Hàng
Phật tử chúng ta ai ai cũng biết đến hai chữ “Từ Bi”
(ban vui, cứu khổ), nhưng đa phần chúng ta chưa biết cách
ứng dụng hạnh này trong cuộc sống hằng ngày. Sở dĩ đức
Phật chứng quả chánh đẳng chánh giác cũng nhờ hành hạnh
Từ Bi viên mãn trong biết bao kiếp. Do đó, nhân dịp lễ Phật
Đản, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lời Phật dạy về công
hạnh Từ Bi.
Đôi
khi, chúng ta nghĩ rằng hạnh Từ Bi đó chỉ ban bố với người
khác chứ không phải cho chính mình, gia đình mình. Thật ra,
như lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Tùng Địa Dũng
Xuất, tất cả đều phát xuất từ bên trong mà ra. Nghĩa là
lòng Từ Bi nếu chân thật thì chính mình cảm nhận được
lòng từ bi đó, rồi ảnh hưởng lan truyền đến những người
gần gũi thân cận mình nhất như cha mẹ, con cái, vợ chồng,
anh chị em, bà con quyến thuộc, bạn bè xa gần, và tất cả
mọi loài. Hãy nhìn gợn sóng của một viên đá khi vừa được
ném xuống ao hồ; chỗ mà viên đá đó chạm tới mặt nước
trước nhất thì chỗ đó có gợn sóng mạnh hơn hết mọi
gợn sóng khác (do ảnh hưởng dây chuyền lực của viên đá).
Cũng vậy, hạnh Từ Bi chân thật sẽ có ảnh hưởng mạnh
mẽ với cá nhân, rồi tới gia đình, và đến cộng đồng,
xã hội, muôn loài. Ở đây chúng tôi sẽ bàn chi tiết về
cách thức khởi tâm từ bi, thương tưởng ngay chính thân tâm
mình, đến vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em, bà con quyến
thuộc, bạn bè xa gần, cộng đồng, xã hội, nhân loại, loài
vật, và môi trường.
“Hãy
thương chính mình và sống tỉnh giác trong hiện tại và tương
lai. Trước hết hãy sống trong chánh pháp rồi chỉ dạy người
sau. Để cứu giúp những người lo âu buồn phiền hay những
kẻ tà vạy, trước hết phải làm việc khó nhất, tức là
phải tự giữ tâm chánh trực, ngay thẳng.” - Kinh Pháp
Cú.
Theo
Sinh Học, nói chung con người chúng ta cần có thức ăn nước
uống thích hợp, không khí, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ
điều hòa, v.v… để sinh tồn. Thật vậy, ai ai cũng thương
thân thể mình, nên khi đói thì ăn, khi khát thì uống, khi
mệt thì thở. Tuy nhiên, nếu ăn uống quá mức thì cơ thể
phù mập, còn nếu ăn uống không đủ thì cơ thể yếu đói;
cả hai trường hợp đều đưa đến bịnh tật. Nếu thật
thương thân mình thì chắc chắn mỗi chúng ta phải ăn uống
điều độ, chừng mực, thích hợp với điều kiện của cơ
thể. Tất cả chúng ta đều thương mến, muốn giữ gìn thân
thể này lâu dài dù nó có bị gì đi nữa. Tuy nhiên, đôi
khi chúng ta chỉ nhìn trong giai đoạn ngắn ngủi mà không chịu
nhìn xa; hoặc vì tham mà ăn nhiều khiến bị bịnh to béo rồi
đưa đến những chứng bịnh khác như ung thư, khó thở, v.v…
Điển hình, Cô Carol Yager (1960-1994) ở vùng Flint, MN, cao 5ft
7in, nặng hơn 1600 pounds. Chết vì bịnh thận và nước ứ
trong cơ thể. Hoặc vì ăn uống ít nên thân thể bị bịnh
hoạn vì thiếu chất dinh dưỡng. (Ở đây chúng ta dựa vào
tiêu chuẩn cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ như
ở những xứ Âu-Mỹ; nghĩa là chúng ta có quyền chọn lựa
cho cuộc sống vật chất của mình, chứ không phải dựa vào
tiêu chuẩn cuộc sống vật chất thiếu thốn ở vài xứ Châu
Á- Châu Phi.) Ngoài ra, nhiều khi chúng ta tuy rất thương thân
thể nhưng lại ăn hoặc dùng những chất độc hại như uống
rượu, uống những chất say mê, hay ăn những thức ăn quá
nóng, quá lạnh, quá cứng, v.v… nên cơ thể dễ sanh bịnh.
Vì vậy, đừng cho rằng đức Phật quá khắt khe khi Ngài dạy
chúng ta nên giữ giới thứ năm, tránh dùng rượu chè, độc
tố làm hại thân mình.
Về
phần hít thở, chúng ta hít vào khí oxygen và thở ra khí độc
carbondioxy; nhiều khi chúng ta chưa biết cách hít thở điều
độ nên dễ sanh bịnh; chúng ta nên nhớ rằng thân này vốn
đã tự thở từ khi còn là bào thai trong thai mẹ; lúc trong
thai mẹ, vì chưa đủ sức nên bào thai phải dựa vào hơi
thở của người mẹ mà thở và sống; sau khi chào đời, đứa
bé tự thở và từ từ tập tành quen dần với môi trường
không khí thiên nhiên; đến lứa tuổi thiếu niên hay thanh
niên trở đi, hầu như con người tự thở hoàn toàn; một
lần nữa, nên nhớ rằng bộ máy hô hấp của chúng ta tự
thở để sinh tồn, chứ chúng ta không cần dụng tâm bắt
cơ thể thở, mà chỉ cần để tâm chú ý hơi thở thì tự
nhiên cơ thể chúng ta hít thở điều hòa và sâu; nhờ đó
cơ thể có đủ khí oxygen nuôi toàn thân và tống khứ khí
carbondioxy ô trược ra ngoài, nên nó mới khỏe mạnh.
Nói
chung, nếu thực sự thương thân thể mình thì mỗi chúng ta
phải cố gắng ăn uống điều độ; hít thở, ngủ nghỉ,
làm việc điều hòa; tránh dùng những chất kích thích như
rượu mạnh, cần sa ma túy, hay những độc tố, thì tự nhiên
sinh lý cơ thể sẽ được mạnh khỏe, quân bình.
Tổng
quát, khi thân đói chúng ta cho nó ăn; khi thân khát, thì cho
nó uống; khi thở không đủ thì thở lại điều đặn; khi
mệt thì cho nó nghỉ. Điều hòa được cơ thể thì cũng có
thể điều hòa được sinh lý. Đó là những cách chúng ta
thương tưởng, từ bi thiết thực nhất đối với thân thể
mình. Tuy nhiên, chúng ta lo lắng, thương tưởng, bảo bọc
cơ thể để dùng nó tu huệ tạo phước, vì con người có
khả năng này nhiều hơn so với những chúng sanh khác. (Chư
thiên trên các cõi trời thì chỉ lo hưởng phước, nên từ
từ phước sẽ giảm rồi đọa lạc lên xuống trong vòng sanh
tử. Loài súc sanh thì suốt ngày chỉ nghỉ đến sự sống
còn và chịu bao khổ đau vì cảnh loài mạnh ăn nuốt loài
yếu, v.v…, nên ít có cơ hội tu huệ, tạo phước.) Tuy vậy,
chúng ta nên nhớ lời Phật dạy rằng dù thân người rất
hiếm hoi, khó được, nhưng rốt cuộc rồi nó cũng trở về
cát bụi, nên đừng cố chấp tham luyến nó. Phải thường
quán chiếu nó không thật, ô uế bất tịnh, như điều thứ
nhất Phật dạy trong Tứ Niệm Xứ (bốn nơi cần nhớ tới):
“Quán thân bất tịnh”; chúng ta chỉ dùng nó như chiếc
thuyền đưa mình qua sông mê biển ái. Nhờ đó mà chúng ta
không bị nó sai sử, thúc đẩy chạy theo nhục dục, khiến
mình làm nô lệ suốt đời. Nghĩa là từ bi thương tưởng
thân thể để dùng nó giúp chúng ta tạo phước tu huệ. Giống
như chúng ta lo lắng đổ xăng nhớt hay sửa chữa xe chỉ với
mục đích giữ nó làm phương tiện giúp chúng ta đến sở
làm, đi mua đồ, v.v… nhanh hơn thôi.
Về
phần tâm lý, chúng ta có vô số tâm tình vọng động như
buồn vui, thương ghét, mặc cảm, trầm cảm, căng thẳng, lo
lắng, sợ hãi, v.v… Nếu không tỉnh giác về những kinh nghiệm
tâm lý khổ đau, hay chịu lắng nghe lời Phật dạy về sự
vọng động điên cuồng của những tâm thức đó, hoặc nghe
những sự giải thích của các bác sĩ tâm sinh lý thì chúng
ta thường đồng hóa những tâm tình vọng động đó là mình,
nên cứ chạy theo chúng rồi bị khổ đau mãi. Câu thứ hai
và thứ ba trong Tứ Niệm Xứ có viết: “Quán cảm thọ là
khổ. Quán tâm vô thường”. Dù cảm thọ vui hay buồn cũng
đều đem lại sự bất an cho tâm thức; nghĩa là khi có cảm
thọ buồn thì chắc chắn tâm buồn theo; khi có cảm thọ vui
nhưng nó lại mất đi trong một khoảng khắc sau, thì tâm cũng
cảm thấy buồn; ví dụ, khi xem hay nghe những phim truyện,
bài hát hay một hồi rồi hết thì chúng ta cảm thấy thiếu
thốn, bồn chồn bất an, muốn được xem nghe nữa. Lại nữa,
tâm đây tức là vọng tâm, vọng niệm. Vì chúng chợt khởi
chợt mất như từng làn sóng biển nhấp nhô lên xuống, nên
là vô thường. Ví dụ, khi tâm bực tức nổi lên, chúng ta
thường ngu si nghĩ rằng đó là tâm thật của mình, rồi chửi
mắng, đánh đập, liệng đồ đạc cho hả giận. Tuy nhiên,
chúng ta nhớ câu: “Giận mất khôn” hay “một niệm sân
khởi lên, đốt cháy cả rừng công đức”, v.v… Nghĩa là
tâm sân đó bị dẫn dắt bởi si mê vọng động, nên khiến
thân và khẩu tạo nghiệp xấu. Tuy vậy, tâm sân đó vốn
là vọng động vì nó không ở với chúng ta suốt 24 tiếng
đồng hồ. Trong một ngày, dù bị ai đánh đập, hành hạ,
chửi rủa, áp bức đến đâu, không thể nào chúng ta giữ
tâm sân hận kẻ đó mà không khởi những tâm niệm khác như
cảm thấy đói bụng, buồn, thương, v.v… Tâm niệm tham lam,
ích kỷ, ganh ghét, v.v… cũng lại như thế. Vì vậy, đức
Phật và chư Tổ nhắc nhở chúng ta rằng những tâm tình vọng
động đó vốn là vọng, không thật; giống như nội thù,
chúng thường phá hoại công đức và trí huệ của mình vì
chúng hay dẫn thân và khẩu đi tạo nghiệp xấu. Thật vậy,
mỗi khi những tên nội thù đó khởi lên trong tâm niệm, chúng
ta thường lầm lẫn mà nhận giặc làm con, rồi bị chúng
lừa gạt, làm mất danh dự, phẩm chất, phước báo, v.v…
Ở ngoài đời, nếu nhận giặc làm con thì trước sau gì chúng
ta cũng bị hại. Vì vậy, nếu chúng ta không nhớ đến lời
Phật dạy “Quán tâm vô thường” mà nhẹ dạ thương tình,
để cho chúng dẫn dắt thì đừng hỏi tại sao cứ bị khổ
hoài! Thế nên, để tự cứu độ, việc làm từ bi nhất là
chúng ta phải nhận ra tâm tình lăng xăng là vọng động, không
thật, thường gạt mình. Thế nên, điều từ bi thiết thực
nhất đối với những tâm tình vọng động là khi chúng nổi
lên, chúng ta nên buông xả chúng, hoặc thay chúng bằng những
tâm niệm tích cực như niệm Phật, trì chú, v.v…
Bàn
về chi tiết, những khi vọng niệm hay tâm bịnh giết hại,
ăn cắp, tà dâm, nói láo, v.v… nổi lên, chúng ta biết rằng
chúng sẽ đưa mình đi tạo nghiệp xấu. Do đó, dứt khoát
không thể nào thương tưởng mà phải buông xả chúng, hay
thay chúng bằng những tâm niệm tốt. Ví dụ, khi vọng niệm
giết hại khởi lên, chúng ta hãy buông xả hoặc thay nó bằng
tâm niệm từ bi, thương mến; khi vọng niệm nói láo khởi
lên, phải thay thế nó bằng tâm niệm chất trực ngay thẳng,
v.v… Ngược lại, nếu cứ thương tình để những tâm bình
vọng động dẫn dắt thì trước sau gì chúng ta cũng bị tù
tội, gông cùm, bất tín nhiệm, v.v…
Ngoài
ra, chúng ta phải biết cách dùng tâm này hướng thân mình
như lèo lái con thuyền trên biển cả bao la để tạo phước
như bố thí giúp người hay tu huệ như hành thiền, trì chú,
niệm Phật, v.v… Tăng trưởng phước báo là nhờ việc xả
thân, bố thí giúp người. Tu tập thiền định, niệm Phật,
hay trì chú là để định tâm, giảm thiểu bớt các tâm tình
vọng động để thân và tâm được an lạc, thanh thản. Ngoài
ra, dù chúng ta có từ bi thương tưởng thân mình đến đâu,
nhưng nếu chưa điều phục hay chuyển hóa được tâm tình
vọng động thì cũng không thể lo cho thân mình được. Ví
dụ, những khi thân thể đói khát hay mệt nhọc nếu chúng
ta chuyên chú ăn uống ngủ nghỉ điều độ, buông xả hay
thay thế những vọng niệm bằng lời niệm Phật hay câu chú,
thì chắc chắn thân thể sẽ khỏe mạnh trở lại. Ngược
lại, dù thân có đói khát hay mệt nhọc mà tâm cứ nghĩ suy
lo lắng chuyện này chuyện nọ, không cho thân ăn, hay không
để thân nghỉ, thì thân đó dễ dàng bịnh hoạn. Ví dụ,
lúc thân đói khát, dù có thức ăn, nhưng nếu tâm tức giận
hay ganh ghét ai đó, thì chúng ta cũng ăn không ngon, nuốt không
trôi. Và đêm đến, lúc lẽ ra phải để cho thân nghỉ ngơi,
nhưng tâm lại suy nghĩ, buồn bực bang khuâng, khiến giấc
ngủ chập chờn, bất an.
Tóm
lại, việc thương mình thiết thực nhất là phải dùng lương
dược của Phật pháp để chữa trị tâm bịnh như tham lam,
sân hận, ganh ghét, bỏn xẻn, v.v… cho đến khi được lành
lặn hẳn; tức là chỉ khi nào dứt hết tạp niệm lăng xăng
vọng động thì mới thực sự từ bi với chính mình.
Nhờ
biết từ bi, thương thân và tâm mình nên chúng ta dễ dàng
phát triển tâm từ bi đến những người gần gũi mình nhất
như vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh chị em, cho tới bà con,
bạn bè, v.v…
Làm
sao phát triển tâm từ bi đối với vợ chồng? Vợ chồng
vốn là bạn đời với nhau, nên tất cả những gì muốn cho
mình thì đều phải san xẻ với người phối ngẫu từ vật
chất đến tinh thần. Nhờ biết thân mình cần những gì để
sinh tồn, chúng ta cùng nhau làm việc và san xẻ những thức
ăn nước uống hay đồ đạc với người bạn đời như lời
Phật dạy trong kinh Lễ Lạy Sáu Phương. Nhờ biết mình vẫn
còn nhiều tâm bịnh, nên sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho nhau
và cùng nhau khuyến tấn phát khởi những tâm lành thiện qua
việc tu học Phật pháp như hành thiền, trì chú, niệm Phật.
Cả hai vừa là bạn đời mà vừa là bạn đạo. Ví dụ, bữa
nào đó mà người chồng vì bực tức trong hãng xưởng (như
bị chủ sai làm quá sức hay bị các người bạn đồng nghiệp
lấn áp, v.v…) thì người vợ phải như một cái phao hay điểm
tựa cho chồng mình, bằng cách tìm lời nhỏ nhẹ an ủi, khuyên
lơn và khuyến khích ông ấy vào phòng tịnh tâm, niệm Phật,
hay trì chú để lắng dịu tâm bịnh. Nếu sự việc xảy ra
tương tự với người vợ, thì người chồng cũng nên uyển
chuyển, tùy theo khả năng, hoàn cảnh, tâm tình mà an ủi,
lo lắng cho vợ. Đó là cách phát khởi lòng từ bi đến với
vợ hoặc chồng.
Trong
thời đức Phật còn tại thế, bà hoàng hậu của vua Ba Tư
Nặc có lần hỏi rằng:
-Hoàng
Thượng thương yêu ai nhất!
Nhà
vua trả lời rằng:
-Ta
thương Ái Khanh nhất.
-Vậy,
nếu thiếp có ngoại tình với kẻ khác thì sao?
-Ta
sẽ chém đầu Ái Khanh.
-Như
thế thì Hoàng Thượng chỉ thương yêu chính mình mà thôi.
Qua
lời đối đáp của vua Ba Tư Nặc và bà hoàng hậu, chúng
ta thấy rằng đó là căn bịnh trầm kha của con người: “Chấp
ngã”; làm mọi việc đều nhắm vào sự vị kỷ cá nhân.
Vào
đầu thập niên 80, người dân ở Houston bàng hoàng sửng sốt
trước một thảm cảnh đau buồn xảy ra cho một gia đình
tị nạn Việt Nam. Người đàn ông bị vợ phụ tình đi theo
người yêu ở tiểu bang xa, bỏ ông lại với mấy đứa con
nhỏ. Quá phẫn chí, ông đi mua súng về, dọn cho các con một
bữa ăn thịt gà chiên trước khi bắn vào đầu tất cả.
Bản tin chạy thật lớn trên trang nhất của hai tờ báo lớn
là Houston Chronicle và Houston Post gây chấn động lúc bấy giờ,
với câu hỏi là làm sao một người đàn ông thương con có
thể nhẫn tâm kê súng bắn vào đầu con mình. Dĩ nhiên, nạn
nhân đau đớn nhất có lẽ là người thiếu phụ trong cuộc,
phải trở về lại Houston để lo cho các đám tang sau đó.
Một
thảm cảnh khác xảy ra vào đầu thập niên này, tại một
khu thương mại sầm uất trong cộng đồng người Việt. “Nạn
nhân” lần này cũng là một người đàn ông bị vợ bỏ
bê, xem thường, quá phẫn uất nên xách súng ra và bắn vào
vợ tại nhà hàng của mình, làm thiệt mạng luôn hai người
khác ngồi cùng bàn. Sau này, khi vào tù, ông cũng làm một
bài thơ nói lên lòng thương vợ, gửi ra ngoài để đăng lên
một vài tờ báo. Vụ án này cũng gây chấn động lúc bấy
giờ vì khi cảnh sát muốn tìm nhân chứng để lấy thêm chi
tiết điều tra, hầu như không một người Việt Nam nào chịu
tình nguyện đứng ra kể lại những diễn tiến.
Nhưng
bà Clara là một nữ lưu trí thức và khoa bảng, hành nghề
nha sĩ chuyên khoa cùng với chồng, David Harris, cũng là một
nha sĩ có uy tín, cùng tạo dựng nên một cơ ngơi khá giả
và một gia đình hạnh phúc. Thế nhưng vì ghen với ông chồng
đã tằng tịu với một nữ nhân viên trong văn phòng là Gail
Bridges nên bà Clara quyết chí đi tìm tình địch tại khách
sạn Hilton ở Nassau Bay đang lén lút hẹn hò với chồng mình.
Ghen và giận quá mất khôn, bà Clara chỉ biết sỉ vả tình
địch của mình cho hả giận, rồi ra bãi đậu xe lái chiếc
Mercedes đắt tiền của mình để húc vào ông chồng đang chạy
tới năn nỉ. Chưa đã giận, bà còn lái xe chạy vòng lại
một lần nữa để cán nạn nhân xấu số đang oằn oại.
Và chạy tiếp cán thêm lần thứ hai. Và thêm lần thứ ba
nữa. Cơn giận có lẽ còn chưa nguôi, bà còn cho de số lui,
để cán ngược trở lại nữa. Dĩ nhiên, hình phạt dành cho
bà Clara Harris là phải vào tù lãnh án, bỏ lại cơ ngơi cả
triệu Mỹ-kim và hai con thơ bé bỏng.
Thật
vậy, chúng ta không thể chấp nhận hay tha thứ khi thấy người
vợ hay chồng mà mình thương yêu bị người khác cướp đoạt.
Khi thương ai, chúng ta thường quan niệm rằng họ phải là
của mình, nên không bao giờ muốn có mặt người thứ ba xen
vào. Do đó, dẫn đến những sự ghen tương quá đáng, hay
sự nghi kỵ giữa vợ với chồng, rồi từ từ đưa đến
sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình.
Lại
nữa, chúng ta thường nhớ đến những điều tốt lành mà
mình đã từng làm cho cá nhân hay cho người khác, và cũng
dễ dàng tha thứ lỗi lầm của mình. Ngược lại, chúng ta
ít nhớ đến ơn nghĩa của người khác đã từng ban bố cho
mình, và cũng rất khó lòng tha thứ lỗi lầm của người
khác. Vì vậy, để đối xử bình đẳng với vợ hoặc chồng,
chúng ta nên trung thực, thường nghĩ nhớ tình nghĩa và sẵn
sàng tha thứ lỗi lầm của họ. Nhờ đó, tình nghĩa vợ chồng
ngày càng thêm khắng khít.
Đối
với con cái, tuy biết rõ bổn phận là phải nuôi nấng dạy
dỗ chúng, nhưng có vài điểm mà đa số các bậc cha mẹ không
để ý đến là chúng ta thường lo lắng cho chúng với tâm
bất bình đẳng; nghĩa là chúng ta (nhất là người Việt)
hoặc để tâm thương những đứa con đầu lòng hay con út,
mà không bình đẳng lo cho những đứa con khác. Ngoài ra, cũng
đồng là con mình, nhưng lại thương đứa này nhiều và đứa
này ít, dựa vào hình tướng, tánh tình của chúng như đẹp
hay xấu, thông minh hay chậm chạp, ngoan ngoãn hay cứng đầu.
Điều này tạo ra không khí bất hòa, cãi cọ, ganh ghét giữa
con cái chúng ta. Những đứa được cha mẹ nuông chiều hay
thương nhiều thì có thể xem thường anh chị em khác, và thường
dễ bị hư hỏng. Hoặc các anh chị em của chúng có thể ganh
ghét, tủi thân, v.v… vì cha mẹ ít đoái hoài tới chúng.
Do có tình thương bất bình đẳng đó nên con cái cũng thương
cha mẹ với tâm bất bình đẳng. Nếu chúng được cha mẹ
thương nhiều thì hoặc sẽ thương lại nhiều hơn, hoặc dễ
dàng ỷ lại ô dù đó. Những đứa ít được cha mẹ thương
hay để ý tới thì cảm thấy bị bơ vơ, hất hủi, hoặc
thường giữ khoảng cách với cha mẹ rồi đi tìm bạn (mà
lắm lúc là bạn xấu) bên ngoài để bày tỏ tâm tình hầu
mong bù lại sự thiếu thốn về tình phụ tử hay mẫu tử.
Nếu chẳng may gặp bạn xấu lôi kéo thì chúng dễ dàng bị
mất phương hướng, bỏ học hành, lao đầu vào đường xấu.
Sau này, khi lớn lên, chắc chắn con cái sẽ nhớ lại những
hình ảnh mà cha mẹ hoặc thương chúng nhiều, hoặc thương
chúng ít, để dựa vào đó mà lo lại cho cha mẹ. Phần lớn
nếu bị hất hủi lúc nhỏ thì họ khó lòng phát khởi tình
thương lo lắng tận tâm những lúc cha mẹ bịnh hoạn hay già
yếu. Chúng tôi đã tận mắt chứng kiến rất nhiều trường
hợp như thế. Điển hình, một cặp vợ chồng có 3 trai 4
gái, mà người mẹ rất thương đứa con trai út; hễ có món
ngon vật lạ đều để dành cho đứa con trai út. Sau này, bà
mẹ lớn tuổi bị bịnh bại liệt suốt 10 năm. Người con
trai út vì có hiếu nên lo cho người mẹ rất chu đáo cho đến
khi qua đời. Trong khoảng thời gian bà mẹ nằm trên giường
bịnh, đa số các anh chị trong gia đình đều ít để tâm
hay công sức lo lắng cho bà ta. Thậm chí có người nói thẳng
với em trai út nhiều lần rằng: “Lúc còn mạnh khỏe, má
thương mày nhiều hơn, nên bây giờ mày phải lo cho má tất
cả”. Nhân quả rõ ràng. Nếu cha mẹ dành hết tình thương
bình đẳng với tất cả con cái thì ngày sau, khi họ già yếu
bịnh hoạn, con cái mới để tâm mà lo lắng lại.
Ngoài
ra, có một số người vì lúc nhỏ được cha mẹ nuông chiều
quá mức, nên sau này khi ra đời va chạm với xã hội thì
đa phần ít có ý chí vươn lên độc lập, nên dễ dàng thất
bại trên đường đời.
Lại
nữa, khi con cái có những sự xung đột bất hòa, bổn phận
làm cha mẹ phải xử con cái bình đẳng, nghiêm minh. Nếu cha
mẹ xử không công bình thì lại khiến mối bất hòa đó càng
tăng trưởng. Do đó, nếu có tình thương và lòng từ bi chân
thật đối với con cái, các bậc cha mẹ phải nên suy gẫm
lại điều này: Phải cố gắng bình đẳng đối xử, thương
tưởng con cái.
Tóm
lại, nhờ có tình thương bình đẳng mà cha mẹ giúp con cái
tránh thói quen ỷ lại, cống cao ngã mạn, hay được gần
gũi cha mẹ hơn để được hướng dẫn dạy dỗ đúng đắn.
Ví dụ, nếu trong nhà có 3 đứa con, hai trai một gái với
lứa tuổi 9, 10, 12. Khi mua đồ chơi cho 2 đứa con trai thì
phải mua luôn cho đứa con gái, hoặc ngược lại. Khi muốn
dẫn chúng đi xem phim thì phải dẫn đi tất cả, trừ những
trường hợp đặc biệt, v.v… Thêm nữa, cha mẹ có trãi lòng
từ bi bình đẳng đến với con cái được hay không sẽ ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến suốt cuộc đời của
những người con, và họ có thể y theo cách thức đó mà đối
xử với con cái hoặc những người thân, bạn bè của họ.
Vì vậy, dùng tâm từ bi bình đẳng chân thật với con cái
rất quan trọng cho hiện tại và tương lai.
Ngoài
ra, đa phần chúng ta sẵn sàng hy sinh tất cả cho con cái. Có
các bậc cha mẹ gây biết bao tội lỗi cũng chỉ vì sự sinh
tồn của con cái họ. Tuy nhiên, họ có thể dửng dưng trước
sự đau khổ của con cái người khác. Lại nữa, khi con cái
mình công thành danh toại thì chúng ta rất hãnh diện với
người khác. Khi con cái mình bị thua sút thì chúng ta cũng
cảm thấy bị thua lây. Điển hình, chuyện đáng nhớ nhất
là vụ án bà Wanda Holloway thuê người ám sát đối thủ của
con gái mình, thường được quen gọi là vụ án “cheerleader
mom”. Cheerleader là một cổ động viên được mặc quần
áo sặc sỡ và tươi mát để đứng ra cổ động trong các
trận tranh tài thể thao, thường được các nữ sinh hay sinh
viên thèm muốn gia nhập vì được tiếng là phải đẹp, có
nhan sắc hay thân hình hấp dẫn. Vào năm 1991, con gái của
bà Holloway dự tranh để làm cheerleader trong trường trung học
với một nữ sinh khác. Vì sợ con mình bị thua, bà Holloway
bèn nghĩ ra sáng kiến thuê người giết mẹ của đối phương,
với hy vọng là việc này sẽ làm cho cô gái đau buồn, mất
tinh thần và do đó không còn lòng dạ nào để dự tranh với
con gái của bà. Nội vụ đổ bể, bà bị cảnh sát đưa ra
toà, bị xử tội và lãnh án phạt 10 năm tù ở, nhưng sau
đó chỉ bị giam khoảng 6 tháng và được thả về quản thúc
tại gia. Dư luận khắp nơi được dịp kinh ngạc trước thái
độ ghen tức đến mất khôn của người phụ nữ đất Houston.
Còn
rất nhiều câu chuyện tương tự xảy ra chung quanh chúng ta.
Một điều cần nhớ là vì dựa vào tình thương ích kỷ,
chỉ lo cho bản thân, gia đình, con cái, nên chúng ta bỏ qua
những sự lợi lạc hay thiệt thòi của con cái người khác.
Vì vậy, nếu có lòng từ bi chân thật thì trong lúc lo lắng
cho con cái vì bổn phận, chúng ta cũng có thể san xẻ, giúp
đỡ, hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp về vật chất lẫn
tinh thần cho con cái của những người khác, nhất là các
gia đình nghèo khó, để chúng có cơ hội phát triển tài năng,
hay tiến thân trong xã hội như con ruột của mình.
Về
phần anh chị em, nếu chúng ta mến thích người này, nhưng
lại ghét bỏ người khác, thì sẽ tạo không khí chia rẽ
trong gia đình mà khó lòng dứt bỏ. Sau này khi lớn lên, mỗi
người mỗi ngã, họ có còn thương tưởng, liên lạc hỗ
trợ lẫn nhau hay không, phần lớn đều dựa vào kinh nghiệm
đối xử lẫn nhau lúc còn bé.
Tình
thương yêu cha mẹ của chúng ta cũng phải bình đẳng. Nghĩa
là nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, chúng ta cố gắng đền
đáp hết tất cả tấm lòng. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta thương
mẹ hơn thương cha. Thật vậy, có rất nhiều bài hát ca ngợi
tấm lòng của mẹ, nhưng rất ít nói về công ơn cha. Trong
kinh đức Phật dạy phải nhớ công ơn mẹ như cõi đất,
nâng đỡ, dắt dìu đàn con. Công ơn cha như trời cao, che chở
đàn con yếu đuối. Công ơn cha mẹ như trời cao bể rộng,
nên đức Phật dạy chúng ta rằng dù có đưa hai vai cõng cha
mẹ đi suốt đời, vẫn không thể báo đền hết ơn sanh thành
dưỡng dục. Do đó, những lúc cha mẹ già bịnh, chúng ta phải
cố gắng báo hiếu bình đẳng. Đôi khi giữa cha mẹ có những
chuyện xích mích chưa giải quyết được, và hoặc cha, hoặc
mẹ muốn lôi kéo con cái về “phe” của mình. Gặp những
lúc khó giải quyết đó, chúng ta chỉ việc giữ bổn phận
làm con, bình đẳng thương mến cha mẹ, giữ vai trò trung lập.
Nếu có cơ hội, chúng ta cũng cố gắng giúp đỡ, dàn xếp
những sự xung đột cá nhân giữa cha mẹ bằng cách khuyên
các bậc sanh thành nên lắng lòng, tịnh tâm, thì từ từ sẽ
nguôi giận. Nhất là chúng ta nên khuyên cha mẹ nương vào
lời Phật dạy mà tu tập thiền quán, niệm Phật, trì chú
thì các cơn bịnh trong tâm thức từ từ sẽ được lành lặn,
và những sự xung đột đó cũng sẽ giảm thiểu.
Đối
với bà con quyến thuộc, đương nhiên nếu thấy có ai cần
giúp đỡ, chúng ta cũng phải cố gắng bình đẳng giúp họ,
xem họ như cha mẹ, con cái, anh chị em ruột của mình.
Đối
với bạn bè, đồng nghiệp, chúng ta cũng cố gắng phát triển
tâm từ bi bình đẳng đó. Hồi còn nhỏ ở Việt Nam, khái
niệm phân biệt người Bắc, Trung, Nam của chúng tôi rất
mơ hồ, nên sự “kỳ thị” đó không tác động mấy đến
tâm tư. Rồi khi qua Mỹ, tiếp xúc với biết bao dân bản xứ
với nhiều sắc tộc văn hóa, phong tục khác nhau, nên vấn
đề phân biệt người Việt ở miền Nam, Bắc, Trung từ từ
đi vào dĩ vãng. Đột nhiên, vào khoảng năm 1998-1999, chúng
tôi có dịp đi qua Ấn Độ tu học gần 1 năm, và có cơ hội
gần gũi chư tăng người miền Nam và Trung, thì tự dưng do
ảnh hưởng của sự “phân vùng” của chư tăng trẻ bên
đó, nên chúng tôi cũng bị dao động phần nào. Hiện tại,
ở xứ Mỹ, nhất là những vùng người Việt sống đông đảo
như California, Texas chẳng hạn, chúng ta cũng có “căn bịnh
phân vùng” ngay trong các chùa chiền. Chùa của chư tăng ni
người miền Nam thì có nhiều Phật tử người miền Nam đi
hơn. Chùa của chư tăng ni người miền Trung thì có nhiều
Phật tử người miền Trung đi hơn, v.v…Nếu chúng ta chịu
nhìn nhận sự thật là ở nước ngoài chúng ta phải sống
chung và làm việc chung dân bản xứ với nhiều sắc tộc,
nhiều thành phần, nhiều ngôn ngữ, nhiều văn hóa, v.v… khác
nhau để hòa nhập vào xã hội mới. Đương nhiên, trên căn
bản, chúng ta dùng tiếng Anh để giao tiếp, nói chuyện, và
nhất là cảm thông với họ. Nhìn lại người Việt, chúng
ta cùng màu da, cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa, v.v… mà lại
đi “kỳ thị” với nhau. Thật là một điều quái lạ! Nếu
chúng ta còn những căn bịnh phân vùng, bên cạnh những sự
cố chấp về quan điểm, ý thức hệ, tôn giáo, v.v…, thì
làm sao đoàn kết, đối xử bình đẳng với nhau? Các bài
học của cha ông ta để lại vẫn còn đó: Tuy theo chế độ
quân chủ nhưng các vị vua thời Đinh, Lê, Lý, Trần biết
yêu thương dân, sống gần dân, rộng lượng tha thứ những
kẻ phản nước hại nòi như Lê Tắc, dưỡng sức dân, và
đoàn kết dân như hội nghị Diên Hồng chẳng hạn, nên đã
đánh đuổi giặc phương Bắc giữ gìn non song gấm vóc. Ngược
lại, Hồ Quý Ly dù có lòng yêu nước hay có những cải cách
hay, nhưng không biết thương dân, dựa vào dân nên cuối cùng
bị những kẻ cõng rắn cắn gà nhà, đem quân Minh vào giày
xéo đất nước. Và gân đây nhất, các vua quan nhà Nguyễn
cũng có lòng yêu nước, nhưng chỉ lo bo bo giữ ngai vàng cho
mình mà không biết lo lắng cho dân, thống nhất lòng dân,
khiến cho đất nước phải rơi vào tay thực dân Pháp. Sau
đó, thực dân Pháp dùng kế chia để trị, rồi sau này do
nhiều nhân duyên khác, nên mới có cuộc chiến Nam-Bắc (1954-1975)
huynh đệ tương tàn và cũng khiến ảnh hưởng di căn dị
biệt đến ngày nay, ở trong và ngoài nước. Nếu muốn đoàn
kết thật sự thì người Việt trong và ngoài nước phải
gạt qua những sự dị biệt đó để cùng nhau hướng đến
mẫu số chung cho tương lai dân tộc.
Về
việc kỳ thị sắc tộc dựa vào màu da, có vài lần, đọc
trên những tờ quảng cáo về buôn bán các tiệm Nail trong
những báo chí người Việt, chúng tôi có để ý là đa số
thích làm ăn mở tiệm Nail ở những khu dân cư người Mỹ
trắng hơn là người Mỹ da đen. Thật rất tội nghiệp và
thiệt thòi cho những người có màu da đen sậm đó. Chúng
ta không thể dựa vào màu da, sắc tộc văn hóa mà phân biệt
kỳ thị, cho rằng họ là những người xấu. Lần nọ, có
một ông Bà La Môn đến khoe với Phật là ông ta rất thanh
tịnh, thánh thiện vì xuất thân từ dòng dõi Bà La Môn. Đức
Phật dạy ông ta rằng không thể nào dựa vào dòng giống,
chủng tộc mà xem xét hay phán đoán căn tánh của con người.
Bất cứ ai có tâm tà vạy thì đó là người xấu, dù họ
xuất thân từ dòng Bà La Môn (giai cấp giáo sĩ) hay Chiên Đà
La (giai cấp nô lệ thấp nhất trong xã hội Ấn Độ thời
xưa và nay). Ngược lại, những ai có tâm lành thiện, chất
trực thì đó là những người hiền lành thanh tịnh chứ không
dựa vào dòng giống hay chủng tộc. Ngoài ra, theo lời Phật
dạy, con người ai ai cũng đồng có dòng máu đỏ và nước
mắt cùng mặn. Tốt hay xấu, hiền hay dữ, v.v… đều do tâm
tình vọng động của mỗi cá nhân. Đã từng sống trong các
ngôi chùa người Tàu, chúng tôi cũng hiểu được tâm tình
của họ phần nào. Có một số người, dù đến từ Đài
Loan hay Trung Hoa Lục Địa, họ cho rằng đất nước và con
người của họ là trung tâm vũ trụ, nên xem thường những
sắc dân khác, dầu hiện nay họ đang sống trên xứ Mỹ. Một
số người Âu-Mỹ, như nhóm người của đảng phái KKK chẳng
hạn, cũng cho rằng dòng giống mình là hơn hết. Vì sự cống
cao ngã mạn xem thường người khác, mới có chiến tranh thế
giới thứ hai, do chủ trương giữ gìn giống người da trắng
thuần nhất của Phát Xít Đức.
Người
Mỹ thường nhắc đến sự hy sinh của hơn năm mươi ngàn
binh sĩ trong chiến tranh Việt Nam mà ít khi nói đến 3 triệu
người Việt ở cả hai chiến tuyến đã bỏ mình trên chiến
địa. Ngay cả người Việt chúng ta thường nhắc đến thành
quả cuộc nam tiến, mở mang bờ cõi của cha ông, mà ít khi
bàn đến con số người dân Chiêm Thành và Chân Lạp bị giết
chết. Chúng ta uất hận người Tàu đô hộ nước mình cả
một ngàn năm, nhưng quên rằng người Lào và người Miên
cũng uất hận người Việt chúng ta vì việc xâm lấn. Tẩt
cả đều do tâm bất bình đẳng thiên vị gây ra. Thiết tưởng
tinh thần thượng tôn dân tộc nếu đi quá đà thì tâm bịnh
cống cao ngã mạn dễ phát sanh, rồi hại mình hại người,
gây biết bao đau thương tang tóc.
Lại
nữa, các loại vũ khí từ gương đao, súng đạn cho đến
bom nguyên tử đều được chế tạo từ lòng sợ hãi, muốn
bảo vệ mạng sống mình, nhưng lại dùng chúng để tiêu diệt
kẻ khác. Tuy muốn sống an vui hạnh phúc, nhưng lại gieo nhân
thù hằn giết chóc thì làm sao thành tựu được ước muốn
đó! Chỉ khi nào gieo những hạt nhân từ bi thương tưởng
bình đẳng đến với tất cả mọi người, tức là phù hợp
với ước muốn sống an lạc hạnh phúc cá nhân, thì mới
mong có ngày được an lạc thật sự, bằng không thì dù có
dùng vũ khí hiện đại tối tân đến đâu, chúng ta cũng vẫn
sống trong tâm trạng lo âu sợ hãi, bất an.
Vừa
trãi qua những cuộc chiến tranh xung khắc dựa trên màu da
sắc tộc, ý thức hệ, nhân loại ngày nay phải đương đầu
với những cuộc xung khắc dựa vào tôn giáo, nhất là giữa
Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo. Những cuộc xung khắc này vốn
đã xảy ra trong quá khứ; chúng được bao bọc với mỹ từ
“thánh chiến” mà khiến cho hơn hàng triệu người xưa kia
đã nằm xuống ở Âu Châu, và ngày nay được khơi dậy, mở
màn từ ngày 11 tháng 9, năm 2001. Nhân loại chúng ta sẽ còn
trả nhiều giá đắc hơn vì sự kỳ thị, phân biệt dựa
vào những vọng tưởng đó. Lường trước những vấn đề
này, các nhà lập quốc nước Mỹ khi xưa đã ghi trong các
bản hiến chương, ngăn cấm những sự kỳ thị phân biệt
đó. Tuy nhiên, bên cạnh những trang sử vàng dựng và giữ
nước, lịch sử nước Mỹ vẫn còn bị hoen ố bởi các vết
nhơ người da trắng diệt chủng người da đỏ bản xứ, hay
nạn mua bán nô lệ da đen, kỳ thị chủng tộc, v.v… Đương
nhiên, con người với tâm tình vọng động, phải học những
bài học đắng cay chua chát, và chợt tỉnh chợt mê về cách
sống hài hòa với nhau. Do đó, ngày nay dù vẫn còn sự xung
khắc trong các cộng đồng đa văn hóa, chủng tộc, tôn giáo,
v.v… dần dà người Mỹ sống hòa thuận với nhau hơn, vì
phải sống theo luật pháp nhất là luật cấm kỳ thị, mà
rõ ràng nhất là trong các cơ quan chính phủ, trường học
công cộng. Nếu con người ai ai cũng tôn trọng, đối xử
từ bi bình đẳng với nhau theo lời Phật dạy thì chắc chắn
từ xưa đến nay sẽ tránh được biết bao cuộc chiến đẫm
máu. Điển hình, đức Phật dạy trong kinh Phạm Võng, Giới
Bồ Tát rằng phải quán tất cả người nam như cha, anh, em
mình, và quán tất cả người nữ như mẹ, chị, em mình. Nếu
ai ai cũng bình đẳng quán chiếu và thực hành được như
thế thì thế giới này làm gì có chiến tranh, và con người
đâu còn đổ máu!
Đối
với loài vật, con người chúng ta đa số ỷ mạnh hiếp yếu,
ăn nuốt chúng. Điển hình, hiện giờ đa số các động vật
được xem là hung dữ nhất như cọp, báo, v.v… hầu như bị
con người diệt chủng gần hết. Trong các siêu thị đều
bán đầy những xác chết của các con gia súc đáng thương.
Chúng tôi thường nói đùa với những người bạn Mỹ trong
các dịp giảng dạy Phật pháp ở những trường Trung học,
Đại Học, nhà thờ, v.v… rằng chúng ta thiếu sự công bằng
vì một bên thì quá lo lắng cho một số loài động vật,
còn một bên lại đi ăn nuốt những động vật khác. Nếu
chúng ta thương mèo chó thì phải thương luôn bò, heo, gà.
Và nếu thương cá thì chúng ta thương tất cả loài cá, chứ
không phải chỉ nuôi các con cá kiểng. Tuy nhiên, thực tế
thì không phải vậy! Đó là tình thương cố chấp bất bình
đẳng, nghiêng bên này, bỏ bên kia của chúng sanh mê muội.
Làm sao chúng ta đem lại sự an vui hạnh phúc cho chính mình
và những loài khác!
Nói
chung, dù là người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh
em, v.v… hay người lạ như bạn bè, những người khác chủng
tộc, văn hóa, tôn giáo, v.v… cho đến muôn loài, một khi
có cơ hội tiếp xúc gần gũi nhau, tất cả chúng ta đều
có nhân duyên thuận hay nghịch. Dù vậy, như lời Phật dạy,
tất cả chúng sanh đều là bà con quyến thuộc của chúng
ta trong vòng sanh tử luân hồi. Nếu chúng ta thật sự cảm
nghiệm và tin tưởng chắc thật về lý nhân quả luân hồi
thì chắc chắn chúng ta cũng hiểu được rằng trong mỗi lần
làm người, làm chư thiên, làm loài vật, v.v… chúng ta cũng
đều có cha mẹ, bà con quyến thuộc. Vòng sanh tử vô cùng
tận, nên chúng ta có biết bao bà con quyến thuộc. Chỉ vì
thay hình đổi dạng từ đời này sang đời khác, và vì vô
minh vọng động, nên chúng ta không thể nhận ra bà con quyến
thuộc khi xưa của mình, nên lầm lẫn ăn nuốt, giết hại
lẫn nhau. Do đó, tâm từ bi có được phát triển hay không,
tất cả tùy vào cách nhìn và sự lo lắng bình đẳng, chân
thật của mình đến với mọi người, mọi loài. Như lời
Phật dạy trong điều thứ sáu của kinh Tám Điều Giác Ngộ
Của Bậc Đại Nhân: “Bồ Tát bình đẳng bố thí, bất niệm
cựu ác, bất tắng ác nhân (một vị Bồ Tát thật sự phải
bố thí với tâm bình đẳng, không nhớ nghỉ đến những
kẻ đã tạo nghiệp ác, cũng không ghét bỏ những kẻ xấu.)”
Người Phật tử phát tâm hành hạnh Bồ Tát muốn tu tâm từ
bi chân thật phải phát khởi tâm niệm ban vui cứu khổ bình
đẳng đối với người thân kẻ sơ cũng như thế thì mới
thật sự bước đi trên con đường Bồ Tát hạnh mà chư Phật
và chư Bồ Tát trong quá khứ đã đi, trong hiện tại đang
đi, và trong tương lai sẽ đi.
Ngoài
ra, không những trãi rộng lòng thương tưởng đến hết mọi
loài mà chúng ta còn phải biết bảo vệ môi trường thiên
nhiên. Nếu không có chúng thì con người và loài vật không
thể sinh tồn trên thế giới này được. Ví dụ, nếu chúng
ta chặt cây phá rừng bừa bãi thì sẽ gây biết bao tai ương
hoạn nạn cho chính mình, như đất đá sẽ bị chồi lở,
ngập lụt, hoặc không còn nơi thanh lọc các khí độc và
thải ra khí oxygen cho chúng ta sống còn, vì cây cối vốn là
lá phổi của trái đất. Nếu chúng ta làm ô nhiễm môi sinh,
khiến có mưa axit thì chắc chắn sẽ gây ra bịnh tật dễ
dàng.
Để
thay lời kết, chúng tôi xin trích dẫn lời dạy của đức
Phật trong bài kinh Từ Bi:
Chúng
sanh dù yếu mạnh,
Lớn
nhỏ hoặc trung bình,
Thấp
cao không đồng đẳng
Hết
thảy chúng hữu tình,
Lòng
từ không phân biệt,
Hữu
hình hoặc vô hình,
Ðã
sinh hoặc chưa sinh,
Gần
xa không kể xiết,
Nguyện
tất cả sinh linh,
Tràn
đầy muôn hạnh phúc.
Ðừng
lừa đảo lẫn nhau,
Chớ
bất mãn điều gì,
Ðừng
mong ai đau khổ,
Vì
tâm niệm sân si,
Hoặc
vì nuôi oán tưởng.
Như
mẹ giàu tình thương,
Suốt
đời lo che chở,
Ðứa
con một của mình,
Hãy
phát tâm vô lượng,
Ðến
tất cả sinh linh,
Từ
Bi gieo cùng khắp,
Cả
thế gian khổ hải,
Trên
dưới và quanh mình,
Không
hẹp hòi oan trái,
Không
hờn giận căm thù,
Khi
đi, đứng, ngồi, nằm,
Bao
giờ còn thức tỉnh,
Giữ
niệm từ bi này,
Thân
tâm thường thanh tịnh,
Phạm
hạnh chính là đây.
Người
gửi bài: Tâm Minh
07-12-2007
10:23:45