THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 

c
TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO
Hoà thượng Tiến sĩ K.Sri.Dhammananda
Ðại đức Thích Quảng Bảo dịch
Mỗi người nên tôn thờ một tôn giáo nào đó đặc biệt là tôn giáo mời gọi những con người có đầu óc lý trí tâm linh. Một người không theo một tôn giáo nào và không thực hành thao những nguyên lý của tôn giáo thì sẽ trở thành một sự hiểm nguy cho xã hội. Trong khi rõ ràng giới khoa học gia và tâm lý gia đã mở rộng ra chân trời tri thức tâm linh của chúng ta, song họ không thể nói cho chúng ta biết về mục đích của cuộc đời mà chúng ta đang sống, một diều mà một tôn giáo đúng đắn có thể làm được.

Con người nên chọn cho mình một tôn giáo hợp lý trí và có ý nghĩa tuỳ theo sự tín ngưỡng của mình mà không phụ thuộc vào duy niềm tin tín ngưỡng, phong tục truyền thống, và hoạ thuyết. Không ai có quyền ép anh ta phải chấp nhận bất kỳ một tôn giáo nào. Không ai phải bóc lột sự nghèo khổ, thất học hoặc là đánh thức những tình cảm cảm xúc của con người để thuyết phục anh ta chấp nhận tôn giáo. Tôn giáo phải là một sự tự do lựa chọn.

Con người phải có quyền tự do chọn lựa tôn giáo của riêng mình theo sở thích và khả năng lý trí của mình. Theo tôn giáo một cách mù quáng mà không có một sự hiểu biết gì về tôn giáo thì sẽ làm giảm đi những giá trị tâm linh của tôn giáo đó và sự theo đuổi chân giá trị của con người. Nhân loại có khả năng lý trí (thông minh) và ý thức thông thường để phân biệt giữa cái đúng và cái sai. Họ có thể tự mình thích nghi với hoàn cảnh thực tại. Do vậy, họ nên chọn một tôn giáo thích hợp và họ và một tôn giáo có thể đáp ứng những nhu cầu về tâm linh lý trí của họ. Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và sau đó được cơ hội tự do quyết định mà không có một sự ép buộc nào.

TRIẾT LÝ TRUNG ÐẠO

Tôn giáo đang được trình bày ở đây là một hệ thống giáo dục tâm linh thiết thực đã được tiết lộ trên thế gian này hơn 2500 năm trước đây, và Bậc thầy sáng lập của tôn giáo này  là một Bậc giác Ngộ Vô thượng, một bậc thầy từ bi. Trọng tâm của giáo lý này được biết đến như là một triết lý trung đạo, một lối sống chân chánh, một hệ thống triết lý đạo đức và một tôn giáo của tự do và lý trí. Tôn giáo này dạy chúng ta nên làm 3 điều chính; đó là: Không làm các điều ác, làm các việc thiện và thanh tịnh tâm ý trong sạch".

Thông điệp này rất là đơn giản, có ý nghĩa, và thiết thực, song con người thường trải qua những khó khăn và trở ngại khi họ hành trì những lời dạy này trong cuộc sống do vì những yếu điểm vốn tìm ẩn nơi con người của họ. Giới hạnh của con người đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tôn giáo này. Bậc đạo sư của tôn giáo này đã dạy: "Giáo Pháp của ta là không phải đến để mà tin mà đến để mà thấy và hành trì". Nó khuyến khích chúng ta nên học tập và nghiên cứu giáo lý này một cách hoàn toàn và do đó cho phép chúng ta có quyền tự dùng khả năng phán xét của mình để quyết định liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo lý này hay không. Không một ai được yêu  cầu để đến và chấp nhận tôn giáo này mà không có sự hiểu biết trước khi tìm hiểu những lời dạy của tôn giáo này. Nghi thức và lễ nghi tập tục mê tín dị đoan không có một ý nghĩa hay giá trị tôn giáo chân thật. Không có tín ngưỡng và sự hành trì mang bản chất mê tín dị đoan hoặc là những học thuyết bí ẩn trong tôn giáo này. Mỗi thứ đều được mở ra cho sự chọn lựa của những tín đồ có quyền tự do khảo sát những lời dạy này và đưa ra sự nghi vấn  bất cứ khi nào họ muốn xoá tan đi sự nghi ngờ của họ. Theo vị sáng lập của tôn giáo này, chúng ta không nên tin những gì chỉ vì một bậc thánh vĩ đại đã đưa ra những lời dạy đó hoặc là bởi vì những lời dạy đó được nhiều người chấp nhận theo truyền thống, nhưng chúng ta nên dùng sự ý thức thông thường và khả năng lý trí của mình và chấp nhận những giáo lý ấy nếu như chúng đáng được chấp nhận.

Tôn giáo này dạy cho chúng ta con đường chánh đạo (Bát Thánh đạo- con đường tám nghành) bao gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Ðây là con đường trung đạo độc nhất cho phép chúng ta sống một cuộc sống thánh thiện và an lạc hạnh phúc.

Con đường trung đạo cũng không phải là con đường siêu hình học hay là con đường của lễ nghi tôn giáo; cũng không phải là giáo điều hay là hoài nghi; cũng không phải là tự tham đắm dục lạc hay là tự ép xác khổ hạnh; không lạc quan và cũng không bi quan yếm thế; không trường tồn bất biệt và cũng không phải là hư vô; đó là một con đường của sự giác ngộ, một phương tiện đưa đến sự giải thoát khỏi các khổ đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng chúng sanh hiện đang đau khổ bởi vì những tội lỗi do ông bà tổ tông của họ đã phạm phải trong nhiều kiếp trước; mà ngược lại, mỗi cá nhân mang theo những thiện nghiệp hay ác nghiệp do chính mình đã tạo ra trong vô lượng kiếp. Chính con người hoàn toàn chịu trách nhiệm cho chính những khổ đau hay hạnh phúc trong cuộc sống của chính mình. Người thực hành theo con đường trung đạo hài hoà có thể tìm được chân an lạc và hạnh phúc và có thể sống một cuộc đời đáng được kính trọng mà không bị lệ thuộc vào người khác, do vậy, họ có thể góp phần xây dựng sự an lạc và hạnh phúc cho thế giới này.

GẶT NHỮNG GÌ CHÚNG TA ÐÃ GIEO

Tôn giáo này làm thoả mãn những sự cảm hứng thâm uyên nhất và cao cả nhất của con người và giúp cho anh ta có thể chịu đựng những sự căng thẳng và sức đè ép của cuộc sống hằng ngày, giúp anh ta tiếp xúc với đồng loại của mình, ngoài việc đưa ra một mục đích của cuộc đời. Nó không làm cho nỗi sợ hãi càng thấm nhuần vào con người. “Thiện nghiệp sanh thiện quả và ác nghiệp sanh ác quả. Mỗi hành động đều có một hậu quả tương ứng”. Ðây là những quy luật phổ quát. Tôn giáo này hoàn toàn đồng ý với những quy luật này, do đó người ta phải gặt hái những gì mà họ đã gieo trồng. Những hành động ác do con người phạm phải là do vì sự tham lam, sân hận, si mê của chính họ. Những yếu điểm, những tánh xấu ấy có thể được nhiếp phục thông qua sự tự ý thức và tự giác ngộ. Hạnh phúc và khổ đau mà loài người kinh qua trên cuộc đời này là không phải do vì những sự ảnh hưởng của một tác nhân bên ngoài mà do vì những hành động thiện và ác của thân khẩu và ý chính họ đã tạo ra trong cuộc sống. Vì chính lý do này, tôn giáo này dạy: "Chúng ta là kết quả của những gì chúng ta đã làm và chúng ta sẽ là kết quả của những gì chúng ta đang làm".

Theo giáo lý này, luật nhân quả đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Trong một vòng nhân quả, một nguyên nhân đầu tiên là không thể cảm nhận được, nhìn thấy được bởi vì nguyên nhân luôn luôn trong sự tương tục trở thành quả và quả, ngược lại trở thành nguyên nhân.

MỘT BẬC ÐẠO SƯ VĨ ÐẠI

Người sáng lập của tôn giáo độc nhất này không phải là con người của huyền thoại, thần thánh mà là một bậc Thầy vĩ đại đã từng hiện hữu trên thế gian này. Ngài không bao giờ cố gắng để biểu hiện chính mình như là một đấng siêu nhiên mà là một chúng sanh tầm thường như những chúng sanh khác đã giác ngộ được chân lý tuyệt đối, chính là bí mật của sự sống và nguyên nhân chân thật của khổ đau và an lạc hạnh phúc. Ngày nay, bậc thầy này không chỉ được hàng trăm triệu tín đồ của ngài tôn kính và ngưỡng mộ mà còn nhiều giới có học thức và ưu tú trong mọi xã hội ngưỡng mộ và khâm phục ngài. Bậc Thánh nhân này, nhà giải phóng này, nhà cải cách xã hội này, nhà dân chủ và nhà gợi cảm này đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau một nền giáo lý cao thượng cho nhân loại sử dụng như là một phương tiện để loại trừ tất cả những khổ đau, buồn phiền, lo lắng và sợ hãi của con người. Những lời dạy cao quý này giúp cho nhân loại có thể đạt được hạnh phúc ngay rong cuộc sống hiện tại này và cuộc sống mai sau và đưa đến một sự giải thoát hoàn toàn tuyệt đối tất cả những đau khổ của nhân loại.

Bậc thầy vĩ đại này đã làm xoa dịu những người bị mất đi người thân bằng những lời an ủi của ngài. Ngài giúp những người nghèo bị xã hội ruồng bỏ, lãng quên. Ngài làm cho cuộc sống của những người dối trá trở nên thánh thiện và thanh tịnh hoá cuộc sống của những kẻ phạm tội, tù đày. Ngài khuyến khích những người yếu đuối, hoà hợp thống nhất những người bị chia rẽ, giác ngộ người ngu, làm sáng tỏ những huyền bí, nâng cao địa vị của kẻ hạ tiện bần cùng, và đề cao những bậc thánh. Cả người giàu lẫn người nghèo, bậc thánh lẫn kẻ tội lỗi đều yêu mến ngiaf như nhau. Các vua chúa bạo lực hay chân chánh, hoàng tử nổi tiếng hay không có tiếng tăm, những người quý tộc, triệu phú độ lượng và keo kiệt, giới học giả kêu hãnh hay khiêm nhường, kẻ thiếu thốn cơ cực, nghèo nàn, tầng lớp hạ tiện nhất của xã hội v.v... tất cả đều được lợi ích từ những lời dạy trí tuệ và từ bi của ngài và được sống một cuộc sống an lạc hạnh phúc, thánh thiện.

Tấm gương cao thượng của ngài là một nguồn gợi cảm cho tất cả nhân loại. Nét mặt thanh thản và an lạc của ngài thực sự là một nguồn lực êm dịu làm tươi mát những cặp mắt của những con người đang sống khổ đau. Thông điệp của ngài về hoà bình và khoan dung được tất cả nhân loại chào đón với một niềm hân hoan không thể diễn tả được, và là một sự lợi lạc mãi mãi cho những ai có diễm phúc được nghe và hành trì thông điệp ấy. Ý chí sắc đá của ngài, trí tuệ uyên thâm, lòng từ vô biên, tình thương phổ quát, tinh thần phục vụ vô ngã vị tha, sự xuất thế lịch sử, sự thanh tịnh hoàn toàn, cá tính hấp dẫn, những phương pháp mẫu mực được dùng để giới thiệu thông điệp ấy và sự thành công cuối cùng của Ngài-tất cả những yếu tố này đã khêu dậy sự quan tâm của hơn một phần năm dân số trên thế giới hiện nay, hoan nghênh bậc thầy này và tôn kính ngài như là một bậc đạo sư tối thượng của họ.

Bậc thầy cao quý thánh thiện này đã hy sinh những thú vui vật chất thế gian và tuổi thanh xuân của đời ngài vì sự nghiệp cứu khổ cho nhân loại giúp họ tìm ra chân lý để chỉ ra con đường đưa đến sự giải thoát khỏi tất cả khổ đau. Ngài đã viếng thăm những người nghèo trong khi các bậc vua chúa và cận thần đến thăm viếng ngài. Trong 45 năm sau khi giác ngộ, Ngài đã tận tuỵ cả đời mình cho sự giác ngộ những chúng sanh đau khổ đi lạc đường lầm lối.

Bậc đạo sư này không sợ một ai và Ngài cũng không làm cho bất kỳ một ai sợ Ngài. Ðây là một trong những nguyên lý cần nên được tu tập trau dồi trên thế giới chiến tranh xâu xé ngày nay, nơi mà hầu như cái quý nhất của đời người-sinh mạng-được dâng hiến trước án thờ của bọn sức mạnh vũ phu và nơi mà lực lượng vũ trang đang tạo ra sự sợ hãi, căng thẳng và hận thù.

Ngài là một nhà khoa học hoàn hảo nhất trong lĩnh vực cuộc sống. Ngài là một tâm lý gia hoàn hảo nhất có thể phân tích bản chất chân thật của tâm- quá nhiều đến độ mà giáo lý của ngài được xem như là một tôn giáo khoa học duy nhất.

Ðối với những nhà triết học và tư tưởng gia không thiên kiến, Ngài là một bậc thầy hiểu được những điều kiện của thế giới theo đúng với viễn cảnh của chúng. Ðối với các nhà luân lý, ngài là một con người luân lý mẫu mực cao nhất và ngài tượng trưng cho sự hoàn hảo. Ngài là một mẫu người hoàn hảo nhất cuả tất cả giới hạnh mà ngài tuyên thuyết. Ðối với các nhà duy lý, ngài là một bậc thầy tôn giáo tự do và cởi mở nhất đề cao những vấn đề nan giải của con người. Ðối với các nhà tự do tư tưởng, ngài là một người thầy tôn giáo khuyến khích nhân loại tư duy một caschtwj do thoải mái mà không cần phụ thuộc vào tín điều tôn giáo. Ðối với các nhà theo thuyết bất khả tri, ngài là một con người nhã nhặn, tử tế, thông thái và hiểu biết.

 Rõ ràng Ngài là một bậc thầy tôn giáo thuyết phục nhất trong các bậc thầy tôn giáo. Ngài không bao giờ sử dụng sự trói buộc và đe doạ sự sợ hãi như là một phương tiện để giáo hoá nhân loại. Ngài đã giới thiệu một triết lý sống đạo giáo cho nhân loại để sống có đạo ngay cả không cần đến sự chấp thủ vào nhãn hiệu tôn giáo.

Ngài là một người phục vụ nhân loại hết sức khiêm nhường, không lo sợ bởi sự khen chê, và thậm chí không bị những chướng bệnh trầm trọng nhất ngăn cản.

AN LẠC, HẠNH PHÚC VÀ SỰ GIẢI THOÁT

Bậc thầy vĩ đại này đã chỉ ra con đường đưa đến sự an lạc hạnh phúc và giải thoát. Cách giảng dạy của ngài thì hoàn toàn tự do, hợp lý trí, khoa học và dễ hiểu, đưa đến sự giác ngộ.

Ngày nay thông điệp của đức Phật về hoà bình quan trọng hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại đặc biệt trong một thời điểm mà nhân loại đang bị làm say mê bởi sân hận, tham lam, ghen tuông, kiêu căng và ước muốn chinh phục thế giới.

Bậc thầy này được sinh ra  trên thế gian này để xua tan đi những bóng tối của vô minh và cứu thế gian ra khỏi tất cả tội lỗi. Trên khắp toàn cầu, nhiều người tiếp tục sống mà cần tin tưởng vào hoặc là thực hành theo một hình thức tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chịu khó bỏ ra một ít thời gian để nghiên cứu và tìm hiểu những gì bậc đạo sư này đã dạy, thì họ có thể dễ dàng làm minh bạch sự nghi ngờ của mình, và tin rằng tôn giáo này có thể đóng góp tốt nhất cho hạnh phúc của nhân loại.

Cho dù chúng ta tin ở nơi ngài hay không, song giáo pháp của ngài cũng có một ảnh hưởng sâu đậm ở nơi con người. Thông điệp của ngài được phân phát cho nhân loại mà không có một hình thức bạo lực nào hoặc là một giọt máu chưa bao giờ được rơi xuống trên danh nghĩa của ngài. Ðây là một sự ghi nhận đáng kể trong lịch sử nhân loại có thể được in vào bảng vàng. Giáo lý này toả sáng một con đường mà thông qua đó nhân loại có thể vượt qua từ một thế giới khổ đau sang một thế giới mới-thế giới của ánh sáng, của tình thương, của an lạc, hạnh phúc và thoả mãn.

Hai mươi lăm thế kỷ qua, nền giáo lý cổ xưa của bậc thầy vĩ đại này đủ mạnh để đương đầu với những thử thách mới cảu thời đại mà không cần cải đổi hay đưa ra một sự giải thích mới so với giáo lý nguyên thuỷ của mình. Giáo lý này có thể được chấp nhận mà không phải sợ chống với những phát minh và thành tựu khoa học hiện đại.

Giáo lý xem giới hạnh như là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự chứng đắc giải thoát, giác ngộ. Ðiều kiện tiên quyết khác là trí tuệ. Giới hạnh và trí tuệ cũng có thể được so sánh với con mắt và đôi bàn chân của một con người. Giới giống như một chiếc xe đưa con người đến cánh cửa của sự giải thoát giác ngộ, nhưng chìa khoá thực sự để mở cánh cửa ra là trí tuệ.

HẠNH PHÚC THIÊN ÐƯỜNG

Tín đồ của tôn giáo này không xem chính họ là những con người duy nhất được chọn lựa để có cơ hội đạt được hạnh phúc của thiên đàng. Họ tin rằng con người có thể tạo ra thiên đàng và địa ngục cho chính mình tuỳ theo cách sống của anh ta và những khổ đau ở địa ngục hoặc là sự chứng đắc hạnh phúc của Niết-bàn có thể được kinh qua ngay trên thế gian này thay vì một kiếp sống lai sinh, như mọi người thường tin tưởng. Bậc Ðạo sư này chưa bao giờ cố gắng giới thiệu giáo lý của ngài bằng cách đe doạ con người thông qua lửa cháy ở địa ngục hay là giáo hoá họ bằng cách dạy cho họ hạnh phúc vĩnh cửu ở một cuộc sống thiên đường, nhưng ngài chỉ tiết lộ chân lý cho họ và chính họ phải thực hành theo chân lý đó. Khi thực hành đúng theo với những lời dạy này, thì mọi người đều có thể hưởng thụ được hạnh phúc thiên đàng miễn là người ấy sống một cuộc sống chân chánh. Thiên đàng không phải dành cho hoặc là độc quyền cho một tông phái của bát kỳ một cộng đồng tôn giáo nào. Thiên đàng nên dành cho tất cả nhân loại-những người sống một cuộc đời thánh thiện.

Khoan dung, kiên nhẫn và hiểu biết là những đức hạnh xứng đáng được giữ gìn bởi những tín đồ của tôn giáo này. Lòng từ, bi, và sự thông cảm đối với những người khác không bị hạn cuộc ở nơi con người mà được nới rộng ra tất cả chúng sanh-bởi vì sự huỷ diệt mạng sống dù là con người hay súc vật, đều được xem là tàn nhẫn và bất công bằng, và trái với giáo lý của tôn giáo này.

Tôn giáo này cũng khuyên tín đồ của mình nên tôn trọng quan điểm của những người khác để mà sống một cuộc sống hài hoà.

TRIẾT LÝ SỐNG

Phật giáo là một tôn giáo minh bạch, hợp với lý trí, và đưa ra những lời giải đáp hoàn hảo cho tất cả các phương diện quan trọng và những vấn đề liên quan đến cuộc đời. Phật giáo cung cấp một nền tảng vững chắc nhằm giúp nhân loại hướng đến một cách sống tích cực và tốt hơn.

Phật giáo cũng không chia rẽ nhân loại ra thành từng nhóm nhỏ-người được cứu rỗi và kẻ bị bỏ rơi, nhưng là một tôn giáo văn minh và hiểu biết dạy chúng ta làm thế nào để thuần phục những người vô đạo và làm cho những người được thuần phục tốt hơn.

Người Phật tử không tham đắm vào sự cầu nguyện không cần thiết. Họ tin vào tầm quan trọng của việc tự nỗ lực và hiệu quả của việc thực hành thiền định đưa đến sự tự chinh phục, tự kiềm chế, tự điều khiển, tự thanh tịnh hoá, và tự giác ngộ bởi vì thiền định đóng vai trò như một liều thuốc bổ cả cho thân lẫn cho tâm.

CON NGƯỜI CÓ THỂ UỐN NẮN NÊN CUỘC SỐNG CỦA MÌNH

Phật giáo cho rằng tâm là một năng lực mạnh nhất- là đấng sáng tạo và huỷ diệt con người và là kiến trúc sư của số phận con người. Do đó, con người có khả năng để uốn nắn mọi thứ giá như anh ta biết cách để phát triển và tận dụng tâm của mình một cách đúng đắn. 

Trên thực tế, Phật giáo đã là một ngọn hải đăng đáng khâm phục trong việc hướng dẫn, soi sáng đưa nhân loại đến sự an lạc, hạnh phúc và hạnh phúc trường cửu. Rõ ràng rằng thế giới ngày nay đang bị ảnh hưởng bởi những sự hiểu lầm về mặt chủng tộc, chính trị, tôn giáo, và ý thức hệ. Ðể giải quyết những vấn đề nan giải này, nhân loại phải thực thi tinh thần nhân ái và khoan dung lẫn nhau, và những đức tính này có thể được tu tập dưới sự hướng dẫn của Phật giáo khắc sâu với những sự phối tác về luân lý đạo đức vì lợi ích cho nhân loại.

Nhân loại nên nhận ra rằng sự phát triển tâm linh là cần thiết và quan trọng hơn sự phát triển về vật chất trong công cuộc mang lại chân hạnh phúc cho nhân loại. Con người cũng nên thực hành chân lý, sự phục vụ, từ thiện và tình thương nếu thế giới này trở thành một nơi tốt hơn để sinh tồn.

SỰ THẬT

Bậc đạo sư của tôn giáo này thông qua sự giác ngộ của ngài, đã tuyên bố rằng:

· Ðức hạnh vĩ đại nhất có được thông qua sự tu tập về lòng từ phổ quát;
· Hạnh phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ sự thanh tịnh của tâm;
· Chân lý tuyệt đối là chân lý có được thông qua sự hiểu biết về những nguyên nhân của khổ đau của nhân loại;
· Tôn giáo cao nhất là tôn giáo dạy nhân loại sự phát triển tâm linh, luân lý đạo đức và sự thanh tịnh hoá tinh thần;
· Triết lý vĩ đại nhất là triết lý mà giới thiệu một triết lý sống thiết thực có thể được thực hành mà không cần phụ thuộc vào những lý thuyết và những tín ngưỡng niềm tin;

Phật giáo không ngăn cản bất kỳ ai đọc và hành trì giáo lý của những tôn giáo khác, và không có lý do gì để cuồng tín. Một người cuồng tín không thể cho phép anh ta được sự hướng dẫn của lý trí hoặc là ngay cả của những nguyên lý khoa học quan sát và phân tích. Do vậy, người Phật tử là con người hoàn toàn tự do với tâm hồn cởi mở và không quỵ luỵ trước bất kỳ một ai để chứng đắc sự phát triển tâm linh của chính mình.

TIN TƯỞNG VÀO KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI

Thay vì đặt con người và số mệnh của anh ta dưới sự kiềm chế và điều khiển độc đoán chuyên quyền của một tác nhân vô danh từ bên ngoài và buộc con người phải chịu quỵ luỵ trước một đấng toàn năng toàn trí như thế, Phật giáo nâng cao địa vị của con người và đặt anh ta vào đúng vị trí của mình tuỳ theo anh ta hay khả năng của anh ta. Phật giáo dạy con người tu tập để phát huy những tiềm năng có sẵn bên trong anh ta.

Phật giáo còn dạy chúng ta tinh thần phục vụ vị tha và vô ngã. Người Phật tử tránh xa không làm các điều ác không phải vì sợ sự trừng phạt từ một đấng vô hình nào đó mà chỉ vì nhận ra rằng làm ác bất thiện sẽ mang lại sự đau khổ và bất hạnh cho mình và chúng sanh.

Ðộng cơ làm thiện, làm tốt của họ để giúp đỡ những người khác là không phải để làm vui lòng một đấng tối thượng quyền năng nào đó nhằm mong đợi một sự tưởng thưởng, nhưng do vì cảm giác xuất phát từ từ tâm và muốn giải thoát họ khỏi những khổ đau.

Chính ở nơi tôn giáo này bạn có thể tìm thấy một con đường đưa đến sự tốt đẹp hoàn toàn và trí tuệ tuyệt hảo mà không cần một sự giúp đỡ từ một sức mạnh bên ngoài. Bạn có thể chứng được trạng thái trí tuệ vô thượng thông qua sự giác ngộ chứ không cần thiết phải thông qua "sự cứu rỗi". Chúng ta có thể chuộc lại tội lỗi mà không cần đến sự trợ giúp của một người chịu trừng phạt thay cho chúng ta. Chúng ta có thể đạt được sự cứu rỗi ngay trong hiện tại này bằng cách nhiệt thàn nhiếp phục các căn của chúng ta mà không cần chờ đợi cho đến khi điều đó xảy ra ở kiếp sau. Phật giáo dạy rằng con người không phải phục vụ cho tôn giáo mà tôn giáo phải phục vụ cho con người. Ðiều này có nghĩa là: không trở nên nô lệ cho tôn giáo, con người phải cố gắng tận dụng tôn giáo cho sự giải thoát và sự hoàn thiện chính mình.

LIỆU ÐIỀU ÐÓ CÓ THỂ?

· Không có những thú vui dục lạc thì cuộc đời có thể kéo dài mãi mãi?
· Không có niềm tin vào sự bất tử con người có thể có luân lý đạo đức?
· Không có sự trợ giúp của một tác nhân bên ngoài con người có thể sống một cuộc sống chân chánh thánh thiện?
· Không có hình thức lễ nghi con người có thể sống một cuộc sống có đạo giáo?
· Không có niềm tin và tín ngưỡng về mặt tình cảm con người có thể thực hành tôn giáo ?
· Không có khổ đau thông qua sự tự hành xác để  hối lỗi trong các tôn giáo con người có thể đạt được sự giải thoát?
· Không tạo ra sự sợ hãi trong tâm của con người con người có thể thực hành theo một số nguyên lý tôn giáo?
· Không sử dụng bạo lực và đe doạ người khác chúng ta có thể truyền bá một tôn giáo đúng đắn?
· Không có mê tín dị đoan và những ý tưởng giáo điều mang danh nghĩa tôn giáo có thể thuyết phục đại đa số nhân loại sống một cuộc sống có đao?
· Con người có thể đánh giá cao và có cảm tình với tôn giáo mà không có sự huyền bí, huyền hoặc?

"Không," đức Phật đã trả lời như thế, nghĩa là tất cả những điều trên không cần thiết để hình thành nên một tôn giáo; những mục đích này có thể đạt được thông qua tinh thần phục vụ vị tha, bằng sự thanh tịnh, bằng giới và trí tuệ.

Nhận ra được quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo này làm sáng tỏ thêm và giúp giải quyết những vấn đề khổ đau của nhân loại, bí mật của định mệnh và tiền định, và trên hết là sự bất bình đẳng giữa nhân loại. Hiểu được quy luật này giúp chúng ta có được sự tin tưởng, hy vọng và tự tin và can đảm.

TÔN GIÁO HIỆN ÐẠI

Ðây không phải là một tôn giáo hay một học thuyết chỉ để tin vào mà là một triết lý sống thực tế và cao thượng. Ðây là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử đã mang lại những nền văn hoá và sự hoàn thiện cho nhân loại, nhưng hiện đại nhất trên mọi phương diện, khi được so sánh với những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại.

Tôn giáo này khuyên chúng ta không nên trở thành nô lệ cho bất cứ một đấng quyền năng nào từ bên ngoài nhưng hãy tu tập những tiềm năng ẩn chứa bên trong chính mình và tận dụng những nỗ lực và khả năng của mình để giải quyết vấn đề. Phật giáo có mỗi phẩm chất được yêu cầu của một tôn giáo hợp lý thích ứng với thế giới hiện tại và tương lai. Phật giáo là tôn giáo của sự lý trí, tiến bộ và hợp lý. Nó vô cùng có ích cho những ai nghiên cứu và nhận ra chân giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại. Người ta thừa nhận rằng Phật giáo là một tôn giáo khoa học hơn khoa học và tiến bộ hơn tất cả những nhân tố tiến bộ trong lĩnh vực tâm linh. Phật giáo là một trong những phương tiện hữu hiệu để được sử dụng cho việc duy trì sự hoà bình, hài hoà và hiểu  biết lẫn nhau trên thế giới.

KHÔNG CÓ SỰ PHÂN BIỆT

Lần đàu tiên trong lịch sử thế giới, chính tôn giáo này đã làm một cuộc cách mạng chống lại sự phân biệt và xem thường hệ thống giai cấp và đưa ra sự bình đẳng giữa nhân loại, theo những cơ hội công bằng cho tất cả để phân biệt chính họ trong mọi tầng lớp xã hội. Cũng chính trong Phật giáo lần đầu tiên ban cho nữ giới quyền tự do bằng cách khuyến khích họ tu tập và hành trì một tôn giáo mà tạo ra sự bành đẳng xã hội.

Baac đạo sư vĩ đại này tuyên bố rằng những cánh cửa đưa đến sự thành công và phát triển được mở ra cho tất cả với mọi điều kiện của cuộc sống dù cao hay thấp, thánh hay kẻ cướp, những ai quan tâm, tìm cầu cho sự hoàn hảo. Ngài không ép buộc người Phật tử phải làm nô lệ cho chính Ngài hoặc cho giáo lý của Ngài nhưng bảo đảm với họ sự tự do giải thoát hoàn toàn của tư tưởng và sự lựa chọn để mà họ có thể có được sự tự tin.

Phật giáo phân loại chúng sanh thành hai phần-tâm và sắc đang trong một trạng thái thay đổi không ngừng, không tồn tại, đứng yên một chỗ trong hai sát na liên tục. Tâm và sắc phát sinh và đoạn diệt và cứ tiếp tục trong một chu kỳ vòng tròn. Do đó, không có gì sẽ tồn tại thường hằng trên thế gian này hoặc là một nơi nào khác trên vũ trụ này. Bởi vì mọi thứ tồn tại trên một phần của vũ trụ này chỉ là một sự kết hợp của các yếu tố và năng lượng, rất tự nhiên rằng tất cả những vật này một ngày nào đó sẽ tan biến và những sự cấu thành sẽ biến mất hoàn toàn. Ðạo Phật cũng dạy chúng ta rằng mọi pháp hữu vi đều chịu sự chi phối của quy luật vô thường và xung đột do vì những điều kiện của vũ trụ hay là những quy luật của vũ trụ.

Giới luật của Phật giáo không phải là những mệnh lệnh. Do giữ những giới như không được sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, và uống rượu say sưa, người Phật tử có thể tự thanh tịnh mình và khiến cho tha nhân sống một cuộc sống an lạc.
 
 

WP: Thanh Tâm

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap