TÔN
GIÁO VÀ HẠNH PHÚC
NHÂN LOẠI
Những
lý giải khác nhau
“Tôn giáo”
và “hòa bình” là hai thuật ngữ thường được nhiều người
định nghĩa và giải thích theo niềm tin tôn giáo và trình
độ hiểu biết khác nhau của họ.
Các học
giả và các nhà triết học đã nhìn tôn giáo theo nhiều khía
cạnh khác nhau. Một số người định nghĩa tôn giáo theo một
ý nghĩa rất chật hẹp và hạn chế, trong khi đó có một
số người lại xem nó ở một bình diện rộng hơn.
Từ điển
Oxford định nghĩa: “Tôn giáo là một thống niềm tin và
sùng bái (a system of faith and worship), là sự nhận thức của
con người về một Thượng đế cá nhân buộc phải tuân theo,
và hậu quả của sự nhận thức đó có liên quan đến phẩm
hạnh của con người.
Thomas Paine,
một triết gia người Anh đã phát biểu “Thế giới là
đất nước của tôi, nhân loại là anh em của tôi và làm
các điều thiện là tôn giáo của tôi”. Một thái độ
như thế đối với tôn giáo rất là cần thiết nhằm mục
đích mang lại sự hòa bình và hài hòa cho thế giới mà chúng
ta đang sinh tồn. H.G. Wells phát biểu “Tôn giáo là phần
trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta. Nó quyết định
những giá trị đạo đức của chúng ta”. Theo Emmanuel
Kant, triết gia nổi tiếng người Ðức thì “Tôn giáo là
sự nhận thức của chúng ta về những nguyên lý đạo đức
như là những quy luật mà chúng ta không được phạm”.
Karl
Marx, ngược lại, xem tôn giáo như là “thuốc phiện của
nhân loại”- khiến cho con người trở nên xa rời với thực
tế, nuôi dưỡng một niềm hy vọng ảo tưởng về hạnh phúc
trong một kiếp sống sau khi chết sẽ được đền bù cho những
hành động tội lỗi đã tạo trong kiếp sống hiện tại.
Theo Engel “Tôn giáo chỉ là những phản ảnh không tưởng
trong đầu óc của con người về những lực lượng bên ngoài
điều khiển cuộc sống bên trong của họ lúc sơ khai”.
Mục Tiêu
Là Một
Cho dù những
sự dị biệt và những sự giải thích khác nhau, song tất
cả các tôn giáo luôn luôn đồng ý rằng hòa bình là nhu cầu
cần thiết và tôn giáo đóng vai trò thiết yếu trong việc
phát triển sự an lạc, hòa bình cho mỗi cá nhân, gia đình,
xã hội, quốc gia và cộng đồng thế giới.
Nhu Cầu
Của Nền Giáo Dục Ðạo Giáo
Khi thế giới
ngày càng tiến sâu vào kỷ nguyên của sự hỗn độn với
nhiều thứ vũ khí hạt nhân tinh vi và nguy hiểm và bên cạnh
đó còn có hiện tượng thiên tai và sự suy đồi về luân
lý đạo đức. Ngày nay nhu cầu cho việc giáo dục đạo giáo
rất là quan trọng hơn bao giờ hết. Những lo lắng và bất
an do những điều không chắc chắn về tương lai có thể là
nguyên nhân gây ra những chứng bệnh căng thẳng trong tâm trí
của con người. Những chứng bệnh này có thể được khắc
phục bằng một sự hiểu biết đúng đắn về bản chất
của tâm-một đề tài vượt xa nhừng hệ thống các trường
trung học và đại học trong xã hội ngày nay. Tôn giáo luôn
là chìa khóa để duy trì sự an lạc của tâm và mang lại
sự khuây khoả về mặt tinh thần trong những lúc khẩn cấp
như trong lúc gặp thiên tai hay là những lúc bị ngự trị
bởi những giặc ngoại xâm và những sự quấy nhiễu khác.
Nhân loại
cần đến tôn giáo như là những con tàu đang cần những bến
tàu kiên cố để cập vào. Tâm con người luôn luôn khuấy
động như con vượn chuyền cây, như con ngựa đang nhảy. Và
vì vậy, Tâm này cần phải có những trợ giúp để giữ cho
nó được kiên định và vững chắc nhằm giải quyết những
vấn đề trong khi đi tìm những ý tưởng cho mình trong cuộc
sống. Với sự chấp nhận một số giáo lý nhất định nào
đó, người ta có thể trói buộc tâm của họ vào đó. Như
một con tàu khi được neo vào một bến cảng cố định nào
đó thì có có thể vượt qua những cơn gió mạnh, bão táp,
những sự rối loạn về mặt tinh thần trong cuộc đời.
Vì vậy,
giáo dục đạo học phục vụ như một công cụ nhằm làm
thăng bằng tâm, phát sự sự thăng bằng đó và tránh xa các
cực đoan. Nó dẫn dắt con người đi đên sự hiểu biết
về chân bản chất của sự sống chết và vũ trụ. Rất cần
thiết để cung cấp cho con người sự hiểu biết sâu sắc
hơn về cuộc đời, về mặt nội dung đạo đức luân lý,
và giúp con người tẩy xoá đi những sự cuồng tín và những
quan điểm, mở đường cho sự hoà hợp trong tôn giáo.
Ai Là Người
Theo Ðạo?
Một người
tín ngưỡng tôn giáo có thể được nhận diện bằng tính
cách đạo đức, tư tưỏng, lời nói và hành động của người
ấy. Một con người có tư tưởng thanh tịnh, lời nói thanh
tịnh và những hành động thiện là một con người có tín
ngưỡng tôn giáo hoàn hảo, theo quan điểm của Phật giáo.
Rất khó khăn trong việc xem xét liệu người đó có theo đạo
hay không, nếu anh ta chỉ là người thường đi đến những
nơi trang nghiêm và cầu nguyện cho chính bản thân, gia đình
của anh ta mà không quan tâm đến tha nhân. Những hành động
của anh ta xuất phát từ động cơ ích kỷ và tâm hẹp hòi.
Mặt khác,
có thể có những người không bao giờ tham dự vào những
lễ hội tôn giáo, hoặc là cầu nguyện ở các đền thờ,
tuy nhiên, họ vẫn có thể thực hành một số nguyên tắc
tôn giáo bằng cách sống một cuộc sống an lạc và cố gắng
khắc phục một số nhược điểm của họ và có sự cảm
thông, khoan dung và hiểu biết đối với những người khác.
Những người như thế được xem như mẫu người hoàn hảo
hơn mẫu người đầu tiên.
Một ý tưởng
duy nhất đối với những người theo đạo là “sống một
cuộc sống đơn giản và khiêm cung. Thông qua đó, họ có thể
được giải thoát khỏi những vướng víu vào những mục
tiêu vật chất và nhờ vậy họ có thể tận tâm với việc
tu tập vì lợi ích của bản thân và tha nhân.
Giá Trị
Của Tôn Giáo
Chỉ quan
sát những cách thực hành, những hình thức lễ nghi bên ngoài
dựa trên danh nghĩa tôn giáo thì khó mà có thể hiểu được
giá trị của tôn giáo đặc trưng nào đó, đối với một
người dân dã có thể thực hành một số truyền thống vô
nghĩa nào đó, song nghĩ đó là chánh đạo. Ðể hiểu được
chân giá trị của tôn giáo, chúng ta cần phải nghiên cứu
giáo lý nguyên thuỷ của vị thầy sáng lập tôn giáo đó
bằng cách truy tìm về những nguồn tư liệu gốc càng cổ
xưa càng tốt. Chân giá trị của tôn giáo có thể được
hiểu trong triển vọng đúng đắn, từ những lời dạy hợp
lý và hài hoà có thể mang lại cho chúng ta những lời chỉ
dẫn thực tế, liên quan đến việc tự tu sửa bản thân để
giúp chúng ta sống theo một lối sống giản dị, khiêm cung
và hợp với đạo lý-với sự an lạc và biết đủ ngay chính
trong hiện tại.
Sự bày tỏ
những sức mạnh, năng lực huyền bí và kỳ diệu, những
hứa hẹn được sinh lên thiên đường sau khi chết, những
sự thực hành mang tính mê tín dị đoan chỉ là những sự
mê hoặc của các tôn giáo, kích thích tâm của đại đa số
với những sự rùng mình, sự thích thú về mặt tình cảm
và những niềm tin mù quáng. Họ không thanh tịnh hoá những
cấu uế của tâm thức, đặc biệt mở đường cho những
sự điên rồ mãnh liệt hơn về quyền lực, danh vọng và
nhục dục thế gian.
Swami Vivekananda,
trong bài diễn thuyết của mình đã nói: “Chỉ có kinh nghiệm
là nguồn tri thức duy nhất, những phương pháp tương tự
trong việc nghiên cứu mà chúng ta áp dụng trong các lĩnh vực
khoa học và những tri thức bên ngoài các lĩnh vực khac, nên
được đem vào ứng dụng trong lĩnh vực tôn giáo. Nếu tôn
giáo bị huỷ diệt do những khám phá, nghiên cứu như thế,
thì điều đó có nghĩa là tôn giáo vô nghĩa, đó chỉ là
vô dụng và không có giá trị. Loại tôn giáo này càng biến
mất sớm càng tốt. Tại sao các tôn giáo lại cho rằng họ
không bị trói buộc để tồn tại do những quan điểm suy
diễn, có lẽ không ai biết được điều đó. Nhưng tốt hơn,
con người nên trở nên vô thần bằng cách tôn thờ chủ nghĩa
lý trí hơn là tin mù quáng vào hai trăm triệu thượng đế,
vì quyền lực của bất kỳ ai đó.
Trong khi tránh
xa hai cực đoan-niềm tin mù quáng và thái độ cực đoan của
tầng lớp trí thức-sự tham vọng tôn giáo nên tìm kiếm chân
lý bằng lý trí và trí tuệ hơn là niềm tin mù quáng.
Phương
Pháp Hợp Lý Ðể Giới Thiệu Một Tôn Giáo
Thời đại
của chủ nghĩa huyền hoặc và thần bí đang nhanh chóng nhường
bước cho tri thức khoa học và sự phát minh khám phá.
Mặc dầu
những phương pháp nguyên thuỷ của sự tưởng tượng như
vậy đã phục vụ như là mục đích để loại bỏ đi một
số sự sợ hãi và bất an về một thế lực vô hình nào
đó từ trong tâm của những con người thời nguyên thuỷ thô
sơ, song những phương pháp tương tự như vậy không thể áp
dụng đối với trường hợp tâm thức con người trong thời
hiện đại tân tiến.
Liên quan
đến nhu cầu cho một quan điểm hợp lý hơn, cựu Thủ tướng
Ấn độ sau này- Shri Jawarharlal Nehru-đã phát biểu rằng chúng
ta nên cố gắng tránh ba vấn đề chính khi giới thiệu một
tôn giáo. Những vấn đề ấy là: những tạng thánh điển,
ý tưởng về Thượng đế và thế giới bên kia hay là kiếp
sau. Ngài chỉ ra rằng nếu chúng ta cố gắng giới thiệu tôn
giáo bằng cách sử dụng một trong ba vấn đề cơ bản trên
thì lúc đó con người sẽ có khuynh hướng nương tựa vào
yếu tố đó-chấp nhận tôn giáo đó mà không vận dụng khả
năng lý trí của mình. Tốt hơn hãy khuyên con người tìm kiếm
chân lý thông qua tri thức và kinh nghiệm của mình với một
cái tâm hoàn toàn tự do. Ðây thực sự là một phương pháp
lý tưởng để giới thiệu một tôn giáo bởi vì phương pháp
này tránh được những loại thành kiến về tôn giáo, niềm
tin mù quáng và sự hiểu biết sai lầm.
Nehru cũng
đề cập rằng chúng ta không nên chấp nhận bất cứ điều
gì được ghi chép trong các Thánh điển với danh nghĩa là
tôn giáo. Ngài cho rằng nguyên lý chính yếu của tôn giáo
của ngài là “thiện sinh thiện, ác sinh ác”. Trong tác phẩm
“The Discovery of India”, khi đề cao giá trị của phương pháp
tiếp cận hợp lý của Phật giáo, Nehru viết: “Ðức Phật
có can đảm chỉ ra những sự bất mãn, không hài lòng về
các tôn giáo bình dân, mê tín dị đoan, hình thức lễ nghi
và đề cao vai trò cúng tế. Ngài cũng không quan tâm đến
những quan điểm siêu hình học và thần học, phép thần thông
biến hoá, những xự mặc khải và liên quan đến những hiện
tượng siêu nhiên. Sự mời gọi của Ngài là hãy dùng lý
trí, luận lý và kinh nghiệm; Ngài nhấn mạnh về mặt luân
lý đạo đức và đưa ra một trong những phương pháp phân
tích-phương pháp phân tích tâm lý vô ngã. Toàn bộ phương
pháp giới thiệu tôn giáo của Ngài giống như việc hít một
hơi thở của một ngọn gió trong lành từ một ngọn núi sau
những luồng khí suy đoán siêu hình học”.
Nehru còn
nói tiếp rằng đức Phật đã dạy những điều vĩ đại
hơn tất cả các học thuyết và giáo điều và thông điệp
vĩnh cửu của Ngài đã làm cho nhân loại xúc động qua các
thời đại. Có lẽ trong lịch sử quá khứ không có lúc nào
mà thông điệp của Ngài về lòng từ bi và hoà bình lại
cần thiết hơn để giải quyết nỗi khổ đau và sự
phiền nhiễu của nhân loại như thời đại ngày nay.
Albert Einstein
khi nói về tôn giáo của tương lai, phát biểu rằng:
“Nếu
có một tôn giáo nào đương đầu được với những nhu cầu
của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo
không cần xét lại những quan điểm của mình để cập nhật
hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không
cần từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật
giáo bao gồm cả khoa học và đi trước khoa học.
Và ông tiếp:
“Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ.
Tôn giáo ấy vượt xa một Thượng đế cá nhân, tránh xa những
giáo điều và thần học, bao gồm cả thiên nhiên, vật lý
và tâm linh. Tôn giáo ấy phải được căn cứ vào một ý
niệm tôn giáo vươn lên từ kinh nghiệm của mọi điều, kinh
nghiệm về thiên tự nhiên, vật lý và tâm linh và như là
một nhất thể tràn đầy ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng tất
cả những vấn đề trên”.
Phương
pháp được đức Phật sử dụng là một phương pháp độc
nhất vô nhị trong biên niên của lịch sử các tôn giáo. Ngài
khuyên chư vị đệ tử Ngài không nên chấp nhận Pháp chỉ
vì lý do tôn trọng và kính ngưỡng mà chỉ chấp nhận sau
khi đã khảo sát kỹ lưỡng.
Ðức Phật
khuyên những người đã có nhân duyên đến với Ngài đừng
quá vội vàng chấp nhận giáo lý của Ngài và Ngài yêu cầu
họ hãy suy nghĩ cẩn thận liệu giáo lý của Ngài có thực
sự hấp dẫn và thiết thực đối với họ không.
Nếu họ
hoàn toàn tin tưởng vào phương pháp của Ngài, thì chỉ sau
đó Ngài mới chấp nhận họ làm đệ tử của Ngài. Thậm
chí sau khi trở thành đệ tử của Ngài, Ngài không ngăn cản
họ hỗ trợ Bậc đạo sư của họ trước kia. Ðiều này
cho thấy rõ ràng mức độ tự do tư tưởng mà Ngài đã cho
phép chư vị đệ tử Ngài, mà không có một sự ghanh tỵ,
hiềm giận nào. Nó cũng chứng minh thái độ hài hoã, hoà
nhã với các tôn giáo khác.
T.H. Huxley
đã nhận xét về Phật giáo: “Một hệ thống không thừa
nhận sự hiện hữu của Thượng đế theo nghĩa các tôn giáo
phương Tây; từ chối sự hiện hữu của linh hồn con người;
một hệ thống coi việc tin vào sự bất tử là một sai lầm,
ngôc nghếch; không chấp nhận tính hiệu quả của việc cầu
nguyện và dâng hiến súc vật để cúng tế thần linh; Phật
giáo là một hệ thống buộc con người tìm kiếm sự giải
thoát cho chính mình bằng nỗ lực của cá nhân; một hệ thống
mà sự thanh tịnh khởi nguyên cuả nó không biết gì về những
sự thệ nguyện phải phục tùng và không bao giờ tìm kiếm
sự trọ giúp của một cánh tau thế tục. Phật giáo đã lan
truyền nhanh chóng khắp mọi nơi từ thời Trung cổ và đang
tiếp tục lan toả ở những nơi chưa có sự hiện hữu của
Phật giáo; Phật giáo là một hệ thống cho dù những sự
trộn lẫn của những tục mê tín dị đoan ép buộc, vẫn
là một tín ngưỡng ưu việt của đại đa số phần đông
nhân loại”.
Theo sự quan
sát của nhà khảo cổ học Alexander Cunningham, “Người con
Phật truyền bá tôn giáo của mình bằng tiếng nói thuyết
phục của sứ mệnh, nhưng nhiều tôn giáo khác lạ truyền
bá bằng thanh gươm không một chút từ bi thương tiếc. Sứ
mệnh làm đẫm máu của những người của các tôn giáo khác
được thắp sáng bằng những ngọn lửa khủng khiếp của
những thành phố đang bốc cháy, ngược lại, sự phát triển
một cách hoà bình, an lạc của người Phật tử được thắp
sáng bằng bộ mặt vui vẻ của những bệnh nhân đang nằm
trong các bệnh viện của các Tu viện Phật giáo, bằng những
nụ cười hạnh phúc của khách lữ hành đang nghỉ ngơi tại
các nhà nghỉ bên đường”.
Theo Hoà thượng
J.T.Sunderland, “Trong suốt các thời kỳ lịch sử Phật
giáo, đạo Phật đã dạy sự hoà bình cho giới Phật tử
một cách hữu hiệu, và mạnh mẽ hơn bất kỳ những tôn
giáo lớn khác được thế giới biết đến. Con người của
đạo Phật hướng về đời sống tâm linh nhiều hơn, khác
với con người của thời đại chỉ hướng về vật chất,
và đặt việc xây dựng nhân cách, sự phục vụ, tình thương
và hoà bình lên trên danh vọng, sự giàu có vật chất, quyền
tối cao và chiến tranh. Ðạo Phật đã phát triển một cách
rực rỡ trong các thời kỳ lịch sử bởi vì đạo Phật là
một tôn giáo duy nhất không có bạo lực và đẩm máu”.
Tấm gương
của Hoàng đế A dục
Sự kiện
xứng đáng được ghi nhận là Hoàng đế A dục là một con
người cực kỳ tinh tấn trong sự nghiệp tận tuỵ với niềm
an vui hạnh phúc cho thần dân của mình. Với mục đích này,
nhà vua đã cho đào giếng cung cấp nước uống, trồng cây
che bóng mát, xây dựng đường xá, công viên cây xanh công
cộng và vườn dược thảo dùng để chữa bệnh và nhiều
bệnh viện để chữa trị bệnh cho người cũng như súc vật.
Ðể làm thấm nhuần tinh thần chân chính trong thần dân của
mình những người mà nhà vua trìu mến muốn hoan nghênh như
là những đứa con yêu quý của mình, Người ra lệnh cho khắc
trên những trụ đá được dựng trên khắp lãnh thổ bức
thông điệp cao quý của một cuộc sống chân chánh. Những
đại thần và quan lại trong vương triều được chỉ định
hướng dẫn và giám sát đời sống văn hoá luân lý. Hội
nghị kiết tập kinh điển lần thứ ba cũng được nhà vua
tài trợ. Những phái đoàn truyền giáo mà nhà vua đã phái
đi ở những mảnh đất gần và xa, giúp hình thành những
sự giao lưu văn hoá của những nền văn hoá du nhập xa rộng
trong lĩnh vực quan hệ và hoà bình quốc tế.
Những hành
động của đại đế A dục chứng tỏ rõ ràng rằng nhà vua
là một con người mộ đạo sống một cuộc đời tích cực
hành thiện. “Những nỗ lực nhằm mang lại lợi lạc cho
số đông và thúc giục những sứ giả thực thi nhiệm vụ
sứ mệnh” là một trong số những nguyên lý hành động kim
chỉ nam của nhà vua. Ðược thấm nhuần với ý nghĩa thực
tế đáng kể và tính năng động, đại đế A dục biểu
hiện trong cuộc đời của mình một tinh thần Phật giáo cao
độ, hành động thực sự vì lợi lạc cho số đông, vì hạnh
phúc cho số đông-một lý tưởng mà chính đức Phật đã
dạy cho nhóm 60 vị Thánh đệ tử đầu tiên của Ngài mà
chư vị này là những người tạo ra sứ mệnh truyền giáo
đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Ðược cảm
hứng từ sự vĩ đại của đại đế A dục, sử gia H.G.Well
trong tác phẩm “Ðại cương lịch sử” của mình đã tuyên
bố rằng “Trong số 10 nghìn tên của những vương triều
tập hợp lại thành những trang sử nhân loại, thì vẻ uy
nghi, lòng nhân từ và sự bình thản và những hạnh phúc trong
cuộc sống hoàng gia và những thứ tương tự, tên của A dục
vương chiếu sáng, sáng chói một mình như một vì sao trên
bầu trời”.
Với tất
cả sự gợi cảm từ tấm gương của A dục sẵn có ở nơi
mình, chúng ta nên nỗ lực thoát ra khỏi cái bóng tối đang
bao phủ thế giới ngày nay.
Tôn giáo
và chủ nghĩa vật chất
Hầu hết
những đám mây đen tối, những phiền nhiễu và những vấn
đề toàn cầu có thể được truy nguyên về sự suy sụp của
tôn giáo và sự phát triển của nghĩa vật chất. Lịch
sử nhân loại chỉ ra sự suy tàn của các quốc gia và những
nền văn minh tàn lụi cùng với sự suy vi của tôn giáo. Sử
gia Edward Gibbons trong tác phẩm “The History of the Rise and and
the Fall of the Roman Empire” đã đưa ra lý do giải thích sự
đổ vỡ của tôn giáo thành vô số những hình thức là một
trong những nguyên nhân góp phần cho sự suy giảm và xuống
cấp của chế độ La Mã, và có thể đó cũng là trường
hợp đối với nền văn minh hiện đại của chúng ta.
Nhận ra những
sự hiểm nguy sắp xảy ra, có lẽ con người của thời nay
cần phải hợp tác với nhau để kiểm soát và tránh những
nguyên nhân có thể làm tăng thêm sự suy giảm và đổ vỡ
của tôn giáo.
Trong khi sự
hài hoà tôn giáo thông qua những sự cạnh tranh không lành
mạnh để được thu hút tín đồ, sự cuồng tín và “những
cuộc thánh chiến” vẫn tiếp tục làm hại đến những triển
vọng hoà bình của tôn giáo, giáo điều và tín ngưỡng mê
tín dị đoan huỷ hoại giá trị pháp lý của tôn giáo dưới
ánh sáng không ngừng phát triển của tri thức và khám phá
khoa học. Những điều này luôn khiến cho sự phát triển của
chủ nghĩa vật chất ngày càng lên cao-mang lại sự huỷ hoại
những giá trị luân lý đạo đức ngày càng tăng trong xã
hội loài người.
Sự Tiến
Bộ Vật Chất
Sự theo đuổi
điên rồ về những thú vui thế tục, quyền lực và tài sản
đã đưa đến tất cả những hình thức suy giảm về mặt
luân lý đạo đức, sự phân biệt và thành kiến, thậm chí
đến mức độ để biện hộ cho sự huỷ diệt toàn bộ nhân
loại. Một trong số những cái mệnh danh là thú vui giải trí
hiện đại đã trình diễn một cách quá đáng đến mức mà
chúng khơi gợi những bản năng thú tính và những tình cảm,
ham muốn nhục dục của người xem. Dưới sự ảnh hưởng
của những sự say sưa như thế, người xem thường mất đi
sự kiểm soát các giác quan của mình và làm những điều
ngược lại những ý kiến tốt hơn của mình bằng cách vi
phạm niềm an lạc và hạnh phúc của những con người vô
tội nhằm phục vụ cho mục đích thoả mãn những đam mê
nhục dục của họ. Họ mất đi cách suy nghĩ thông thường
của mình và từ chối lắng nghe những người khác cho dù
họ nhận ra rằng họ đang huỷ hoại cuộc sống của họ
cũng như của những người khác.
Sự khát
ái quá đáng của con người cho những sự đam mê một cách
quá mức về dục lạc đã tạo ra một xã hội bệnh tật
và không có phương hướng đưa đến những hành động phi
luân lý, phi đạo đức và tội ác. Ðây là một nhục nhã
và hổ thẹn của những cảm xúc con người và ý nghĩa cao
cả của họ.
Sự say mê
đối với quyền lực thế gian đã đưa các quốc gia đi đến
chỗ tranh chấp và xung đột vũ trang. Sự phát minh những thứ
vũ khí làm chết người có thể huỷ diệt toàn bộ thế giới
trong một sát na ngắn ngủi đã được thực hiện và đã
phải trả giá bằng nạn đói kém và nghèo khổ lan tràn khắp
toàn cầu. Chiến tranh đã được xem như là khuynh hướng thời
đại không thể tránh khỏi và là một lối sống cho dù phải
trả giá bằng hàng triệu mạng người vô tội phải bỏ mạng
nơi đấu trường.
Những công
trình nghiên cứu có tính chất xây dựng và những kế hoạch
đã được vạch sắn nhằm mục đích nâng cao vai trò và giá
trị nhân loại cũng được xem như quan trọng thứ yếu hoặc
là bị thải bỏ hoàn toàn.
Trí tuệ
được truyền trao bởi các vị đạo sư giác ngộ đã trở
nên bị lờ đi hoặc không để ý đến. Lời khuyên của các
Ngài làm thế nào để sống một cuộc sống an lạc và duy
trì một xã hội có luân lý đạo đức có thể phù hợp với
đại đa số, đã bị lãng quên.
Sự Thờ
Ơ Của Nero Trong Khi Thành Roma Ðang Bốc Cháy
Những quốc
gia mà sự phát triển về mặt kinh tế đã đạt đến điểm
bão hoà trên danh nghĩa tiến bộ vật chất đang phải đương
đầu với vô số những vấn đề như sự ô nhiễm môi sinh,
khủng hoảng năng lượng, tệ nạn thất nghiệp, sự suy giảm
về giá trị luân lý đạo đức và tất cả những vấn đề
xã hội như tệ nạn ma tuý, sự rối loạn trầm trọng về
mặt tinh thần, nạn ly hôn, tự tử và vô số hình thức bệnh
tật khác.
Cho dù tất
cả những hiện tượng bi thảm và không lành mạnh này, vẫn
còn có nhiều quốc gia được gọi là phát triển trên thế
giới đang cố gắng hết sức mình để thi đua phát triển
về mặt kinh tế bằng vô số hình thức-ngày càng bắt chước
các nền văn hoá vật chất nhằm hy vọng cải thiện quê nhà
và quốc gia mình thành những cõi thiên đường vật chất.
Giống như trường hợp thờ ơ của Nero khi thành Roma đang
bốc cháy. Những người như thế đã không học được từ
những lỗi lầm mà người khác đã mắc phải.
Con người
càng dấn thân vào những cuộc đấu tranh quyết liệt để
giữ vị trí của mình trong công việc hoặc trong cuộc sống,
hoặc vì nhu cầu những thú vui dục lạc, quyền lực, danh
vọng, và sự huy hoàng, vinh quang thì họ càng gặp phải sự
rối trí và lộn xộn, họ sẽ đóng góp ngày càng nhiều cho
sự mâu thuẫn đối với những gì mà thế giới đang hiện
có.
Một mặt,
người ta sợ chiến tranh, mặt khác, tất cả họ đều sẵn
sàng chuẩn bị cho chiến tranh! Họ nói rất nhiều về ao ước
để đạt được một nền hoà bình thật sự, song họ vẫn
tiếp tục gieo rắc sự khổ đau! Mặc dù thế giới mỗi ngày
mỗi trở nên đông đúc chật hẹp, nhưng con người càng cảm
thấy cô đơn, lẻ loi! Họ càng có nhiều thời gian nhàn rỗi
thì họ càng trở nên không yên. Mặc dù con người được
trang bị với tất cả các loại tri thức để đạt được
sự an toàn khi đến mặt trăng, song họ vẫn chưa biết sống
như thế nào để có được sự an toàn trên thế giới này.
Như thế là những sự hỗn loạn và mâu thuẫn của con người
hiện đại đang hiện hữu trong thời đại không gian này.
Song những vấn đề này thì không hoàn toàn mới lạ so với
nhân loại.
Sự hỗn
loạn phát sinh cho đến khi những lậu hoặc, cấu uế của
vô minh vẫn còn hiện hữu trong tâm thức của con người thời
đại. Cùng với những sự cấu uế trong mặt tâm linh khác,
sự vô minh của con người làm cho anh ta không có khả năng
thấy và hiểu thấu đáo bản chất chân thật của sự vật
hoặc là nhận ra những chân lý tối hậu của cuộc đời.
Căn Bằng
Sự Sống
Sự mất
cân bằng giữa sự phát triển vật chất và tâm linh là nguyên
nhân của sự hỗn loạn thô lỗ và những tình trạng lề
mề mà con người thời đại phải đối đầu. Chỉ có sự
giàu có vật chất thì không thể mang lại sự an lạc và hạnh
phúc cho con người. Khổ đau và thất vọng luôn tỉnh thức
trong tâm của con người mất đi sự thăng bằng. Vì không
thể tìm ra những phương pháp và phương tiện thoả mãn để
đáp lại những đau khổ, thất vọng của cuộc đời, cho
nên con người phải sử dụng đến tất cả những loại chất
ma tuý và chất men như là những biện pháp làm giảm hiện
trạng đương thời, khi thất bại đối với chúng thì họ
trở nên tự vẫn hoặc là lâm vào tình trạng bất ổn về
mặt tinh thần. Những trường hợp ngày càng tăng của sự
nghiện ngập, say sưa, cờ bạc, rượu chè và nhiều thứ khác
là những triệu chứng của cuộc sống mất đi sự thăng bằng.
Khuynh hướng tự xoa dịu, ru ngủ bằng những sự thoải mái
về cuộc sống hiện đại mà không hề đếm xỉa gì đến
sự tiến bộ về mặt tâm linh đã khiến cho con người rơi
vào trạng thái hôn mê và biếng nhác không hoạt động. Ðể
vượt qua trạng thái này, con người cần phải có nghị lực,
sức mạnh, khả năng và sự kiên trì bền chí liên quan đến
thế giới của niềm tin-được ăn sâu tuyệt đối ở nơi
tôn giáo.
Sự hoà
bình an lạc thông qua tôn giáo
Sự phát
triển như vũ bão của chủ nghĩa vật chất và sự mất thăng
bằng trong cuộc sống đã che khuất những tiềm năng mang lại
hào bình an lạc của tôn giáo. Các tôn giáo thế giới hiện
nay đã phát triển thành những thể chế có tổ chức đồ
sộ, và giáo lý nguyên thuỷ của các bậc đạo sư sáng lập
khả kính hầu như khó mà làm ảnh hưởng đến tín đồ của
họ những phẩm chất giản dị, dè dặt, chân thật và vô
ngã vị tha.
Ðể nhận
ra chân giá trị của tôn giáo, một sự hiểu biết chính xác,
đúng đắn về bức thông điệp nguyên thuỷ của những bậc
đạo sư sáng lập tôn giáo rất là cần thiết. Những giá
trị giản đơn về mặt luân lý đạo đức có một khả năng
vĩ đại nhất trong việc mang lại sự hoà bình cho nhân loại.
Việc tu tập,
kiềm chế những suy nghĩ, tư duy nhằm mang lại sự an lạc
và hài hoà cha cá nhân và sự kiềm chế những hành động
của miệng và thân nhằm mang lại hạnh phúc cho tha nhân. Chính
thông qua ba nghiệp thân, khẩu và ý này mà tất cả những
hành động tội lỗi xấu xa, bất thiện được tạo tác.
Ba nghiệp này là “những cánh cửa” của thế giới bên
trong-nơi mà tất cả những cuộc xung đột phát sinh. Nếu
thế giới nội tâm này được canh giữ một cách khéo léo,
cẩn thận bằng hạnh tinh tấn không phóng dật thì những
cuộc xung đột tự nhiên sẽ được kiểm soát một cách chặt
chẽ.
Thái độ
“Hãy tự biết mình” của tôn giáo là nguyên tắc chỉ đạo
để đạt được sự hoà bình, an lạc bởi vì “Vương quốc
của Thiên đàng nằm bên trong của mỗi cá nhân”. Nếu con
người có thể tuân theo những nguyên tắc đích thực của
tôn giáo liên quan đến sự kiềm chế về mặt luân lý đạo
đức và thực thi những trách nhiệm và bổn phận cho nhau
trong xã hội, thì sự an lạc và hài hoà tự nhiên sẽ xuất
hiện.
Lời khuyên
đơn giản mà đức Phật đã khuyên chư đệ tử Ngài trong
bài pháp thuyết cho chàng thanh niên tên là Thiện Sanh (Sigalovada
Sutta) liệt kê những trách nhiệm và bổn phận trong mối quan
hệ giữa cha me-con cái; thầy-trò; chồng-vợ; bạn bè-láng
giềng; chủ-thợ; sa môn, Bà-la-môn- đệ tử tại gia; bao hàm
toàn bộ trách nhiệm đối với gia đình vã xã hội của người
tại gia. Khi chú giải về kinh này, Tiến sĩ Rhys Davids nhận
xét: “Chính ở trong bài kinh này mà học thuyết của đức
Phật về tình thương và thiện chsi giữa con người với con
người được giới thiệu ở phương diện luân lý đạo đức
gia đình và xã hội một cách chi tiết dễ hiểu hơn ở nơi
nào khác. Và thậm chí cho đến ngày nay, chúng ta có thể nói
rằng nền tảng giới luật của Phật giáo làm cơ sở nền
tảng cho những vấn đề liên quan đến nhân loại. Hạnh phúc
thay những ngôi làng hay bộ tộc trên dãy sông Hằng nơi mà
con người sống với một tinh thần đầy sự cảm thông, một
tinh thần thánh thiện về sự bình đẳng. Và bất hạnh hơn
cho những ngôi làng hoặc những gia đình trú trên bờ sông
Thames hiện nay”.
Thay vì phát
triển tôn giáo thành mô hình của một triết lý sống, tôn
giáo đã được phát triển thành một biệt ngữ triết học
và trở thành một đề tài cho các nhà trí thức nghiên cứu
và tranh luận. Việc thực hành mê tín dị đoan, thần thông
và thuyết huyền nhiệm đã được giới thiệu nhằm mục
đích khoe khoang sự vinh quang huy hoàng và thành đạt của tôn
giáo mình so với tôn giáo khác. Tôn giáo đang được sử dụng
để làm thoả mãn những yếu điểm của con người, cho lòng
tham về vàng bạc và quyền uy. Bằng cách mời mọc những
sự việc mang bản chất thế gian như thế tham gia vào trong
lĩnh vực tôn giáo nhằm mục đích tiếp tục thực hiện một
“ý đồ” mang danh nghĩa tôn giáo, những nhà lãnh đạo tôn
giáo này phải hiểu rằng những điều này sẽ chỉ ngăn che
hoặc tẩy sạch cái tinh hoa của tôn giáo và lối sống tâm
linh, và những giá trị đích thực của tôn giáo sẽ càng
trở nên mù mịt cho những thế hệ mai sau.
Trong Cái
Rủi Vẫn Có Cái May
Liệu tôn
giáo có thể mang lại sự an lạc và hạnh phúc cho nhân loại
ngày nay hay không thực sự là một vấn đề thích đáng, đặc
biệt dưới sự soi sáng của những phát triển gần đây ở
một số nới trên thế giới mà ở đó tôn giáo được biến
thành một chiến trận. Chủ nghĩa vật chất, đạo đức giả
và sự cuồng tín giả dạng dưới chiêu bài tôn giáo là một
thảm hoạ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Ðể lập
lại những lỗi lầm và chiến thuật trong quá khứ ở một
thời điểm khi mà những hội nghị lớn trên thế giới về
tôn giáo và hoà bình đang được tổ chức và những lời
tuyên ngôn cho nền hoà bình chung, tình huynh đệ, và sự hài
hoà tôn giáo, sẽ là một việc mang bản chất đạo đức
giả và sự ô nhục đối với xã hội loài người. Ðể hỗ
trợ cho những hành động vô đạo đức như thế mang danh
nghĩa tôn giáo là một sự chống lại, vi phạm khuôn phép
lịch sự và chân giá trị của con người. Việc tranh đấu
trên chiến trường vì sự hoà bình cho nhân loại là việc
làm không đúng bởi vì hoà bình là khả năng chinh phục chính
mình mà không gây ra sự thất bại cho người khác. Nó được
hoàn toàn công nhận như là một điểm then chốt theo tinh thần
vô ngã vị tha. Mặc dù một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã
chọn cho mình con đường đi bằng cách chính họ tham gia vào
những cuộc chiến tranh tôn giáo vì lòng tham danh lợi và quyền
uy thế tục, điều này không tượng trưng cho những cảnh
giới của tôn giáo. Do vậy, điều đó được dành cho những
con người có đầu óc suy nghĩ và những người yêu chuộng
hoà bình trong thời đại ngày nay phán đoán liệu những thái
độ của những người buôn bán chiến tranh như thế là hợp
lý theo tinh thần của tôn giáo hay không? Nếu nhân loại thực
sự quan tâm đến việc tìm kiếm và hành động vì sự hoà
bình và an lạc, hạnh phúc cho chính mình và cho những người
khác thì vẫn còn thời gian đủ cho họ để làm những gì
có thể bởi vì trong cái rủi vẫn có cái may. Những nguyên
lý tôn giáo và giáo lý của tôn giáo đó xứng đáng cho sự
tu tập của con người và có khả năng chứng nghiệm và giác
ngộ bởi chính bản thân nên được duy trì và phát triển.
“Tất
cả những cánh cửa giải thoát
được
mở ra hoàn toàn”.
“Dẫu
tại bãi chiến trường,
Thắng
ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng
mình tốt hơn,
Thật
chiến thắng tối thượng”.
(Pháp cú
103)
WP: Thanh
Tâm
