Lịch
sử chinh phục của con người về môi trường sống đã được
bắt đầu từ rất sớm, một câu chuyện về sự chấp nhận
những sự đổi thay được đúc thành bởi sự cần thiết
ngày càng phải nắm vững về kỹ thuật sống. May mắn lắm
đó chỉ là sự chinh phục một phần nào đó thôi; những
sự khác biệt trong phương cách sống không cần thiết phải
được kèm theo bởi những sự thay đổi trong cách tư duy hoặc
quan điểm mà có thể được mong đợi. Con người vẫn còn
là một loài động vật nguyên thuỷ, thô sơ xét về bề mặt
bên ngoài, các bản năng của anh ta tìm hiểu chúng theo một
mẫu của một nền văn minh phức tạp hơn và những sự đáp
lại của anh ta đối với những trường hợp riêng biệt rất
xa vời với những trường hợp mà ông bà tổ tiên của anh
ta phải đương dầu với ,song bản năng vẫn không khác gì.
Về cơ bản họ không thay đổi kể từ khi những gì người
xưa đã để lại cho chúng ta.
Những sự
kiện và tình huống xuất phát từ nhân cách và trong khi bản
năng tạo ra chúng vẫn không đổi thay, chính những trường
hợp và những vấn đề về cơ bản vẫn giống nhau mặc dù
chúng biểu hiện trên nhiều hình thức khác nhau. Chủ nghĩa
lạc quan dung dị sau thời Ðácuyn thông qua một sự giải thích
sai lầm về học thuyết tiến hoá, tin rằng nhân loại đang
cải thiện một cách đều đặn, đã bị thải bỏ. Tuy nhiên
cho dù tri thức tiến bộ đến đâu đi nữa cũng không thể
giải thoát con người; cho dù tri thức có thể giải thoát
con người khỏi những ràng buộc của giới học thức thì
đó chỉ là việc thay thế chúng bằng những thứ khác. Tính
ích kỷ, tự ngã, tham ái và khát khao được sống là những
nhân tố nổi bật nhất nếu chỉ có tri thức mà không có
sự bù đắp của trí tuệ thì phải chịu khúm núm, phụ thuộc.
Nhìn sơ qua những tạng kinh điển của Phật giáo Nguyên thuỷ
thì đủ để cho thấy rằng những vấn đề của xã hội
ngày nay có những sự tương đồng với ở Ấn Ðộ cách đây
hơn 2500 năm. Khao khát được sống và ý chí muốn sống trong
tất cả các chúng sanh đều bắt nguồn từ ái và Ðức
Phật ngay sau khi giác ngộ vô thượng đã tuyên bố rằng:
“Lang
thang bao kiếp sống
Ta tìm
nhưng chẳng gặp,
Người
xây dựng nhà này;
Khổ thay
phải tái sanh;
Ôi người
làm nhà kia;
Nay ta
đã thấy ngươi;
Ngươi
không làm nhà nữa;
Ðòn tay
ngươi gãy rồi;
Kèo cột
ngươi tan nát;
Tâm ta
được an ổn;
Tham ái
thảy tiêu vong”.
(Pháp
cú 153-154)
Ngôi nhà
là thân tứ đại; người xây nhà là tham ái, bản năng bám
chặt nắm lấy sự sống, để giải thích tại sao những vấn
đề của xã hội ngày nay mà nhân loại phải đương đầu
về cơ bản rất giống với những vấn đề làm cho con người
phiền toái ngay từ buổi bình minh của lịch sử. Chúng chỉ
được chuyển gọn sang một cái tên khác mang tính chất toàn
cầu thay vì giới hạn trong từng cá nhân hay bộ tộc. Trong
cuộc sống ngày nay tôn giáo, một khi đã là một yếu tố
chính trong lịch sử thế giới, đóng một vai trò tương
đối không quan trọng lắm. Thái độ của con người thời
đại, tâm của anh ta quen với những thứ khác và đặc biệt
càng cấp tốc hơn và thực tế hơn những lợi nhuận
được tạo điều kiện, bởi tôn giáo chỉ một mức độ
nào đó mà những sự huấn luyện ban đầu được ghi sâu
vào ý thức một cách mềm dẻo,vẫn còn duy trì ở nơi anh
ta để tô màu cho mảnh đất tâm linh của mình. Ðối với
đại đa số nhân loại trên thế giới tôn giáo chính
thống không còn là một sự ảnh hưởng năng động, tích
cực ; những hành động được cân nhắc và xem xét không
chỉ dựa vào những tiêu chuẩn của tôn giáo hoặc luân lý
đạo đức mà còn dựa vào sự thành công hay thất bại xét
theo quan điểm thuần tuý thế gian. Chúng không còn là “đúng”
hay “sai” và đã trở thành đơn giản thiết thực hay phi
thiết thực.
Một bản
chất cơ hội đã củng cố một nơi trước đây của không
khí thần bí như là một nguyên tắc ngự trị trong hành vi
thái độ của con người như là kết quả của một sự suy
giảm về niềm tin của một kiếp sau kèm theo công lý
trừng phạt. Xét một mặt thì điều này có thể chấp nhận
như là một bước đi hướng tới chủ nghĩa duy ly, song bởi
vì yếu tố động cơ đằng sau hành động cơ hội vẫn còn
duy trì bản năng của một con người man rợ, dã man, lý trí
duy lý chỉ đóng một phần phụ trợ thôi. Lý trí bị mua
chuộc để phục vụ cho những động cơ mà không phải là
lý trí xét về cơ bản .Trong một bài Kinh rất nổi tiếng
Brahmajala-Trường Bộ Kinh, Ðức Phật liệt kê 62 học thuyết
ngoại đạo đương thời, từ ý tưởng siêu hình cho đến
học thuyết vật chất vi tế và ngài đã bác bỏ tất cả.
Ðầu óc lý trí của dân chúng Ấn Ðộ có khả năng về siêu
hình học rất tinh tế mà châu AÂu không biết đến kể từ
thời đại các trường phái Trung cổ phong kiến và nhiều
học thuyết Bà-la môn giáo cổ đại đã biến mất khỏi thế
giới, chỉ để lại tên của các học thuyết đó nhưng dứt
khoát hơn và đối địch hơn của những học thuyết
được tìm thấy trong thời đại của chúng ta. Một số đang
giả dạng như là những sự phát triển mới nhất trong tư
tưởng nhân loại. Trong một bài kinh khác-Vô Hý Kinh-Trường
Bộ Kinh, Ðức Phật giải quyết một trường hợp liên quan
đến học thuyết trên bằng những lời sau:
“Có một
số Sa môn, Bà-la-môn có những chủ trương và quan điểm rằng
: Không có kết quả của bố thí, không có kết quả của
sự hy sinh (cúng tế), không có kết quả của tế tự, không
có kết qua,û quả báo của các thiện nghiệp hay ác nghiệp,
không có đời này và cũng không có đời sau, không có các
loại hoá sanh, không có mẹ cũng không có cha trên thế gian
này, không có những vị Sa môn, Bà-la-môn xuất gia chơn chánh
hành trì chánh đạo, và những vị này tuyên bố về đời
này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ thắng trí
”.
“Trong
trường hợp này, này các gia chủ, sự kiện chờ đợi xảy
ra cho những Sa môn, Bà-la-môn chủ trương rằng không có kết
quả quả báo của những nghiệp thiện hay nghiệp ác và không
có đời này đời sau, v.v...sẽ từ bỏ 3 thiện pháp: thân
thiện hành, khẩu thiện hành và ý thiện hành và sẽ chấp
nhận 3 ác pháp: thân ác hành, khẩu ác hành và ý ác hành
và sẽ thực hành chúng. Và vì sao vậy ? Vì những vị này
không thấy sự hiểm nguy, sự hạ liệt và sự cấu uế của
các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh
tịnh của các thiện pháp. Mặc dù thực sự có đời sau quan
điểm củ họ cho rằng không có đời sau và đó là một tà
kiến. Mặc dù thực sự có đời sau, họ quả quyết rằng
không có đời sau, và đó là tà tư duy. Mặc dù thực sự
có đời sau, họ khẳng định rằng không có đời sau, thời
đó là tà ngữ. Mặc dù thực sự có đời sau, họ bảo rằng
không có đời sau và hành động trực tiếp mâu thuẫn với
các bậc A-la-hán có tri thức về đời sau. Dù rằng thực
sự có đời sau, họ hướng dẫn những người khác rằng
không có đời sau và đây là sự hướng dẫn dựa vào tà
thuyết. Với sự hướng dẫn dựa vào tà thuyết mà họ khen
mình chê người khác. Như vậy thiện giới của họ trước
đây bị trừ bỏ và ác giới được chấp trì và để lại
tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự hướng dẫn đối nghịch
dựa vào tà kiến đối nghịch với các bậc thánh, sự khen
mình chê người. Như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt
này khởi lên do duyên tà kiến”.
“Trong
trường hợp này, này các gia chủ, vị có trí suy tư như thế
này. Nếu không có đời sau thì vị này sau khi thân hoại mạng
chung sẽ chứng được tự ngã an toàn, nhưng nếu có đời
sau vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sanh
vào cõi dữ ác thú, khổ đau. Nếu muốn, giả sử không có
đời sau đi nữa, hoặc là lời nói của các vị Sa môn, Bà-la-môn
ấy là đúng sự thật. Nhưng người ấy bị người có trí
quở trách thậm chí ngay trong đời này bởi vì có tà kiến
và chủ trương hư vô luận. Nhưng nếu thực sự có đời
sau vị này cả hai trường hợp đều gặp bất hạnh, vì vị
ấy ngay trong hiện tại bị những người trí quở trách bởi
vì có tà kiến và sau khi thân hoại mạng chung vị ấy sẽ
tái sinh vào cõi ác thú. Như vậy, pháp vô hý luận này được
chấp trì và thực hành một cách sai lạc bởi vì vị ấy
chỉ chấp nhận một phía và bỏ một phía thiện pháp”.
“Ở đây,
sự kiện này được mong đợi rằng có những vị Sa môn,
Bà-la-môn nào chủ trương và duy trì quan điểm rằng có kết
quả quả báo của các thiện nghiệp và ác nghiệp, có đời
sau, sẽ từ bỏ 3 ác bất thiện pháp : thân ác hành, khẩu
ác hành, và ý ác hành và sẽ chơn chánh hành trì 3 thiện
pháp : thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Và
vì sao vậy? Bởi vì những vị ấy thấy được sự hiểm
nguy sự hạ liệt sự cấy uế của các ác bất thiện pháp,
sự thoát ly, sự lợi ích, và sự thanh tịnh của các thiện
pháp. Như vậy sự đồi bại của những vị ấy trước đây
được đoạn trừ và thiện giới phát sanh và chính điều
này khiến vị ấy có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ
sự thuyết phục này thuận với diệu pháp không mâu thuẫn
với các vị A-la-hán, không khen mình chê người. Như vậy,
những thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên chánh kiến”.
Khi thuyết
về học thuyết Nghiệp, luật khoa học về hành động và
phản ứng cho một môn sinh của Bà-la-môn Subha, Ðức Phật
đụng chạm một vấn đề rất nổi bật trong tư tưởng nhân
loại ngày nay. Ðó là sự khác biệt giữa con người với
nhau. Sự biểu hiện của hạ liệt, ưu thắng giữa những
chúng sanh đó luôn luôn là một đặc trưng của cuộc sống
con người. Và chính vì vậy mà Ðức Phật giải thích sự
bất đồng tương đối giữa những người phải chịu sanh
tử do con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự
của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc,
nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình,
nghĩa là có liệt có ưu. Học thuyết nghiệp trình bày cuộc
đời và vũ trụ dưới ánh sáng của quy luật logic hợp lý;
và quy luật vô tư không thiên vị. Ngoài ra, đó là một quy
luật rất nghiêm khắc hợp với những nguyên lý khoa học
về luật nhân quả.
Khi Ðức
Phật được yêu cầu đề cập đến những nguyên nhân khiến
cho một quốc gia, cộng đồng thịnh vượng với sự liên
hệ đến bộ tộc Vajjans (Bạt-kỳ)-bị đe doạ bởi một
bộ tộc lân cận.
“Phật
hỏi ngài Anan: Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ
thường nhóm họp để bàn luận về việc chính trị không?
Anan đáp : có nghe. Phật bảo Anan: Nếu thế thời sự hoà
thuận của già và trẻ lại càng tăng thêm. Nước ấy được
yên ổn lâu dài, không ai có thể xâm lăng được. Này Anan,
ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ vua tôi đều hoà thuận,
trên kính dưới nhường không? Anan đáp: Có nghe. Này Anan,
ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường tôn trọng luật
pháp, hiểu rõ những điều giới cấm và có lễ độï không?
Anan đáp : Có nghe. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt
kỳ thường hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận sư trưởng
không ? Anan đáp : Có nghe. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước
Bạt kỳ thường tôn trọng đền miếu, kính nể quỷ thần
không? Này Anan,ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ khuê môn,chân
chính trong sạch không dơ cho đến cả việc đùa giỡn, nói
năng không tà vọng không? Này Anan, ông có nghe dân chúng nước
Bạt kỳ thường cung kính và phụng sự Sa môn, người trì
giới chăm chú hộ trì chưa từng lười mỏi hộ dưỡng họ
không? Anan đáp: Có nghe. Này Anan, nếu thế sự hoà thuận
già trẻ càng tăng thêm, nước ấy được an ổn lâu dài không
ai có thể xâm lăng được”.
Lúc bấy
giờ đại thần Võ Xá bạch Phật:
“Thưa
Thế Tôn, nếu dân xứ Bạt kỳ chỉ thi hành một điều thôi,
còn không thể thắng họ được, huống nữa là họ thực
hiện cả 7 điều trên. Vì việc nước quá đa đoan tôi xin
kiếu từ Thế Tôn!” (Trường A Hàm I-Kinh DU HÀNH)
Những lời
dạy của Ðức Phật như là một cuộc cách mạng xét về
ý nghĩa hình thành những quy luật đạo đức và đưa ra những
nguyên tắc luân lý ở một nơi mà hình thức hoá chủ nghĩa
lễ nghi của Bà-la-môn giáo hiện thời. Một đặc trưng rất
nổi bật trong hầu hết các bài thuyết của ngài là thái
độ của ngài đối với các vấn đề thời gian. Ngài ủng
hộ việc bảo tồn tất cả các phong tục,truyền thống mà
thời gian đã chứng minh là đúng và có lợi ích và chỉ thải
loại những gì làm cho xã hội giật lùi chậm tiến bộ chẳng
hạn như giai cấp và việc đề cao vai trò của giới tu sĩ
trong việc thực hành các buổi lễ cúng tế thần linh
và việc tu tập theo các cực đoan ép xác,khổ hạnh mà theo
Phật giáo xem đó như là “mê tín dị đoan”. Ðối với
vấn đề giai cấp, Ðức Phật, như chúng ta đã chứng kiến,
thừa nhận sự phân biệt của chúng sanh gắn liền với sự
hoạt động của nghiệp. Những gì ngài hoàn toàn bác bỏ
là những học thuyết của Bà-la-môn giáo cho rằng đẳng cấp
bắt nguồn từ Phạm Thiên và thuyết vạn vật hữu linh rằng
4 đẳng cấp chính của Ấn Ðộ xuất phát từ nhiều bộ
phận khác nhau trong cơ của đấng Phạm Thiên. Ðiều này được
giới thiệu súc tích ngắn gọn trong những bài kệ của kinh
Pháp Cú tuyên bố rằng một Bà-la-môn là Bà-la-môn không chỉ
được sinh ra mà do thanh tịnh thân, khẩu, ý.
“Chẳng
phải vì bện tóc;
Chẳng
phải vì chủng tộc;
Cũng chẳng
phải tại nơi sinh,
Mà gọi
là Bà-la-môn;
Nhưng
ai hiểu biết chân thật;
Thông
đạt chánh pháp.
Ðó là
kẻ Bà-la-môn hạnh phúc.”.
(Pháp cú - 393)
Ðiều đáng
được chú ý ở đây là đối với vấn đề xét ở góc độ
thuần khiết xã hội, Ðức Phật đặt giai cấp Sát đế lợi
(Khattiya caste) vào địa vị cao nhất. Sự phân biệt được
xếp đặt theo mức độ thế gian, nhưng đối với những ai
xuất gia nhập vào Tăng đoàn thì không có sự phân biệt đẳng
cấp, giá trị của bậc Thánh được đo đạt bằng giới
hạnh của vị ấy. Nguyên lý này có một ứng dụng rộng
hơn trong phạm vi của các vấn đề chủng tộc và dân tộc
thời đại. Trong Ðạo Phật không có cơ sở cho sự sang hèn
thuộc về chủng tộc hay là sự đối kháng phân biệt chủng
tộc. Mỗi con người có giá trị của riêng mình, không phân
biệt nền tảng, giai cấp, văn hoá hay chủng tộc.Vấn đề
về những quyền của con người không thể tách rời những
trách nhiệm của cá nhân. Ðối với sự bận tâm hiện thời
về quyền của cộng đồng và quyền của các cá nhân,có
một khuynh hướng bỏ qua sự kiện rằng quan điểm về quyền
cũng ám chỉ ý tưởng về trách nhiệm,nhiệm vụ và bổn
phận. Ðồng thời với Ðức Phật, tại Trung Hoa Ðức Khổng
Tử cũng tuyên bố về nguyên lý này theo học thuyết riêng
của Ngài về duy lý nhân bản. Trong khi đó Khổng Tử phác
thảo quan điểm của Ngài về tầng lớp cai trị lý tưởng,
hoà nhã, công bằng và luôn lo lắng quan tâm về lợi ích của
dân chún, Ðức Phật cũng xoay chuyển tư duy của các vị đệ
tử Ngài từ những ý tưởng cổ xưa lỗi thời cho rằng nhiệm
vụ được áp đặt bởi tôn giáo là việc thực thi những
hình thức cúng kính, tế lễ sang một ý tưởng cao hơn về
trách nhiệm của một con người tại gia,trách nhiệm của
anh ta đối với tha nhân.
Trong Kinh
Sigalovada (Kinh Thiện Sinh) Ngài thuyết giảng cho một Bà-la-môn
trẻ tuổi thường theo lời của cha mỗi buổi sáng ngủ dậy
đều đảnh lễ sáu phương: Bắc, Nam, Ðông, Tây, Trên và
Dưới trong lúc đầu tóc, aó quần đang còn ướt sũng. Nhưng
đối với “giới luật của bậc Thánh” người chủ hộ
trẻ tuổi không phải như vậy mà 6 phương nên được lễ
lạy. Do vậy, Ðức Phật bắt đầu chỉ dạy chàng thanh niên
và tiếp tục giải thích về ý nghĩa lễ 6 phương phải được
hiểu ở góc dộ luân lý đạo đức.
Ðầu tiên,
một sự mô tả tổng quát về số lần lễ lạy và những
điều mà gia chủ nên tránh nếu không sẽ dẫn đến sự huỷ
hoại và sự phung phí và những phẩm hạnh nên được tu tập
khiến đưa đến an lạc và thịnh vượng. Sau đó bài pháp
tiếp tục: “Và này gia chủ, một vị đêï tử của bậc
thánh nên cung kính và bảo vệ 6 phương như thế nào? Những
phương sau đây phải được xem như là 6 phương : Phương Ðông
là cha mẹ; phương Nam là sư trưởng; phương Tây là thê thiếp,
con cái; phương Bắc là bạn bè, láng giềng; phương Dưới
là tôi tớ; phương trên là những Sa môn, Bà-la-môn và những
người đức hạnh”.
Sau đây
là lời giải thích chi tiết về trách nhiệm bổn phận của
một người đối với một nhóm người trong mối quan hệ
tương quan với anh ta. Toàn bộ bài pháp được hình thành
trên cơ sở luân lý đạo dức xã hội bao hàm phạm vi rộng
lớn về tính độc nhất, những quan điểm cao thượng và
ứng dụng phổ biến của bài pháp. Chỉ cần 2 ví dụ đủ
cho thấy ý tưởng về việc dành cho nhau những trách nhiệm,
bổn phận được nhấn mạnh như thế nào.
“Này
Thiện Sinh làm người phải lấy 5 điều thân kính đối với
bà con, bạn bè. Những gì là năm? Giúp đỡ tiền bạc, nói
lời điều hoà,làm việc vì lợi ích chung, chung làm chung hưởng,
không hề khi dối. Này Thiện Sinh đây là 5 diều thân
kính đối với bà con bạn bè. Trái lại, bà con cũng phải
lấy 5 điều thân kính đối với người:hộ vệ khiến họ
không phóng dật; hộ vệ về sự phóng dật để khỏi mất
của; khuyên răng nhau lúc ở chỗ không có người; thường
ngợi khen nhau. Này Thiện Sinh, người biết thân kính bà con,
bạn bè như thế thì phương Bắc được bảo vệ, yên ổn
không còn lo sợ”.
“Này
Thiện Sinh chủ đối với tớ cũng có 5 điều dạy bảo: Tuỳ
khả năng mà sai khiến, tuỳ thời mà cho ăn uống, tuỳ thời
mà thưởng công lao, khi bệnh thì lo thuốc thang điều trị,
để cho tôi tớ có thời giờ nghỉ ngơi. Này Thiện Sanh ,đây
là 5 diều dạy bảo tôi tớ. Ngược lại, tôi tớ cũng phải
lấy 5 điều sau đây để phụng sự chủ mình: Thức khuya
dậy sớm trước khi chủ thức dậy và đi ngủ sau chủ; tự
bằng lòng với các vật chủ cho; khéo đảm đang công việc
không phải làm lấy có; đem danh tiếng tốt về cho chủ như
vậy phương Dưới được che chở an ổn và không có điều
chi lo sợ”.
Cách đối
xử của Ðức Phật đối với chủ đề trên rất là đặc
trưng của một cách mà Ngài thường quen lấy những niềm
tin của các tôn giáo đang hiện hành và nâng những gia trị
này lên một bậc cao hơn về giá trị đạo đức và tâm linh.
Ngài truyền đạt chân lý của Ngài thông qua phương tiện
truyền thông của một truyền thống hiện thời. Chúng
ta phải nên nhớ rằng Ðức Phật không thuyết giảng một
học thuyết nào mới mẻ; Ngài thuyết giảng “chân lý
cổ xưa” của vô lượng đức Phật trước Ngài. Mặc
dù những lời dạy của các Ðức Phật này đã hoàn mãn trong
ký ức của nhân loại, hoặc là chỉ tồn tại duy ở hình
thức biểu hiện bên ngoài, ý nghĩa bên trong đã bị mai một,
nhưng nó vẫn còn được duy trì và đang được duy trì phổ
biến khắp pháp giới bất biến; nguyên lý giải thích về
quy luật nhân quả ngự trị tất cả sự hiện hữu của thế
giới hiện tượng. Ðối với Ðức Phật có thể nói một
cách chân thành rằng Ngai đến để hoàn thành nó, để tái
tuyên bố pháp đó theo một ý nghĩa tâm linh cao nhất.
Hiện nay
chúng ta đang đứng tại một điểm chuyển tiếp trong lịch
sử; sự lựa chọn là tuỳ thuộc chúng ta. Liệu chúng ta đi
trên con đường đưa đén sự tiến bộ xa hơn hoặc là nó
sẽ mang chúng ta đến sự huỷ diệt. Nhân loại cũng có đủ
kinh nghiệm tối thiểu để chỉ ra rằng tri thức khoa học
và sự kiểm soát thế giới vật chất là không giống nhau
đối với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Nhãn
quan của chúng ta phải được xoay chuyển đến một phương
hướng mới nếu chúng ta phải tìm ra một lối thoát cho sự
bế tắc. Rằng những gì mới nhất thì vô cùng cũ kỹ; giáo
pháp vĩnh hằng, chân lý vượt thời gian vượt xa thế giới
nhỏ nhen của chúng ta mà trong thế giới này con người chỉ
quan tâm đến điều kiện vật chất.
Ðó là những
điều mà chúng ta phải quay lại,bằng tất cả thái độ khiêm
nhường và hy vọng, bởi vì đối với những bệnh tật cũ
chúng ta nên tìm phương thuốc cũ. Nhưng trong lĩnh vực chân
lý không có gì là cổ hay tân cả. Mặt trời lặn đêm nay
tại hướng Tây thì sẽ mọc lại vào ngày mai tại hướng
Ðông.
WP: Thanh
Tâm
