THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 

c
TRÍ TUỆ CỔ NHÂN VÀ VẤN ÐỀ THỜI ÐẠI
Francis Story
Thích Quảng Bảo
Lịch sử chinh phục của con người về môi trường sống đã được bắt đầu từ rất sớm, một câu chuyện về sự chấp nhận những sự đổi thay được đúc thành bởi sự cần thiết ngày càng phải nắm vững về kỹ thuật sống. May mắn lắm đó chỉ là sự chinh phục một phần nào đó thôi; những sự khác biệt trong phương cách sống không cần thiết phải được kèm theo bởi những sự thay đổi trong cách tư duy hoặc quan điểm mà có thể được mong đợi. Con người vẫn còn là một loài động vật nguyên thuỷ, thô sơ xét về bề mặt bên ngoài, các bản năng của anh ta tìm hiểu chúng theo một mẫu của một nền văn minh phức tạp hơn và những sự đáp lại của anh ta đối với những trường hợp riêng biệt rất xa vời với những trường hợp mà ông bà tổ tiên của anh ta phải đương dầu với ,song bản năng vẫn không khác gì. Về cơ bản họ không thay đổi kể từ khi những gì người xưa đã để lại cho chúng ta.

Những sự kiện và tình huống xuất phát từ nhân cách và trong khi bản năng tạo ra chúng vẫn không đổi thay, chính những trường hợp và những vấn đề về cơ bản vẫn giống nhau mặc dù chúng biểu hiện trên nhiều hình thức khác nhau. Chủ nghĩa lạc quan dung dị sau thời Ðácuyn thông qua một sự giải thích sai lầm về học thuyết tiến hoá, tin rằng nhân loại đang cải thiện một cách đều đặn, đã bị thải bỏ. Tuy nhiên cho dù tri thức tiến bộ đến đâu đi nữa cũng không thể giải thoát con người; cho dù tri thức có thể giải thoát con người khỏi những ràng buộc của giới học thức thì đó chỉ là việc thay thế chúng bằng những thứ khác. Tính ích kỷ, tự ngã, tham ái và khát khao được sống là những nhân tố nổi bật nhất nếu chỉ có tri thức mà không có sự bù đắp của trí tuệ thì phải chịu khúm núm, phụ thuộc. Nhìn sơ qua những tạng kinh điển của Phật giáo Nguyên thuỷ thì đủ để cho thấy rằng những vấn đề của xã hội ngày nay có những sự tương đồng với ở Ấn Ðộ cách đây hơn 2500 năm. Khao khát được sống và ý chí muốn sống trong tất cả các chúng sanh  đều bắt nguồn từ ái và Ðức Phật ngay sau khi giác ngộ vô thượng đã tuyên bố rằng:

Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này;
Khổ thay phải tái sanh;
Ôi người làm nhà kia;
Nay ta đã thấy ngươi;
Ngươi không làm nhà nữa;
Ðòn tay ngươi gãy rồi;
Kèo cột ngươi tan nát;
Tâm ta được an ổn;
Tham ái thảy tiêu vong”.
(Pháp cú 153-154)

Ngôi nhà là thân tứ đại; người xây nhà là tham ái, bản năng bám chặt nắm lấy sự sống, để giải thích tại sao những vấn đề của xã hội ngày nay mà nhân loại phải đương đầu về cơ bản rất giống với những vấn đề làm cho con người phiền toái ngay từ buổi bình minh của lịch sử. Chúng chỉ được chuyển gọn sang một cái tên khác mang tính chất toàn cầu thay vì giới hạn trong từng cá nhân hay bộ tộc. Trong cuộc sống ngày nay tôn giáo, một khi đã là một yếu tố chính trong lịch sử  thế giới, đóng một vai trò tương đối không quan trọng lắm. Thái độ của con người thời đại, tâm của anh ta quen với những thứ khác và đặc biệt càng cấp tốc hơn  và thực tế hơn những lợi nhuận được tạo điều kiện, bởi tôn giáo chỉ một mức độ nào đó mà những sự huấn luyện ban đầu được ghi sâu vào ý thức một cách mềm dẻo,vẫn còn duy trì ở nơi anh ta để tô màu cho mảnh đất tâm linh của mình. Ðối với đại đa số nhân loại trên thế giới  tôn giáo chính thống không còn là một sự ảnh hưởng năng động, tích cực ; những hành động được cân nhắc và xem xét không chỉ dựa vào những tiêu chuẩn của tôn giáo hoặc luân lý đạo đức mà còn dựa vào sự thành công hay thất bại xét theo quan điểm thuần tuý thế gian. Chúng không còn là “đúng” hay “sai” và đã trở thành đơn giản thiết thực hay phi thiết thực.

Một bản chất cơ hội đã củng cố một nơi trước đây của không khí thần bí như là một nguyên tắc ngự trị trong hành vi thái độ của con người như là kết quả của một sự suy  giảm về  niềm tin của một kiếp sau kèm theo công lý trừng phạt. Xét một mặt thì điều này có thể chấp nhận như là một bước đi hướng tới chủ nghĩa duy ly, song bởi vì yếu tố động cơ đằng sau hành động cơ hội vẫn còn duy trì bản năng của một con người man rợ, dã man, lý trí duy lý chỉ đóng một phần phụ trợ thôi. Lý trí bị mua chuộc để phục vụ cho những động cơ mà không phải là lý trí xét về cơ bản .Trong một bài Kinh rất nổi tiếng Brahmajala-Trường Bộ Kinh, Ðức Phật liệt kê 62 học thuyết ngoại đạo đương thời, từ ý tưởng siêu hình cho đến học thuyết vật chất vi tế và ngài đã bác bỏ tất cả. Ðầu óc lý trí của dân chúng Ấn Ðộ có khả năng về siêu hình học rất tinh tế mà châu AÂu không biết đến kể từ thời đại các trường phái Trung cổ phong kiến và nhiều học thuyết Bà-la môn giáo cổ đại đã biến mất khỏi thế giới, chỉ để lại tên của các học thuyết đó nhưng dứt khoát hơn và đối địch hơn  của những học thuyết được tìm thấy trong thời đại của chúng ta. Một số đang giả dạng như là những sự phát triển mới nhất trong tư tưởng nhân loại. Trong một bài kinh khác-Vô Hý Kinh-Trường Bộ Kinh, Ðức Phật giải quyết một trường hợp liên quan đến học thuyết trên bằng những lời sau:

Có một số Sa môn, Bà-la-môn có những chủ trương và quan điểm rằng : Không có kết quả của bố thí, không có kết quả của sự hy sinh (cúng tế), không có kết quả của tế tự, không có kết qua,û quả báo của các thiện nghiệp hay ác nghiệp,  không có đời này và cũng không có đời sau, không có các loại hoá sanh, không có mẹ cũng không có cha trên thế gian này, không có những vị Sa môn, Bà-la-môn xuất gia chơn chánh hành trì chánh đạo, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ thắng trí ”.

Trong trường hợp này, này các gia chủ, sự kiện chờ đợi xảy ra cho những Sa môn, Bà-la-môn chủ trương rằng không có kết quả quả báo của những nghiệp thiện hay nghiệp ác và không có đời này đời sau, v.v...sẽ từ bỏ 3 thiện pháp: thân thiện hành, khẩu thiện hành và ý thiện hành và sẽ chấp nhận 3 ác pháp: thân ác hành, khẩu ác hành và ý ác hành và sẽ thực hành chúng. Và vì sao vậy ? Vì những vị này không thấy sự hiểm nguy, sự hạ liệt và sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Mặc dù thực sự có đời sau quan điểm củ họ cho rằng không có đời sau và đó là một tà kiến. Mặc dù thực sự có đời sau, họ quả quyết rằng không có đời sau, và đó là tà tư duy. Mặc dù thực sự có đời sau, họ khẳng định rằng không có đời sau, thời đó là tà ngữ. Mặc dù thực sự có đời sau, họ bảo rằng không có đời sau và hành động trực tiếp mâu thuẫn với các bậc A-la-hán có tri thức về đời sau. Dù rằng thực sự có đời sau, họ hướng dẫn những người khác rằng không có đời sau và đây là sự hướng dẫn dựa vào tà thuyết. Với sự hướng dẫn dựa vào tà thuyết mà họ khen mình chê người khác. Như vậy thiện giới của họ trước đây bị trừ bỏ và ác giới được chấp trì và để lại tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự hướng dẫn đối nghịch dựa vào tà kiến đối nghịch với các bậc thánh, sự khen mình chê người. Như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến”.

Trong trường hợp này, này các gia chủ, vị có trí suy tư như thế này. Nếu không có đời sau thì vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ chứng được tự ngã an toàn, nhưng nếu có đời sau vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sanh vào cõi dữ ác thú, khổ đau. Nếu muốn, giả sử không có đời sau đi nữa, hoặc là lời nói của các vị Sa môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật. Nhưng người ấy bị người có trí quở trách thậm chí ngay trong đời này bởi vì có tà kiến và chủ trương hư vô luận. Nhưng nếu thực sự có đời sau vị này cả hai trường hợp đều gặp bất hạnh, vì vị ấy ngay trong hiện tại bị những người trí quở trách bởi vì có tà kiến và sau khi thân hoại mạng chung vị ấy sẽ tái sinh vào cõi ác thú. Như vậy, pháp vô hý luận này được chấp trì và thực hành một cách sai lạc bởi vì vị ấy chỉ chấp nhận một phía và bỏ một phía thiện pháp”.

Ở đây, sự kiện này được mong đợi rằng có những vị Sa môn, Bà-la-môn nào chủ trương và duy trì quan điểm rằng có kết quả quả báo của các thiện nghiệp và ác nghiệp, có đời sau, sẽ từ bỏ 3 ác bất thiện pháp : thân ác hành, khẩu ác hành, và ý ác hành và sẽ chơn chánh hành trì 3 thiện pháp : thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Và vì sao vậy? Bởi vì những vị ấy thấy được sự hiểm nguy sự hạ liệt sự cấy uế của các ác bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích, và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Như vậy sự đồi bại của những vị ấy trước đây được đoạn trừ và thiện giới phát sanh và chính điều này khiến vị ấy có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ sự thuyết phục này thuận với diệu pháp không mâu thuẫn với các vị A-la-hán, không khen mình chê người. Như vậy, những thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên chánh kiến”.

Khi thuyết về học thuyết Nghiệp, luật khoa học về hành động và phản ứng cho một môn sinh của Bà-la-môn Subha, Ðức Phật đụng chạm một vấn đề rất nổi bật trong tư tưởng nhân loại ngày nay. Ðó là sự khác biệt giữa con người với nhau. Sự biểu hiện của hạ liệt, ưu thắng giữa những chúng sanh đó luôn luôn là một đặc trưng của cuộc sống con người. Và chính vì vậy mà Ðức Phật giải thích sự bất đồng tương đối giữa những người phải chịu sanh tử do con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình, nghĩa là có liệt có ưu. Học thuyết nghiệp trình bày cuộc đời và vũ trụ dưới ánh sáng của quy luật logic hợp lý; và quy luật vô tư không thiên vị. Ngoài ra, đó là một quy luật rất nghiêm khắc hợp với những nguyên lý khoa học về luật nhân quả.

Khi Ðức Phật được yêu cầu đề cập đến những nguyên nhân khiến cho một quốc gia, cộng đồng thịnh vượng với sự liên hệ đến bộ tộc Vajjans (Bạt-kỳ)-bị đe doạ bởi một bộ tộc lân cận.

Phật hỏi ngài Anan: Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường nhóm họp để bàn luận về việc chính trị không? Anan đáp : có nghe. Phật bảo Anan: Nếu thế thời sự hoà thuận của già và trẻ lại càng tăng thêm. Nước ấy được yên ổn lâu dài, không ai có thể xâm lăng được. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ vua tôi đều hoà thuận, trên kính dưới nhường không? Anan đáp: Có nghe. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường tôn trọng luật pháp, hiểu rõ những điều giới cấm và có lễ độï không? Anan đáp : Có nghe. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận sư trưởng không ? Anan đáp : Có nghe. Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường tôn trọng đền miếu, kính nể quỷ thần không? Này Anan,ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ khuê môn,chân chính trong sạch không dơ cho đến cả việc đùa giỡn, nói năng không tà vọng không? Này Anan, ông có nghe dân chúng nước Bạt kỳ thường cung kính và phụng sự Sa môn, người trì giới chăm chú hộ trì chưa từng lười mỏi hộ dưỡng họ không? Anan đáp: Có nghe. Này Anan, nếu thế sự hoà thuận già trẻ càng tăng thêm, nước ấy được an ổn lâu dài không ai có thể xâm lăng được”. 

Lúc bấy giờ đại thần Võ Xá bạch Phật:
Thưa Thế Tôn, nếu dân xứ Bạt kỳ chỉ thi hành một điều thôi, còn không thể thắng họ được, huống nữa là họ thực hiện cả 7 điều trên. Vì việc nước quá đa đoan tôi xin kiếu từ Thế Tôn!” (Trường A Hàm I-Kinh DU HÀNH)

Những lời dạy của Ðức Phật như là một cuộc cách mạng xét về ý nghĩa hình thành những quy luật đạo đức và đưa ra những nguyên tắc luân lý ở một nơi mà hình thức hoá chủ nghĩa lễ nghi của Bà-la-môn giáo hiện thời. Một đặc trưng rất nổi bật trong hầu hết các bài thuyết của ngài là thái độ của ngài đối với các vấn đề thời gian. Ngài ủng hộ việc bảo tồn tất cả các phong tục,truyền thống mà thời gian đã chứng minh là đúng và có lợi ích và chỉ thải loại những gì làm cho xã hội giật lùi chậm tiến bộ chẳng hạn như giai cấp và việc đề cao vai trò của giới tu sĩ trong việc thực hành các buổi lễ cúng tế thần linh  và việc tu tập theo các cực đoan ép xác,khổ hạnh mà theo Phật giáo xem đó như là “mê tín dị đoan”. Ðối với vấn đề giai cấp, Ðức Phật, như chúng ta đã chứng kiến, thừa nhận sự phân biệt của chúng sanh gắn liền với sự hoạt động của nghiệp. Những gì ngài hoàn toàn bác bỏ là những học thuyết của Bà-la-môn giáo cho rằng đẳng cấp bắt nguồn từ Phạm Thiên và thuyết vạn vật hữu linh rằng 4 đẳng cấp chính của Ấn Ðộ xuất phát từ nhiều bộ phận khác nhau trong cơ của đấng Phạm Thiên. Ðiều này được giới thiệu súc tích ngắn gọn trong những bài kệ của kinh Pháp Cú tuyên bố rằng một Bà-la-môn là Bà-la-môn không chỉ được sinh ra mà do thanh tịnh thân, khẩu, ý.

Chẳng phải vì bện tóc;
Chẳng phải vì chủng tộc;
Cũng chẳng phải tại nơi sinh, 
Mà gọi là Bà-la-môn;
Nhưng ai hiểu biết chân thật;
Thông đạt chánh pháp.
Ðó là kẻ Bà-la-môn hạnh phúc.”.
                                 (Pháp cú - 393)

Ðiều đáng được chú ý ở đây là đối với vấn đề xét ở góc độ thuần khiết xã hội, Ðức Phật đặt giai cấp Sát đế lợi (Khattiya caste) vào địa vị cao nhất. Sự phân biệt được xếp đặt theo mức độ thế gian, nhưng đối với những ai xuất gia nhập vào Tăng đoàn thì không có sự phân biệt đẳng cấp, giá trị của bậc Thánh được đo đạt bằng giới hạnh của vị ấy. Nguyên lý này có một ứng dụng rộng hơn trong phạm vi của các vấn đề chủng tộc và dân tộc thời đại. Trong Ðạo Phật không có cơ sở cho sự sang hèn thuộc về chủng tộc hay là sự đối kháng phân biệt chủng tộc. Mỗi con người có giá trị của riêng mình, không phân biệt nền tảng, giai cấp, văn hoá hay chủng tộc.Vấn đề về những quyền của con người không thể tách rời những trách nhiệm của cá nhân. Ðối với sự bận tâm hiện thời về quyền của cộng đồng và quyền của các cá nhân,có một khuynh hướng bỏ qua sự kiện rằng quan điểm về quyền cũng ám chỉ ý tưởng về trách nhiệm,nhiệm vụ và bổn phận. Ðồng thời với Ðức Phật, tại Trung Hoa Ðức Khổng Tử cũng tuyên bố về nguyên lý này theo học thuyết riêng của Ngài về duy lý nhân bản. Trong khi đó Khổng Tử phác thảo quan điểm của Ngài về tầng lớp cai trị lý tưởng, hoà nhã, công bằng và luôn lo lắng quan tâm về lợi ích của dân chún, Ðức Phật cũng xoay chuyển tư duy của các vị đệ tử Ngài từ những ý tưởng cổ xưa lỗi thời cho rằng nhiệm vụ được áp đặt bởi tôn giáo là việc thực thi những hình thức cúng kính, tế lễ sang một ý tưởng cao hơn về trách nhiệm của một con người tại gia,trách nhiệm của anh ta đối với tha nhân.

Trong Kinh Sigalovada (Kinh Thiện Sinh) Ngài thuyết giảng cho một Bà-la-môn trẻ tuổi thường theo lời của cha mỗi buổi sáng ngủ dậy đều đảnh lễ sáu phương: Bắc, Nam, Ðông, Tây, Trên và Dưới trong lúc đầu tóc, aó quần đang còn ướt sũng. Nhưng đối với “giới luật của bậc Thánh” người chủ hộ trẻ tuổi không phải như vậy mà 6 phương nên được lễ lạy. Do vậy, Ðức Phật bắt đầu chỉ dạy chàng thanh niên và tiếp tục giải thích về ý nghĩa lễ 6 phương phải được hiểu ở góc dộ luân lý đạo đức.

Ðầu tiên, một sự mô tả tổng quát về số lần lễ lạy và những điều mà gia chủ nên tránh nếu không sẽ dẫn đến sự huỷ hoại và sự phung phí và những phẩm hạnh nên được tu tập khiến đưa đến an lạc và thịnh vượng. Sau đó bài pháp tiếp tục: “Và này gia chủ, một vị đêï tử của bậc thánh nên cung kính và bảo vệ 6 phương như thế nào? Những phương sau đây phải được xem như là 6 phương : Phương Ðông là cha mẹ; phương Nam là sư trưởng; phương Tây là thê thiếp, con cái; phương Bắc là bạn bè, láng giềng; phương Dưới là tôi tớ; phương trên là những Sa môn, Bà-la-môn và những người đức hạnh”. 

 Sau đây là lời giải thích chi tiết về trách nhiệm bổn phận của một người đối với một nhóm người trong mối quan hệ tương quan với anh ta. Toàn bộ bài pháp được hình thành trên cơ sở luân lý đạo dức xã hội bao hàm phạm vi rộng lớn về tính độc nhất, những quan điểm cao thượng và ứng dụng phổ biến của bài pháp. Chỉ cần 2 ví dụ đủ cho thấy ý tưởng về việc dành cho nhau những trách nhiệm, bổn phận được nhấn mạnh như thế nào.

Này Thiện Sinh làm người phải lấy 5 điều thân kính đối với bà con, bạn bè. Những gì là năm? Giúp đỡ tiền bạc, nói lời điều hoà,làm việc vì lợi ích chung, chung làm chung hưởng, không hề khi dối.  Này Thiện Sinh đây là 5 diều thân kính đối với bà con bạn bè. Trái lại, bà con cũng phải lấy 5 điều thân kính đối với người:hộ vệ khiến họ không phóng dật; hộ vệ về sự phóng dật để khỏi mất của; khuyên răng nhau lúc ở chỗ không có người; thường ngợi khen nhau. Này Thiện Sinh, người biết thân kính bà con, bạn bè như thế thì phương Bắc được bảo vệ, yên ổn không còn lo sợ”.

Này Thiện Sinh chủ đối với tớ cũng có 5 điều dạy bảo: Tuỳ khả năng mà sai khiến, tuỳ thời mà cho ăn uống, tuỳ thời mà thưởng công lao, khi bệnh thì lo thuốc thang điều trị, để cho tôi tớ có thời giờ nghỉ ngơi. Này Thiện Sanh ,đây là 5 diều dạy bảo tôi tớ. Ngược lại, tôi tớ cũng phải lấy 5 điều sau đây để phụng sự chủ mình: Thức khuya dậy sớm trước khi chủ thức dậy và đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật chủ cho; khéo đảm đang công việc không phải làm lấy có; đem danh tiếng tốt về cho chủ như vậy phương Dưới được che chở an ổn và không có điều chi lo sợ”.

Cách đối xử của Ðức Phật đối với chủ đề trên rất là đặc trưng của một cách mà Ngài thường quen lấy những niềm tin của các tôn giáo đang hiện hành và nâng những gia trị này lên một bậc cao hơn về giá trị đạo đức và tâm linh. Ngài truyền đạt chân lý của Ngài thông qua phương tiện truyền thông  của một truyền thống hiện thời. Chúng ta phải nên nhớ rằng Ðức Phật không thuyết giảng một học thuyết nào mới mẻ; Ngài thuyết giảng “chân lý cổ xưa” của vô lượng đức Phật trước Ngài. Mặc dù những lời dạy của các Ðức Phật này đã hoàn mãn trong ký ức của nhân loại, hoặc là chỉ tồn tại duy ở hình thức biểu hiện bên ngoài, ý nghĩa bên trong đã bị mai một, nhưng nó vẫn còn được duy trì và đang được duy trì phổ biến khắp pháp giới bất biến; nguyên lý giải thích về quy luật nhân quả ngự trị tất cả sự hiện hữu của thế giới hiện tượng. Ðối với Ðức Phật có thể nói một cách chân thành rằng Ngai đến để hoàn thành nó, để tái tuyên bố pháp đó theo một ý nghĩa tâm linh cao nhất.

Hiện nay chúng ta đang đứng tại một điểm chuyển tiếp trong lịch sử; sự lựa chọn là tuỳ thuộc chúng ta. Liệu chúng ta đi trên con đường đưa đén sự tiến bộ xa hơn hoặc là nó sẽ mang chúng ta đến sự huỷ diệt. Nhân loại cũng có đủ kinh nghiệm tối thiểu để chỉ ra rằng tri thức khoa học và sự kiểm soát thế giới vật chất là không giống nhau đối với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Nhãn quan của chúng ta phải được xoay chuyển đến một phương hướng mới nếu chúng ta phải tìm ra một lối thoát cho sự bế tắc. Rằng những gì mới nhất thì vô cùng cũ kỹ; giáo pháp vĩnh hằng, chân lý vượt thời gian vượt xa thế giới nhỏ nhen của chúng ta mà trong thế giới này con người chỉ quan tâm đến điều kiện vật chất.

Ðó là những điều mà chúng ta phải quay lại,bằng tất cả thái độ khiêm nhường và hy vọng, bởi vì đối với những bệnh tật cũ chúng ta nên tìm phương thuốc cũ. Nhưng trong lĩnh vực chân lý không có gì là cổ hay tân cả. Mặt trời lặn đêm nay tại hướng Tây thì sẽ mọc lại vào ngày mai tại hướng Ðông.
 
 

WP: Thanh Tâm

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap