyện trước mắt mà lại phải lôi một đề tài xưa mấy
chục năm ra hỏi? Ông mỉm cười nhìn hành giả đó, nói:”
Thầy tôi có bao giờ nói tới cây tùng trước sân đâu? Đừng
nói oan cho thầy tôi”. Vị cao đệ muốn chấm dứt những
đàm thoại lăng nhăng về một câu chuyện cách đây bốn,
năm chục năm, để mọi người có thể đối diện với những
vấn đề trực tiếp, cụ thể, ngay bây giờ. Vị cao đệ
đó biết rõ chuyện cây tùng trước sân năm xưa có thật.
Nhưng ông muốn chấm dứt chuyện đó, cắt đứt, coi như nó
không có. Cho nên ông mới nói một câu giống như là nói dối
:” Thầy tôi có nói chuyện cây tùng trước sân hồi nào
đâu?” Đó là ngôn ngữ thiền, nhằm chặt đứt những hý
luận. Cây tùng trước sân là câu chuyện giữa thiền sư và
đệ tử cách đây 40 năm. Và chỉ trong văn mạch giữa hai
thầy trò lúc đó thì câu chuyện mới có ý nghĩa. Còn đứng
ở ngoài nhìn vào thì nó có thể trở thành một câu chuyện
triết học. Nếu mình hiểu được hoàn cảnh của họ thì
mình hiểu luôn được cả lời của thiền sư và thái độ
của vị cao đệ. Thầy đã sinh ra cây tùng trước sân, và
trò nhất định thanh toán cây tùng trước sân, không để
cho người ta bị kẹt vào. Hai thầy trò cùng đi một đường,
đều đúng hết.
Cách
đây chừng 20 năm, lúc đang ở Hòa Lan, có một vị linh mục
hỏi tôi:”Thưa thầy, trong cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa thầy
đã nói rằng...” Rồi ông đọc lên một câu trong Hoa
Sen Trong Biển Lửa, hỏi có phải câu đó có nghĩa như thế
này, nghĩa như thế kia không, v.v.. Lúc đó tôi bỗng dưng trả
lời: “Tôi có viết cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa bao giờ đâu?”
Ông ta ngạc nhiên vô cùng. Cuốn sách đó đề tên tác giả
Nhất Hạnh rõ ràng, mà ông thầy này cũng tên Nhất Hạnh.
Tại sao ông ta nói như vậy? Lúc đó tôi hoàn toàn không nhớ
tới chuyện thiền sư và cây tùng, nhưng tự nhiên tôi có
phản ứng như thế. Có lẽ là trong máu mình có hạt giống
của ngôn ngữ thiền tông, thành khi mở miệng ra mình nói
rất tự nhiên. “Tôi đâu có viết cuốn đó?’
Mà
sự thật lúc đó ở sâu trong lòng tôi, tôi thấy cái ông
Nhất Hạnh tác giả cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa đã đi sang
kiếp khác rồi, còn đây là một Nhất Hạnh khác đang sống.
Tại sao không bàn công chuyện với ông Nhất Hạnh đang sống
đây mà lại chỉ muốn nói chuyện với ông Nhất Hạnh ngày
xưa? Học kinh điển mà không sống ở trong giây phút hiện
tại, không đối diện với những vấn đề của hiện tại,
cứ bị ràng buộc vào những câu chuyện và những ý niệm
ngày xưa, chúng ta sẽ không đi tới đâu cả. Vị linh mục
kể trên cũng đã từng học thiền, nghe tôi nói ông khựng
lại và không hỏi nữa. Câu trả lời phũ phàng quá. Linh mục
là một con người mới, sống trong giờ phút hiện tại. Tôi
cũng là một con người mới, trong giờ phút hiện tại. Tại
sao chúng ta không tiếp xúc và đối thoại với nhau trên căn
bản đó, mà phải lôi ra một cuốn sách mấy chục năm về
trước.
Sở
dĩ tôi kể chuyện này là vì trong giới học Phật, chúng ta
có khuynh hướng chất chứa kiến thức quá nhiều, và càng
học cái hành trang khái niệm càng nhiều, làm cho chúng ta mất
hết tự do và không còn nhẹ nhàng nữa. Bởi vậy tôi đã
nói chúng ta phải học như thế nào để con người của chúng
ta càng ngày càng nhẹ nhàng hơn. Khi quý vị học về tứ diệu
đế thì điều quan trọng nhất là quý vị hiểu được tứ
diệu đế để đem ra áp dụng trong sự tu tập. Còn chuyện
quý vị có thể nói được đế thứ nhất là cái này, đế
thứ hai, thứ ba, thứ tư là cái kia; và trong đế thứ nhất
có thể chia làm bốn cái, cái thứ nhất của bốn cái đó
lại được chia làm bảy món nữa, vân vân.. Mấy cái đó
quý vị có thuộc hay không thuộc, điều này không quan trọng.
Điều quan trọng là quý vị hiểu phương pháp tu tập. Hiểu
xong thì quên hết đi. Nếu muốn nhớ lại một điều gì thì
lật cuốn sách hay cuốn kinh là tìm ra chứ khó gì đâu. Không
cần phải nhớ đủ thứ. Càng học càng nhẹ, càng học càng
vui, càng học ta càng thấy ta bao dung không cố chấp, như vậy
mới hay.
Khi
nghe về nhị đế và tứ tất đàn là chúng ta bắt đầu thấy
nhẹ nhàng rồi. Chúng ta không chấp nữa. Ta biết ta sẽ rất
cẩn thận trong khi nói năng để lời nói của ta có tác dụng
tháo gỡ cho người đối diện. Và khi nghe chúng ta cũng phải
nghe như vậy. Điều người kia đang nói với ta có thể chỉ
nói cho ta nghe thôi, lập lại cho người khác không được.
Ngày xưa thiền sư Triệu Châu nói với đệ tử về Phật
tánh: Con chó có Phật tánh hay không? Kinh điển nói rằng cái
gì cũng có Phật tánh cả. Những loài hữu tình có Phật tánh
đã đành mà đến các loài vô tình như đất đá, cây cỏ
cũng có Phật tánh nữa. Cố nhiên, theo lý luận đó, con chó
thế nào cũng có Phật tánh. Mấy hôm sau có một vị thiền
sinh lên hỏi: “Thưa thầy, con chó có Phật tánh hay không?”
Thiền sư Triệu Châu nói:” Không, con chó làm gì có Phật
tánh.” Cũng chính ông thầy đó ngày hôm trước nói con chó
có Phật tánh, hôm nay ông lại nói không. Thiền sinh này sau
khi nghe tiếng không ( vô) chắc đã thất điên bát đảo. Vì
đã tin chắc rằng con chó có Phật tánh rồi, nên chú đã
lên hỏi thầy cốt để chứng tỏ mình cũng biết về giáo
lý sâu sắc đó, ai ngờ thầy lại nói không. Tại vì sư chú
quen lối chất chứa kiến thức và muốn khoe thầy là mình
cũng hiểu được giáo lý. Thấy được cái kẹt của chú,
thầy mới tặng cho chú một tiếng “không”. Và đó là ngôn
ngữ thiền. Nó có tác dụng tháo gỡ cho người bị vướng
mắc. Nếu chúng ta căn cứ vào lời nói mà bảo rằng
thiền sư này nói thế này đúng, thiền sư kia nói thế
kia sai, là trật cả. Đúng là đúng với ai? Sai là sai với
ai? Có khi nó đúng với người này mà nó sai với người khác.
Đó là ý niệm về bốn tất đàn. Nói với từng người một,
mỗi người có căn cơ, có hoàn cảnh riêng, gọi là các các
vị nhân tất đàn. Muốn giúp một người bằng Phật pháp,
ta phải thấy được căn cơ của người đó. Nếu không biết
căn cơ thì ta không thể giúp ai được.
KHẾ
LÝ CŨNG LÀ KHẾ CƠ
Trong
đạo Bụt có thêm khái niệm về nhị khế, khế lý và khế
cơ. Khế lý nghĩa là phải phù hợp với căn bản đạo Bụt,
không chống lại với giáo lý vô thường, vô ngã và niết
bàn. Thứ hai là khế cơ, có nghĩa là phù hợp với hoàn cảnh,
với tâm lý, với trường hợp của người ta đang muốn giúp
đỡ.
Khi
đứng ra thuyết pháp cho một nhóm người, ta phải quán chiếu
xem họ là những người nào, bối cảnh văn hóa và tôn giáo
của họ như thế nào, họ mang những khổ đau nào, những
vướng mắc nào, lúc đó ta mới nói về giáo lý cho họ được.
Còn nếu đến với một thính chúng mà không có ý niệm gì
về họ, thì ta không nên nói pháp, vì ta không có thể quán
cơ, không thấy căn cơ của người nghe. Một pháp sư giỏi
là một pháp sư biết quán cơ. Không phải mình có một mớ
kiến thức Phật học rồi mình cứ thao thao bất tuyệt, người
ta tiếp nhận được hay không cũng mặc. Đó là không biết
khế cơ, mà lại thiếu cả từ bi. Động cơ thuyết pháp như
thế không phải là lòng từ bi.
Trước
hết, ta phải thấy những con người với những khổ đă,
vướng mắc và khao khát của họ. Sau khi quán cơ, ta mới biết
cần phải đưa ra và hiến tặng giáo lý nào. Dầu trong ta
có chất chứa 2690 bài pháp thoại đã được chế biến sẵn,
đó cũng chưa phải là Phật pháp. Vì Phật pháp đích thật
phải có hai tính chất là khế lý và khế cơ. Nếu không khế
cơ thì chưa chắc đã là khế lý, vì bài giảng đó vô ích,
không trị được bệnh nào cho ai cả. Một ông thầy thuốc
trước khi cho thuốc phải chẩn mạch, phải biết được tình
trạng cơ thể của người bệnh. Người thuyết pháp cũng
vậy, phải thấy được căn cơ của người nghe để đưa
ra những giáo pháp thích hợp. Nói rằng “bài thuyết pháp
này khế lý nhưng không khế cơ” là sai. Vì khi không khế
cơ thì nó cũng không khế lý, dù nó chứa đầy danh từ Phật
học, dù không ai bác bẻ được những lý luận trong đó.
Lấy ngay cả đoạn kinh ra đọc, không thay đổi một chữ
nào cũng chưa chắc là giáo lý đích thật. Vì khi không giúp
được ai an lạc thì nó không phải là giáo lý. Nghĩ cho kỹ
ta thấy rằng khi nào khế cơ thì tất phải khế lý, mà khi
nào thật sự khế lý thì đã khế cơ rồi. Cho nên khế lý
bao hàm khế cơ, mà khế cơ cũng bao hàm khế lý ở trong. Ngay
trong một buổi pháp đàm cũng vậy. Một buổi pháp đàm gồm
một số người với những kiến thức của họ. Những điều
ta nói trong buổi pháp đàm là nói cho những người đó nghe,
chứ không phải nói cho những người ở chỗ khác nghe. Vì
vậy ngôn ngữ của ta cũng phải theo nguyên tắc nhị đế
và tứ tất đàn. Có thể có nhiều điều không nói được,
vì thính chúng này không phải là thính chúng để nghe chuyện
đó. Có những điều ta thấy rõ, đã chứng nghiệm là sự
thật, nhưng chưa thể nói cho họ nghe. Ví dụ như khi ta nói
người cộng sản hay người tư bản cũng là người, người
cộng sản cũng như người tư bản cũng cần được thương,
cũng cần được giúp, cũng cần được chuyển hóa, họ không
phải là kẻ thù của ta. “Kẻ thù của ta là vô minh, là
bạo động, là tham tàn, là cố chấp, kẻ thù của ta không
phải là con người. Con người, dầu là con người tư bản
hay con người cộng sản đều đáng thương, đáng giúp đỡ
cả. “ Những câu nói trên rất đúng với tinh thần đạo
Bụt. Nhưng khi quý vị nói điều đó ra giữa những người
đã đau khổ nhiều quá vì chiến tranh, vì bị đấu tố hoặc
bị tù đầy, thì câu nói đó có thể khiến tâm hồn họ
bị một bức tường ngăn lấp, và họ không thể nào nghe
tiếp được nữa.
Những
điều ta nói mà người khác không nghe được thì không nên
nói, vì nói ra họ cũng không hiểu. Nói những chuyện mà họ
tiếp nhận được thì họ hiểu liền. Cho nên không phải
bất cứ kiến thức nào mình cho là đúng đều có thể nói,
bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Đó là nguyên tắc tứ
tất đàn. Cho nên thuyết pháp cũng như pháp đàm không phải
là một dịp phô diễn kiến thức, mà phải làm sao cho những
người hiện diện được lợi lạc. Có thể nói rằng một
bài giảng, một câu nói phù hợp với chánh pháp thì đồng
thời phải phù hợp với căn cơ của người nghe. Nếu không
phù hợp với căn cơ của người nghe, nếu không giúp tháo
gỡ được cho người đó, nếu không đem lại lợi ích, thì
chưa hẳn đó đã là chánh pháp. Vậy chúng ta đã học được
gì với bài pháp thoại về nhị đế, tứ tất đàn và hai
quy tắc khế hợp, khế cơ và khế lý? Chúng ta học được
rằng phải thực tế, phải bao dung, đừng cố chấp. Chúng
ta phải như không khí, ở đâu cũng thong thả ra vào, không
còn vướng mắc nữa.
DUYÊN
KHỞI
Hôm
nay chúng ta học sơ qua về khái niệm duyên khởi rồi, trong
những bài sau chúng ta sẽ đi vào sâu hơn. Duyên khởi còn
gọi là duyên sinh. Trong đạo Bụt, có khi ta dùng danh từ đạo
lý nhân quả, có khi ta dùng đạo lý duyên khởi hay đạo lý
duyên sinh. Danh từ nào cũng được, nhưng có những danh từ
dễ gây nhiều hiểu lầm hơn.
Ví
dụ như hai chữ nhân quả. Có nhân thì có quả, trồng bắp
thì ra bắp, trồng đậu thì sinh đậu. Nhân đưa tới quả.
Nghe như vậy, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng nhân phải
có trước, và quả sẽ đến sau. Nghĩ như vậy thì ý niệm
nhân quả đã bị đặt trong khuôn khổ thời gian và không
gian. Đứng về mặt không gian, nhân khác, quả khác; đứng
về phương diện thời gian, nhân có trước, quả có sau. Và
đó là một điều chưa chính xác. Sự thật nhân quả không
phải đơn giản như vậy.
Nói
đến nhân quả ta lại còn có khuynh hướng nghĩ rằng chỉ
một cái nhân nào đó cũng có thể sinh ra quả. Điều đó
cũng không đúng, vì không bao giờ một cái nhân duy nhất có
thể đưa tới quả được. Khi nói duyên sinh, chữ duyên có
nghĩa là điều kiện. Dịch sang tiếng Anh là conditions, luôn
luôn viết số nhiều, giúp ta tránh được ý tưởng một nhân
sinh một quả. Chữ sinh trong từ duyên sinh có nghĩa là phát
khởi ra. Một vật phát khởi có thể không cần sinh ra, có
thể nó đã có sẵn rồi, giờ mới biểu hiện ra cho ta thấy.
Chữ khởi này dịch là arising, biểu hiện ra, dấy lên. Conditioned
co-arising là cùng phát hiện ra. Có người dịch là conditioned
production, gần với chữ sinh hơn. Phát có nghĩa là có sẵn
rồi bây giờ chỉ cần biểu lộ ra. Chữ khởi rất hay. Ví
dụ như khi một niềm vui phát khởi thì niềm vui đó không
hẳn là mới được sinh ra, nó chỉ phát hiện thôi. Hạt giống
của niềm vui có sẵn trong ta rồi. Nhưng lâu nay không có tăng
thân, không có thầy có bạn nên hạt giống niềm vui đó không
được tưới tẩm. Bây giờ nhờ có tăng thân, có tu học,
mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt, hạt đậu năm xưa hé miệng
cười, thì niềm vui đó như hạt nẩy mầm, biểu hiện lên.
Như vậy gọi là sinh cũng không đúng, dùng chữ khởi sẽ
thích hợp hơn.
Trong
kinh điển Bụt dùng một thí dụ rất hay là những cọng lau
nương vào nhau. Ví dụ có ba cọng lau nương vào nhau mà đứng,
nếu lấy đi một cọng thì các cọng lau kia sẽ ngã xuống.
Cái này nương vào cái kia mà có, cái kia nương vào cái này
mà có. Hình ảnh giao lô rất nổi tiếng ở trong đạo Bụt.
Giao lô là những cọng lau dựa vào nhau mà đứng vững.
Trong
đạo lý mưới hai duyên khởi mà chúng ta sẽ học sau, thì
vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, v.v..
Chữ duyên ở đây có thể dịch là condition. Thức làm điều
kiện cho danh sắc phát khởi, ta nói “thức duyên danh sắc”.
Nhưng Bụt cũng nói ngược lại: danh sắc làm điều kiện
cho thức tồn tại. Nghĩa là thức duyên danh sắc và danh sắc
duyên thức. Phải thấy hai thứ nương vào nhau mà tồn tại,
không có thứ này thì cũng không có thứ kia. Cho nên phải
vượt thoát khỏi khuôn khổ thời gian, không nghĩ rằng thức
có trước rồi danh sắc có sau. Điều này rất quan trọng.
Thấy sâu sắc về duyên khởi là vượt khỏi ý niệm không
gian và thời gian. Thức không tồn tại biệt lập với danh
sắc và danh sắc không tồn tại biệt lập với thức. Trong
phạm trù không gian, hai cái dung lẫn nhau, trong cái này có
cái kia, và ngược lại. Cho nên ý niệm về tương tức đã
có sẵn ở trong cái giáo lý của đạo Bụt nguyên thủy.
Trong
thế giới khái niệm của chúng ta, ta nghĩ rằng cái nhân nằm
ngoài cái quả và nhân có trước quả. Ví dụ như có con gà
rồi mới có quả trứng. Khi con gà sinh ra trứng rồi, quả
trứng tách khỏi con gà. Đó là cái thấy trong khuôn khổ thời
gian và không gian. Trong giáo lý nguyên thủy, Bụt đã nói rất
rõ về thí dụ giao lô, khi hai cọng lau nương vào nhau, lấy
một cọng này đi thì cọng kia đổ, lấy cọng kia đi thì
cọng này cũng đổ. Cọng này là điều kiện tồn tại cho
cọng kia và cọng kia là điều kiện tồn tại cho cọng này.
Ví dụ mẹ và con. Làm sao một người được gọi là mẹ
nếu người ấy không có con? Và làm sao người đó được
gọi là con nếu không có mẹ? Mẹ và con cùng sinh với nhau
một lần. Giờ phút người này được làm mẹ thì người
kia được làm con. Mà đồng thời mẹ cũng là con. Tại vì
mẹ cũng là con của bà ngoại. Vì vậy, nhân đồng thời là
quả, quả đồng thời là nhân. Cho nên khi thầy A Nan nói:
“Bạch đức Thế Tôn, tính nhân quả rất rõ ràng, mình có
thể hiểu một cách dễ dàng được”, thì Bụt dạy: “Đừng
có nói như vậy, thầy A Nan. Tính nhân quả sâu xa lắm. Đừng
nói là có thể hiểu được dễ dàng.”
Khi
nhìn bằng con mắt không phân biệt, ta không thấy trên hay
dưới, trái hay phải. Khi nhìn một cây bút, ta nghĩ đầu này
là trên thì thế nào cũng phải có đầu dưới, không thể
nào có trên mà không có dưới. Đầu trên là do đầu dưới
phát khởi ra và đầu dưới do đầu trên sinh ra. Trên là nhân,
sinh ra quả là dưới; dưới là nhân sinh ra quả là trên. Bỏ
một cái đi thì cái kia cũng mất. Ý niệm trên phát sinh ra
ý niệm dưới và dưới sinh ra trên, hai cái đồng thời sinh
ra, nên ta có thể dịch ra tiếng Anh là co-arising. Co-arising
là cùng có mặt, nương vào nhau mà có mặt. Bây giờ để
cây bút nằm ngang thì ta thấy có phía trái và có phía phải,
cũng vậy. Hễ có trái là có phải, hễ có phải là có trái.
Phía phải và phía trái tương sinh, tương duyên, tương khởi,
không thể loại bỏ một phía mà giữ phía kia được.
Bụt
đã diễn bày sự thật về lý duyên khởi bằng một câu nói
hết sức đơn giản: “Cái này có cho nên cái kia có.” Không
thấy lời tuyên bố triết học nào về nguyên do vũ trụ mà
đơn giản đến như vậy. “Thử hữu tức bỉ hữu”, câu
này chúng ta đọc hàng trăm lần trong các kinh, Nam tông cũng
như Bắc tông. This being, that is. Cái này có vì cái kia có.
That being, this is. Cái kia có thì cái này có. Vì có trái cho
nên có mặt, vì có mặt cho nên có trái. Lấy một cái đi
thì cái kia mất luôn. “Nhược thử hữu tức bỉ hữu, nhược
thử vô tức bỉ vô, nhược thử sinh tức bỉ sinh, nhược
thử diệt tức bỉ diệt”. Đến cuối thế kỷ thứ 20, thầy
Nhất Hạnh thêm một câu nữa: “cái này như thế này vì
cái kia như thế kia.” Mình nhăn mặt cho nên người kia nhăn
mặt. Mình khó chịu cho nên người kia khó chịu. Soi gương
thì thấy. This is like this because that is like that. Con của Bụt
phải làm giàu thêm cho Bụt, đó là cánh mọc từ thân cây,
không có gì mới lạ.
Các
kinh Nidana dạy về nhân duyên nói có mười hai duyên khởi,
từ vô minh cho đến lão tử. Trong các kinh này Bụt luôn luôn
nhấn mạnh rằng cái này có thì cái kia có, cái kia có thì
cái này có, cả hai nương vào nhau mà hiện hữu. Nhận thức
về duyên khởi trong đạo Bụt vượt lên trên khái niệm thời
gian và không gian, sau này ta sẽ thấy rõ thêm. Ý niệm về
sinh nương vào ý niệm về diệt mà có mặt. Ý niệm về diệt
nương vào ý niệm về sinh mà phát hiện. Vì vậy, thỉnh thoảng
kinh chỉ nói rằng mục đích của sự tu học là đạt tới
vô sinh. Đạt tới vô sinh có nghĩa là đạt tới vô diệt.
Không cần nói tới vô diệt vì vô sinh đã có nghĩa là vô
diệt rồi. Nếu người ta hỏi: đạo Bụt nói gì về sự
sinh khởi của thế giới, của con người thì ta chỉ cần
trả lời :”cái này có vì cái kia có, vạn vật nương nhau
mà phát hiện.“ Rất đơn giản mà có tinh thần khoa học,
không đòi hỏi một niềm tin siêu hình nào hết. Thử hữu
cố bỉ hữu. Câu đó xuất xứ từ kinh số 300 trong Tạp A
Hàm. Samyukta Agama, Đại Tạng Đại Chánh, tập 2, trang 85. Đó
là kinh nói về Trung Đạo.
Đạo
lý duyên khởi được trình bày rất chi li trong các tông phái
đạo Bụt sau này. Trong bộ phái Sarvastivada, tức là Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ, chúng ta thấy có ý niệm về tứ duyên
và lục nhân. Tứ duyên, mà trong Duy Biểu học chúng ta có
học, gồm nhân duyên, tăng thượng duyên, sở duyên duyên và
đẳng vô gián duyên. Sáu nhân là năng tác nhân, câu hữu nhân,
đồng loại nhân, tương ứng nhân, biến hành nhân và dị
thục nhân. Và trong bộ phái Đồng Diệp Bộ, Tamrasatiyah sau
gọi là Theravada, phân biệt ra 24 duyên, pattaya. Đó là căn
bản duyên, cảnh giới duyên, tăng thượng duyên, vô gián duyên,
đẳng vô gián duyên, câu sanh duyên, phổ vi duyên, y duyên,
cận duyên, tiền sinh duyên, hậu sinh duyên, tương tục duyên,
nghiệp duyên, dị thục duyên hay là báo duyên, thực duyên
(thực là ăn), căn duyên, thiền duyên, đạo duyên, tuơng ứng
duyên, bất tương ứng duyên, hữu duyên, phi hữu duyên, ly
duyên và phi ly duyên, tổng cộng 24 duyên. Nhưng điều ta học
hôm nay là tập quán chiếu, để có thể thấy được tánh
duyên khởi của vạn sự vạn vật, để có thể vượt thoát
được ý niệm về không gian và thời gian. Chúng ta không cần
học thuộc 24 duyên đó. Chúng ta phải sống và quán sát trong
đời sống hàng ngày để thấy được cái nhân ở trong quả,
và cái quả ở trong nhân. Thấy được cái này ở trong cái
kia, thấy được cái kia ở trong cái này, thấy mỗi cái chứa
đựng được tất cả, và thấy tất cả mọi cái đều chứa
đựng mỗi cái.
Điều
này rất quan trọng cho sự học hỏi và tu tập của chúng
ta. Để chúng ta thấy được rằng niềm vui chúng ta có hôm
nay có liên hệ với tất cả những gì đang và đã xảy ra
ở trong ta và trong đại chúng quanh ta. Một liên hệ tới tất
cả. Học về khế lý và khế cơ, chúng ta đã thấy ngay rằng
có khế cơ thì đồng thời có khế lý và khi đã thật sự
khế lý rồi thì chắc chắn khế cơ. Hai cái là một. Sau này
trong khi học về tứ diệu đế, bát chánh đạo, ngũ căn,
ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần, chúng
ta đều sẽ thấy như vậy cả. Đây là một cách thức rất
mầu nhiệm, mà chìa khoá do chính Bụt đưa ra, đó là thuyết
duyên sinh (conditioned co-arising). Trong 24 duyên của học phái
Theravada, có tiền sinh duyên và hậu sinh duyên. Tiền sinh là
cái phát khởi trước và hậu sinh là cái phát khởi sau. Có
một hiện tượng, thì trước đó có tiền sinh duyên và sau
đó có hậu sinh duyên. Hai cái đều là duyên cho hiện tượng
ấy cả, không có tiền sinh duyên không được, mà không có
hậu sinh duyên cũng không được. Cái hậu sinh đã là duyên
của cái hiện hữu, cho nên ta nói tiền và hậu không phải
là ý niệm trước và sau trong thời gian. Thuyết Duyên khởi
trong đạo Bụt, xin nhắc lại, vượt ra ngoài ý niệm về
thời gian và không gian.
TƯƠNG
TỨC VÀ TƯƠNG NHẬP
Ý
niệm về tương tức và tương nhập đã bao hàm trong thuyết
duyên khởi của đạo Bụt nguyên thỉ. Tương tức là interbeing
và tương nhập là interpenetration. Thí dụ trong khế lý có
khế cơ, trong khế cơ có khế lý. Khế lý là khế cơ, khế
cơ là khế lý, đó là nguyên tắc tương tức tương nhập
của đạo lý duyên khởi. Không những khi học kinh điển và
giáo lý chúng ta phải sử dụng cái chìa khóa tương tức và
tương nhập, trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng phải
tập nhìn để thực chứng tương tức và tương nhập. Nỗi
buồn vui của chúng ta, trong mỗi giây phút hàng ngày, liên
hệ tới nỗi buồn vui của tất cả những người khác. Khi
chúng ta nở được một nụ cười, chúng ta biết rằng nụ
cười đó từ đâu tới: từ cha mẹ, ông bà, tổ tiên, và
cũng nhờ có các thế hệ tương lai, nhờ tăng thân trong hiện
tại. Hiểu như vậy chúng ta thấy được vai trò của chúng
ta khi làm phát khởi một niềm vui hay một nỗi buồn nơi người
khác. Chúng ta có thể vươn một cánh tay dài để gỡ một
mối kẹt từ 3500 năm về trước, trong chính ta hay trong một
người bạn của ta. Chuyện đó có thể làm được. Tại vì
tất cả đều ở trong ta.
Trong
Tạp A Hàm, kinh 288, Samuytta II, 112, về ví dụ giao lô, Bụt
nói rằng: “ Người nào thấy được tính duyên khởi là
thấy được Bụt, thấy được Bụt trong bản chất.” Cho
nên phải dùng đạo lý duyên khởi như là một cây đuốc
để đi vào trong kho tàng giáo lý đạo Bụt. Khi thấy những
điều truyền tụng sai lầm thì nhờ hiểu đạo lý duyên khởi
ta có thể chỉnh lại.
Chúng
ta bắt đầu khóa tu bằng các bài học về nhị đế, về
tứ tất đàn, để hiểu ngôn ngữ của Bụt. Nhờ thế chúng
ta không bị kẹt vào ý niệm và danh từ. Chúng ta học tiếp
về đạo lý duyên khởi để thấy bản chất của giáo lý
đạo Bụt. Một mặt là học để thấy một chút về ngôn
ngữ của Bụt, một mặt hiểu được một chút về đạo
lý duyên khởi. Với hai ngọn đuốc đó, chúng ta có thể đi
vào ba tạng kinh điển trong một chuyến viếng thăm rất thích
thú để khám phá đạo Bụt. Sau này, những khi nói pháp thoại,
nghe pháp thoại, hay phát biểu trong các buổi pháp đàm, ta
phải nhớ đem những dụng cụ đó theo. Như trong một chuyến
đi thám hiểm rừng sâu, chúng ta phải đem theo con dao rựa,
đôi găng tay hay là một cái đèn pin. Khi chúng ta đi vào rừng
giáo lý của đạo Bụt, truyền lại từ 2500 năm nay, chúng
ta phải có vài hành trang, như nguyên tắc về nhị đế, về
tứ tất đàn và về duyên khởi.
Nói,
phải ý thức được những điều mình đang nói. Quán chiếu,
phải ý thức được điều mình đang quán chiếu. Luôn luôn
áp dụng những nguyên tắc đó. Nghe cũng vậy, phải nghe bằng
những nguyên tắc đó. Sử dụng những nguyên tắc đó thì
ta có thể nhận ra những điều đã truyền tụng sai, những
điều đã bị hiểu lầm. Tuệ giác của ta về duyên khởi,
về nhị đế sẽ hướng dẫn ta trong chuyến đi này.