Mỗi
người nên tôn thờ một tôn giáo nào đó đặc biệt là tôn
giáo mời gọi những con người có đầu óc lý trí tâm linh.
Một người không theo một tôn giáo nào và không thực hành
thao những nguyên lý của tôn giáo thì sẽ trở thành một
sự hiểm nguy cho xã hội. Trong khi rõ ràng giới khoa học gia
và tâm lý gia đã mở rộng ra chân trời tri thức tâm linh
của chúng ta, song họ không thể nói cho chúng ta biết về
mục đích của cuộc đời mà chúng ta đang sống, một diều
mà một tôn giáo đúng đắn có thể làm được.
Con người
nên chọn cho mình một tôn giáo hợp lý trí và có ý nghĩa
tuỳ theo sự tín ngưỡng của mình mà không phụ thuộc vào
duy niềm tin tín ngưỡng, phong tục truyền thống, và hoạ
thuyết. Không ai có quyền ép anh ta phải chấp nhận bất kỳ
một tôn giáo nào. Không ai phải bóc lột sự nghèo khổ, thất
học hoặc là đánh thức những tình cảm cảm xúc của con
người để thuyết phục anh ta chấp nhận tôn giáo. Tôn giáo
phải là một sự tự do lựa chọn.
Con người
phải có quyền tự do chọn lựa tôn giáo của riêng mình theo
sở thích và khả năng lý trí của mình. Theo tôn giáo một
cách mù quáng mà không có một sự hiểu biết gì về tôn
giáo thì sẽ làm giảm đi những giá trị tâm linh của tôn
giáo đó và sự theo đuổi chân giá trị của con người. Nhân
loại có khả năng lý trí (thông minh) và ý thức thông thường
để phân biệt giữa cái đúng và cái sai. Họ có thể tự
mình thích nghi với hoàn cảnh thực tại. Do vậy, họ nên
chọn một tôn giáo thích hợp và họ và một tôn giáo có
thể đáp ứng những nhu cầu về tâm linh lý trí của họ.
Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và sau đó
được cơ hội tự do quyết định mà không có một sự ép
buộc nào.
TRIẾT
LÝ TRUNG ÐẠO
Tôn giáo
đang được trình bày ở đây là một hệ thống giáo dục
tâm linh thiết thực đã được tiết lộ trên thế gian này
hơn 2500 năm trước đây, và Bậc thầy sáng lập của tôn
giáo này là một Bậc giác Ngộ Vô thượng, một bậc
thầy từ bi. Trọng tâm của giáo lý này được biết đến
như là một triết lý trung đạo, một lối sống chân chánh,
một hệ thống triết lý đạo đức và một tôn giáo của
tự do và lý trí. Tôn giáo này dạy chúng ta nên làm 3 điều
chính; đó là: Không làm các điều ác, làm các việc thiện
và thanh tịnh tâm ý trong sạch".
Thông điệp
này rất là đơn giản, có ý nghĩa, và thiết thực, song con
người thường trải qua những khó khăn và trở ngại khi họ
hành trì những lời dạy này trong cuộc sống do vì những
yếu điểm vốn tìm ẩn nơi con người của họ. Giới hạnh
của con người đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
tôn giáo này. Bậc đạo sư của tôn giáo này đã dạy: "Giáo
Pháp của ta là không phải đến để mà tin mà đến để
mà thấy và hành trì". Nó khuyến khích chúng ta nên học tập
và nghiên cứu giáo lý này một cách hoàn toàn và do đó cho
phép chúng ta có quyền tự dùng khả năng phán xét của mình
để quyết định liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo lý
này hay không. Không một ai được yêu cầu để đến
và chấp nhận tôn giáo này mà không có sự hiểu biết trước
khi tìm hiểu những lời dạy của tôn giáo này. Nghi thức
và lễ nghi tập tục mê tín dị đoan không có một ý nghĩa
hay giá trị tôn giáo chân thật. Không có tín ngưỡng và sự
hành trì mang bản chất mê tín dị đoan hoặc là những học
thuyết bí ẩn trong tôn giáo này. Mỗi thứ đều được mở
ra cho sự chọn lựa của những tín đồ có quyền tự do khảo
sát những lời dạy này và đưa ra sự nghi vấn bất
cứ khi nào họ muốn xoá tan đi sự nghi ngờ của họ. Theo
vị sáng lập của tôn giáo này, chúng ta không nên tin những
gì chỉ vì một bậc thánh vĩ đại đã đưa ra những lời
dạy đó hoặc là bởi vì những lời dạy đó được nhiều
người chấp nhận theo truyền thống, nhưng chúng ta nên dùng
sự ý thức thông thường và khả năng lý trí của mình và
chấp nhận những giáo lý ấy nếu như chúng đáng được
chấp nhận.
Tôn giáo
này dạy cho chúng ta con đường chánh đạo (Bát Thánh đạo-
con đường tám nghành) bao gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh
ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm
và Chánh định. Ðây là con đường trung đạo độc nhất
cho phép chúng ta sống một cuộc sống thánh thiện và an lạc
hạnh phúc.
Con đường
trung đạo cũng không phải là con đường siêu hình học hay
là con đường của lễ nghi tôn giáo; cũng không phải là giáo
điều hay là hoài nghi; cũng không phải là tự tham đắm dục
lạc hay là tự ép xác khổ hạnh; không lạc quan và cũng không
bi quan yếm thế; không trường tồn bất biệt và cũng không
phải là hư vô; đó là một con đường của sự giác ngộ,
một phương tiện đưa đến sự giải thoát khỏi các khổ
đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng chúng sanh hiện đang
đau khổ bởi vì những tội lỗi do ông bà tổ tông của họ
đã phạm phải trong nhiều kiếp trước; mà ngược lại, mỗi
cá nhân mang theo những thiện nghiệp hay ác nghiệp do chính
mình đã tạo ra trong vô lượng kiếp. Chính con người hoàn
toàn chịu trách nhiệm cho chính những khổ đau hay hạnh phúc
trong cuộc sống của chính mình. Người thực hành theo con
đường trung đạo hài hoà có thể tìm được chân an lạc
và hạnh phúc và có thể sống một cuộc đời đáng được
kính trọng mà không bị lệ thuộc vào người khác, do vậy,
họ có thể góp phần xây dựng sự an lạc và hạnh phúc cho
thế giới này.
GẶT NHỮNG
GÌ CHÚNG TA ÐÃ GIEO
Tôn giáo
này làm thoả mãn những sự cảm hứng thâm uyên nhất và
cao cả nhất của con người và giúp cho anh ta có thể chịu
đựng những sự căng thẳng và sức đè ép của cuộc sống
hằng ngày, giúp anh ta tiếp xúc với đồng loại của mình,
ngoài việc đưa ra một mục đích của cuộc đời. Nó không
làm cho nỗi sợ hãi càng thấm nhuần vào con người. “Thiện
nghiệp sanh thiện quả và ác nghiệp sanh ác quả. Mỗi hành
động đều có một hậu quả tương ứng”. Ðây là những
quy luật phổ quát. Tôn giáo này hoàn toàn đồng ý với những
quy luật này, do đó người ta phải gặt hái những gì mà
họ đã gieo trồng. Những hành động ác do con người phạm
phải là do vì sự tham lam, sân hận, si mê của chính họ.
Những yếu điểm, những tánh xấu ấy có thể được nhiếp
phục thông qua sự tự ý thức và tự giác ngộ. Hạnh phúc
và khổ đau mà loài người kinh qua trên cuộc đời này là
không phải do vì những sự ảnh hưởng của một tác nhân
bên ngoài mà do vì những hành động thiện và ác của thân
khẩu và ý chính họ đã tạo ra trong cuộc sống. Vì chính
lý do này, tôn giáo này dạy: "Chúng ta là kết quả của
những gì chúng ta đã làm và chúng ta sẽ là kết quả của
những gì chúng ta đang làm".
Theo giáo
lý này, luật nhân quả đóng một vai trò rất quan trọng trong
cuộc sống của chúng ta. Trong một vòng nhân quả, một nguyên
nhân đầu tiên là không thể cảm nhận được, nhìn thấy
được bởi vì nguyên nhân luôn luôn trong sự tương tục trở
thành quả và quả, ngược lại trở thành nguyên nhân.
MỘT BẬC
ÐẠO SƯ VĨ ÐẠI
Người sáng
lập của tôn giáo độc nhất này không phải là con người
của huyền thoại, thần thánh mà là một bậc Thầy vĩ đại
đã từng hiện hữu trên thế gian này. Ngài không bao giờ
cố gắng để biểu hiện chính mình như là một đấng siêu
nhiên mà là một chúng sanh tầm thường như những chúng sanh
khác đã giác ngộ được chân lý tuyệt đối, chính là bí
mật của sự sống và nguyên nhân chân thật của khổ đau
và an lạc hạnh phúc. Ngày nay, bậc thầy này không chỉ được
hàng trăm triệu tín đồ của ngài tôn kính và ngưỡng mộ
mà còn nhiều giới có học thức và ưu tú trong mọi xã hội
ngưỡng mộ và khâm phục ngài. Bậc Thánh nhân này, nhà giải
phóng này, nhà cải cách xã hội này, nhà dân chủ và nhà
gợi cảm này đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau
một nền giáo lý cao thượng cho nhân loại sử dụng như là
một phương tiện để loại trừ tất cả những khổ đau,
buồn phiền, lo lắng và sợ hãi của con người. Những lời
dạy cao quý này giúp cho nhân loại có thể đạt được hạnh
phúc ngay rong cuộc sống hiện tại này và cuộc sống mai sau
và đưa đến một sự giải thoát hoàn toàn tuyệt đối tất
cả những đau khổ của nhân loại.
Bậc thầy
vĩ đại này đã làm xoa dịu những người bị mất đi người
thân bằng những lời an ủi của ngài. Ngài giúp những người
nghèo bị xã hội ruồng bỏ, lãng quên. Ngài làm cho cuộc
sống của những người dối trá trở nên thánh thiện và
thanh tịnh hoá cuộc sống của những kẻ phạm tội, tù đày.
Ngài khuyến khích những người yếu đuối, hoà hợp thống
nhất những người bị chia rẽ, giác ngộ người ngu, làm
sáng tỏ những huyền bí, nâng cao địa vị của kẻ hạ tiện
bần cùng, và đề cao những bậc thánh. Cả người giàu lẫn
người nghèo, bậc thánh lẫn kẻ tội lỗi đều yêu mến
ngiaf như nhau. Các vua chúa bạo lực hay chân chánh, hoàng tử
nổi tiếng hay không có tiếng tăm, những người quý tộc,
triệu phú độ lượng và keo kiệt, giới học giả kêu hãnh
hay khiêm nhường, kẻ thiếu thốn cơ cực, nghèo nàn, tầng
lớp hạ tiện nhất của xã hội v.v... tất cả đều được
lợi ích từ những lời dạy trí tuệ và từ bi của ngài
và được sống một cuộc sống an lạc hạnh phúc, thánh thiện.
Tấm gương
cao thượng của ngài là một nguồn gợi cảm cho tất cả
nhân loại. Nét mặt thanh thản và an lạc của ngài thực sự
là một nguồn lực êm dịu làm tươi mát những cặp mắt
của những con người đang sống khổ đau. Thông điệp của
ngài về hoà bình và khoan dung được tất cả nhân loại chào
đón với một niềm hân hoan không thể diễn tả được, và
là một sự lợi lạc mãi mãi cho những ai có diễm phúc được
nghe và hành trì thông điệp ấy. Ý chí sắc đá của ngài,
trí tuệ uyên thâm, lòng từ vô biên, tình thương phổ quát,
tinh thần phục vụ vô ngã vị tha, sự xuất thế lịch sử,
sự thanh tịnh hoàn toàn, cá tính hấp dẫn, những phương
pháp mẫu mực được dùng để giới thiệu thông điệp ấy
và sự thành công cuối cùng của Ngài-tất cả những yếu
tố này đã khêu dậy sự quan tâm của hơn một phần năm
dân số trên thế giới hiện nay, hoan nghênh bậc thầy này
và tôn kính ngài như là một bậc đạo sư tối thượng của
họ.
Bậc thầy
cao quý thánh thiện này đã hy sinh những thú vui vật chất
thế gian và tuổi thanh xuân của đời ngài vì sự nghiệp
cứu khổ cho nhân loại giúp họ tìm ra chân lý để chỉ ra
con đường đưa đến sự giải thoát khỏi tất cả khổ đau.
Ngài đã viếng thăm những người nghèo trong khi các bậc vua
chúa và cận thần đến thăm viếng ngài. Trong 45 năm sau khi
giác ngộ, Ngài đã tận tuỵ cả đời mình cho sự giác ngộ
những chúng sanh đau khổ đi lạc đường lầm lối.
Bậc đạo
sư này không sợ một ai và Ngài cũng không làm cho bất kỳ
một ai sợ Ngài. Ðây là một trong những nguyên lý cần nên
được tu tập trau dồi trên thế giới chiến tranh xâu xé
ngày nay, nơi mà hầu như cái quý nhất của đời người-sinh
mạng-được dâng hiến trước án thờ của bọn sức mạnh
vũ phu và nơi mà lực lượng vũ trang đang tạo ra sự sợ
hãi, căng thẳng và hận thù.
Ngài là một
nhà khoa học hoàn hảo nhất trong lĩnh vực cuộc sống. Ngài
là một tâm lý gia hoàn hảo nhất có thể phân tích bản chất
chân thật của tâm- quá nhiều đến độ mà giáo lý của
ngài được xem như là một tôn giáo khoa học duy nhất.
Ðối với
những nhà triết học và tư tưởng gia không thiên kiến, Ngài
là một bậc thầy hiểu được những điều kiện của thế
giới theo đúng với viễn cảnh của chúng. Ðối với các
nhà luân lý, ngài là một con người luân lý mẫu mực cao
nhất và ngài tượng trưng cho sự hoàn hảo. Ngài là một
mẫu người hoàn hảo nhất cuả tất cả giới hạnh mà ngài
tuyên thuyết. Ðối với các nhà duy lý, ngài là một bậc
thầy tôn giáo tự do và cởi mở nhất đề cao những vấn
đề nan giải của con người. Ðối với các nhà tự do tư
tưởng, ngài là một người thầy tôn giáo khuyến khích nhân
loại tư duy một caschtwj do thoải mái mà không cần phụ thuộc
vào tín điều tôn giáo. Ðối với các nhà theo thuyết bất
khả tri, ngài là một con người nhã nhặn, tử tế, thông
thái và hiểu biết.
Rõ ràng
Ngài là một bậc thầy tôn giáo thuyết phục nhất trong các
bậc thầy tôn giáo. Ngài không bao giờ sử dụng sự trói
buộc và đe doạ sự sợ hãi như là một phương tiện để
giáo hoá nhân loại. Ngài đã giới thiệu một triết lý sống
đạo giáo cho nhân loại để sống có đạo ngay cả không
cần đến sự chấp thủ vào nhãn hiệu tôn giáo.
Ngài là một
người phục vụ nhân loại hết sức khiêm nhường, không
lo sợ bởi sự khen chê, và thậm chí không bị những chướng
bệnh trầm trọng nhất ngăn cản.
AN LẠC,
HẠNH PHÚC VÀ SỰ GIẢI THOÁT
Bậc thầy
vĩ đại này đã chỉ ra con đường đưa đến sự an lạc
hạnh phúc và giải thoát. Cách giảng dạy của ngài thì hoàn
toàn tự do, hợp lý trí, khoa học và dễ hiểu, đưa đến
sự giác ngộ.
Ngày nay thông
điệp của đức Phật về hoà bình quan trọng hơn bao giờ
hết trong lịch sử nhân loại đặc biệt trong một thời điểm
mà nhân loại đang bị làm say mê bởi sân hận, tham lam, ghen
tuông, kiêu căng và ước muốn chinh phục thế giới.
Bậc thầy
này được sinh ra trên thế gian này để xua tan đi những
bóng tối của vô minh và cứu thế gian ra khỏi tất cả tội
lỗi. Trên khắp toàn cầu, nhiều người tiếp tục sống mà
cần tin tưởng vào hoặc là thực hành theo một hình thức
tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chịu khó bỏ ra một ít thời
gian để nghiên cứu và tìm hiểu những gì bậc đạo sư này
đã dạy, thì họ có thể dễ dàng làm minh bạch sự nghi ngờ
của mình, và tin rằng tôn giáo này có thể đóng góp tốt
nhất cho hạnh phúc của nhân loại.
Cho dù chúng
ta tin ở nơi ngài hay không, song giáo pháp của ngài cũng có
một ảnh hưởng sâu đậm ở nơi con người. Thông điệp
của ngài được phân phát cho nhân loại mà không có một
hình thức bạo lực nào hoặc là một giọt máu chưa bao giờ
được rơi xuống trên danh nghĩa của ngài. Ðây là một sự
ghi nhận đáng kể trong lịch sử nhân loại có thể được
in vào bảng vàng. Giáo lý này toả sáng một con đường mà
thông qua đó nhân loại có thể vượt qua từ một thế giới
khổ đau sang một thế giới mới-thế giới của ánh sáng,
của tình thương, của an lạc, hạnh phúc và thoả mãn.
Hai mươi
lăm thế kỷ qua, nền giáo lý cổ xưa của bậc thầy vĩ đại
này đủ mạnh để đương đầu với những thử thách mới
cảu thời đại mà không cần cải đổi hay đưa ra một sự
giải thích mới so với giáo lý nguyên thuỷ của mình. Giáo
lý này có thể được chấp nhận mà không phải sợ chống
với những phát minh và thành tựu khoa học hiện đại.
Giáo lý xem
giới hạnh như là một trong những điều kiện tiên quyết
cho sự chứng đắc giải thoát, giác ngộ. Ðiều kiện tiên
quyết khác là trí tuệ. Giới hạnh và trí tuệ cũng có thể
được so sánh với con mắt và đôi bàn chân của một con
người. Giới giống như một chiếc xe đưa con người đến
cánh cửa của sự giải thoát giác ngộ, nhưng chìa khoá thực
sự để mở cánh cửa ra là trí tuệ.
HẠNH PHÚC
THIÊN ÐƯỜNG
Tín đồ
của tôn giáo này không xem chính họ là những con người duy
nhất được chọn lựa để có cơ hội đạt được hạnh
phúc của thiên đàng. Họ tin rằng con người có thể tạo
ra thiên đàng và địa ngục cho chính mình tuỳ theo cách sống
của anh ta và những khổ đau ở địa ngục hoặc là sự chứng
đắc hạnh phúc của Niết-bàn có thể được kinh qua ngay
trên thế gian này thay vì một kiếp sống lai sinh, như mọi
người thường tin tưởng. Bậc Ðạo sư này chưa bao giờ
cố gắng giới thiệu giáo lý của ngài bằng cách đe doạ
con người thông qua lửa cháy ở địa ngục hay là giáo hoá
họ bằng cách dạy cho họ hạnh phúc vĩnh cửu ở một cuộc
sống thiên đường, nhưng ngài chỉ tiết lộ chân lý cho họ
và chính họ phải thực hành theo chân lý đó. Khi thực hành
đúng theo với những lời dạy này, thì mọi người đều
có thể hưởng thụ được hạnh phúc thiên đàng miễn là
người ấy sống một cuộc sống chân chánh. Thiên đàng không
phải dành cho hoặc là độc quyền cho một tông phái của
bát kỳ một cộng đồng tôn giáo nào. Thiên đàng nên dành
cho tất cả nhân loại-những người sống một cuộc đời
thánh thiện.
Khoan dung,
kiên nhẫn và hiểu biết là những đức hạnh xứng đáng
được giữ gìn bởi những tín đồ của tôn giáo này. Lòng
từ, bi, và sự thông cảm đối với những người khác không
bị hạn cuộc ở nơi con người mà được nới rộng ra tất
cả chúng sanh-bởi vì sự huỷ diệt mạng sống dù là con
người hay súc vật, đều được xem là tàn nhẫn và bất
công bằng, và trái với giáo lý của tôn giáo này.
Tôn giáo
này cũng khuyên tín đồ của mình nên tôn trọng quan điểm
của những người khác để mà sống một cuộc sống hài
hoà.
TRIẾT
LÝ SỐNG
Phật giáo
là một tôn giáo minh bạch, hợp với lý trí, và đưa ra những
lời giải đáp hoàn hảo cho tất cả các phương diện quan
trọng và những vấn đề liên quan đến cuộc đời. Phật
giáo cung cấp một nền tảng vững chắc nhằm giúp nhân loại
hướng đến một cách sống tích cực và tốt hơn.
Phật giáo
cũng không chia rẽ nhân loại ra thành từng nhóm nhỏ-người
được cứu rỗi và kẻ bị bỏ rơi, nhưng là một tôn giáo
văn minh và hiểu biết dạy chúng ta làm thế nào để thuần
phục những người vô đạo và làm cho những người được
thuần phục tốt hơn.
Người Phật
tử không tham đắm vào sự cầu nguyện không cần thiết.
Họ tin vào tầm quan trọng của việc tự nỗ lực và hiệu
quả của việc thực hành thiền định đưa đến sự tự
chinh phục, tự kiềm chế, tự điều khiển, tự thanh tịnh
hoá, và tự giác ngộ bởi vì thiền định đóng vai trò như
một liều thuốc bổ cả cho thân lẫn cho tâm.
CON NGƯỜI
CÓ THỂ UỐN NẮN NÊN CUỘC SỐNG CỦA MÌNH
Phật giáo
cho rằng tâm là một năng lực mạnh nhất- là đấng sáng
tạo và huỷ diệt con người và là kiến trúc sư của số
phận con người. Do đó, con người có khả năng để uốn
nắn mọi thứ giá như anh ta biết cách để phát triển và
tận dụng tâm của mình một cách đúng đắn.
Trên thực
tế, Phật giáo đã là một ngọn hải đăng đáng khâm phục
trong việc hướng dẫn, soi sáng đưa nhân loại đến sự an
lạc, hạnh phúc và hạnh phúc trường cửu. Rõ ràng rằng
thế giới ngày nay đang bị ảnh hưởng bởi những sự hiểu
lầm về mặt chủng tộc, chính trị, tôn giáo, và ý thức
hệ. Ðể giải quyết những vấn đề nan giải này, nhân loại
phải thực thi tinh thần nhân ái và khoan dung lẫn nhau, và
những đức tính này có thể được tu tập dưới sự hướng
dẫn của Phật giáo khắc sâu với những sự phối tác về
luân lý đạo đức vì lợi ích cho nhân loại.
Nhân loại
nên nhận ra rằng sự phát triển tâm linh là cần thiết và
quan trọng hơn sự phát triển về vật chất trong công cuộc
mang lại chân hạnh phúc cho nhân loại. Con người cũng nên
thực hành chân lý, sự phục vụ, từ thiện và tình thương
nếu thế giới này trở thành một nơi tốt hơn để sinh tồn.
SỰ THẬT
Bậc đạo
sư của tôn giáo này thông qua sự giác ngộ của ngài, đã
tuyên bố rằng:
· Ðức hạnh
vĩ đại nhất có được thông qua sự tu tập về lòng từ
phổ quát;
· Hạnh
phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ sự thanh tịnh
của tâm;
· Chân lý
tuyệt đối là chân lý có được thông qua sự hiểu biết
về những nguyên nhân của khổ đau của nhân loại;
· Tôn giáo
cao nhất là tôn giáo dạy nhân loại sự phát triển tâm linh,
luân lý đạo đức và sự thanh tịnh hoá tinh thần;
· Triết
lý vĩ đại nhất là triết lý mà giới thiệu một triết
lý sống thiết thực có thể được thực hành mà không cần
phụ thuộc vào những lý thuyết và những tín ngưỡng niềm
tin;
Phật giáo
không ngăn cản bất kỳ ai đọc và hành trì giáo lý của
những tôn giáo khác, và không có lý do gì để cuồng tín.
Một người cuồng tín không thể cho phép anh ta được sự
hướng dẫn của lý trí hoặc là ngay cả của những nguyên
lý khoa học quan sát và phân tích. Do vậy, người Phật tử
là con người hoàn toàn tự do với tâm hồn cởi mở và không
quỵ luỵ trước bất kỳ một ai để chứng đắc sự phát
triển tâm linh của chính mình.
TIN TƯỞNG
VÀO KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI
Thay vì đặt
con người và số mệnh của anh ta dưới sự kiềm chế và
điều khiển độc đoán chuyên quyền của một tác nhân vô
danh từ bên ngoài và buộc con người phải chịu quỵ luỵ
trước một đấng toàn năng toàn trí như thế, Phật giáo
nâng cao địa vị của con người và đặt anh ta vào đúng
vị trí của mình tuỳ theo anh ta hay khả năng của anh ta. Phật
giáo dạy con người tu tập để phát huy những tiềm năng
có sẵn bên trong anh ta.
Phật giáo
còn dạy chúng ta tinh thần phục vụ vị tha và vô ngã. Người
Phật tử tránh xa không làm các điều ác không phải vì sợ
sự trừng phạt từ một đấng vô hình nào đó mà chỉ vì
nhận ra rằng làm ác bất thiện sẽ mang lại sự đau khổ
và bất hạnh cho mình và chúng sanh.
Ðộng cơ
làm thiện, làm tốt của họ để giúp đỡ những người
khác là không phải để làm vui lòng một đấng tối thượng
quyền năng nào đó nhằm mong đợi một sự tưởng thưởng,
nhưng do vì cảm giác xuất phát từ từ tâm và muốn giải
thoát họ khỏi những khổ đau.
Chính ở
nơi tôn giáo này bạn có thể tìm thấy một con đường đưa
đến sự tốt đẹp hoàn toàn và trí tuệ tuyệt hảo mà không
cần một sự giúp đỡ từ một sức mạnh bên ngoài. Bạn
có thể chứng được trạng thái trí tuệ vô thượng thông
qua sự giác ngộ chứ không cần thiết phải thông qua "sự
cứu rỗi". Chúng ta có thể chuộc lại tội lỗi mà không
cần đến sự trợ giúp của một người chịu trừng phạt
thay cho chúng ta. Chúng ta có thể đạt được sự cứu rỗi
ngay trong hiện tại này bằng cách nhiệt thàn nhiếp phục
các căn của chúng ta mà không cần chờ đợi cho đến khi
điều đó xảy ra ở kiếp sau. Phật giáo dạy rằng con người
không phải phục vụ cho tôn giáo mà tôn giáo phải phục vụ
cho con người. Ðiều này có nghĩa là: không trở nên nô lệ
cho tôn giáo, con người phải cố gắng tận dụng tôn giáo
cho sự giải thoát và sự hoàn thiện chính mình.
LIỆU ÐIỀU
ÐÓ CÓ THỂ?
· Không có
những thú vui dục lạc thì cuộc đời có thể kéo dài mãi
mãi?
· Không
có niềm tin vào sự bất tử con người có thể có luân lý
đạo đức?
· Không
có sự trợ giúp của một tác nhân bên ngoài con người có
thể sống một cuộc sống chân chánh thánh thiện?
· Không
có hình thức lễ nghi con người có thể sống một cuộc sống
có đạo giáo?
· Không
có niềm tin và tín ngưỡng về mặt tình cảm con người có
thể thực hành tôn giáo ?
· Không
có khổ đau thông qua sự tự hành xác để hối lỗi
trong các tôn giáo con người có thể đạt được sự giải
thoát?
· Không
tạo ra sự sợ hãi trong tâm của con người con người có
thể thực hành theo một số nguyên lý tôn giáo?
· Không
sử dụng bạo lực và đe doạ người khác chúng ta có thể
truyền bá một tôn giáo đúng đắn?
· Không
có mê tín dị đoan và những ý tưởng giáo điều mang danh
nghĩa tôn giáo có thể thuyết phục đại đa số nhân loại
sống một cuộc sống có đao?
· Con người
có thể đánh giá cao và có cảm tình với tôn giáo mà không
có sự huyền bí, huyền hoặc?
"Không,"
đức Phật đã trả lời như thế, nghĩa là tất cả những
điều trên không cần thiết để hình thành nên một tôn giáo;
những mục đích này có thể đạt được thông qua tinh thần
phục vụ vị tha, bằng sự thanh tịnh, bằng giới và trí
tuệ.
Nhận ra được
quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo
này làm sáng tỏ thêm và giúp giải quyết những vấn đề
khổ đau của nhân loại, bí mật của định mệnh và tiền
định, và trên hết là sự bất bình đẳng giữa nhân loại.
Hiểu được quy luật này giúp chúng ta có được sự tin tưởng,
hy vọng và tự tin và can đảm.
TÔN GIÁO
HIỆN ÐẠI
Ðây không
phải là một tôn giáo hay một học thuyết chỉ để tin vào
mà là một triết lý sống thực tế và cao thượng. Ðây là
một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử đã
mang lại những nền văn hoá và sự hoàn thiện cho nhân loại,
nhưng hiện đại nhất trên mọi phương diện, khi được so
sánh với những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại.
Tôn giáo
này khuyên chúng ta không nên trở thành nô lệ cho bất cứ
một đấng quyền năng nào từ bên ngoài nhưng hãy tu tập
những tiềm năng ẩn chứa bên trong chính mình và tận dụng
những nỗ lực và khả năng của mình để giải quyết vấn
đề. Phật giáo có mỗi phẩm chất được yêu cầu của một
tôn giáo hợp lý thích ứng với thế giới hiện tại và tương
lai. Phật giáo là tôn giáo của sự lý trí, tiến bộ và hợp
lý. Nó vô cùng có ích cho những ai nghiên cứu và nhận ra
chân giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại.
Người ta thừa nhận rằng Phật giáo là một tôn giáo khoa
học hơn khoa học và tiến bộ hơn tất cả những nhân tố
tiến bộ trong lĩnh vực tâm linh. Phật giáo là một trong những
phương tiện hữu hiệu để được sử dụng cho việc duy
trì sự hoà bình, hài hoà và hiểu biết lẫn nhau trên
thế giới.
KHÔNG CÓ
SỰ PHÂN BIỆT
Lần đàu
tiên trong lịch sử thế giới, chính tôn giáo này đã làm
một cuộc cách mạng chống lại sự phân biệt và xem thường
hệ thống giai cấp và đưa ra sự bình đẳng giữa nhân loại,
theo những cơ hội công bằng cho tất cả để phân biệt chính
họ trong mọi tầng lớp xã hội. Cũng chính trong Phật giáo
lần đầu tiên ban cho nữ giới quyền tự do bằng cách khuyến
khích họ tu tập và hành trì một tôn giáo mà tạo ra sự
bành đẳng xã hội.
Baac đạo
sư vĩ đại này tuyên bố rằng những cánh cửa đưa đến
sự thành công và phát triển được mở ra cho tất cả với
mọi điều kiện của cuộc sống dù cao hay thấp, thánh hay
kẻ cướp, những ai quan tâm, tìm cầu cho sự hoàn hảo. Ngài
không ép buộc người Phật tử phải làm nô lệ cho chính
Ngài hoặc cho giáo lý của Ngài nhưng bảo đảm với họ sự
tự do giải thoát hoàn toàn của tư tưởng và sự lựa chọn
để mà họ có thể có được sự tự tin.
Phật giáo
phân loại chúng sanh thành hai phần-tâm và sắc đang trong một
trạng thái thay đổi không ngừng, không tồn tại, đứng yên
một chỗ trong hai sát na liên tục. Tâm và sắc phát sinh và
đoạn diệt và cứ tiếp tục trong một chu kỳ vòng tròn.
Do đó, không có gì sẽ tồn tại thường hằng trên thế gian
này hoặc là một nơi nào khác trên vũ trụ này. Bởi vì mọi
thứ tồn tại trên một phần của vũ trụ này chỉ là một
sự kết hợp của các yếu tố và năng lượng, rất tự nhiên
rằng tất cả những vật này một ngày nào đó sẽ tan biến
và những sự cấu thành sẽ biến mất hoàn toàn. Ðạo Phật
cũng dạy chúng ta rằng mọi pháp hữu vi đều chịu sự chi
phối của quy luật vô thường và xung đột do vì những điều
kiện của vũ trụ hay là những quy luật của vũ trụ.
Giới luật
của Phật giáo không phải là những mệnh lệnh. Do giữ những
giới như không được sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo,
và uống rượu say sưa, người Phật tử có thể tự thanh
tịnh mình và khiến cho tha nhân sống một cuộc sống an lạc.
WP: Thanh
Tâm
