ÐỊA
VỊ CỦA NỮ GIỚI TRONG
ÐẠO
PHẬT
Thái độ
xã hội đối với phụ nữ được đánh dấu bởi
những thành kiến cũng như sự thiên vị trong Tôn giáo. Vì
vậy, sự phân biệt đối với nữ giới rõ ràng được
đặc trưng chung của xã hội. Những thành kiến và vật cản
mà nữ giới phải đối phó cũng tương tự như những trường
hợp ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ hoặc châu AÂu. Ðó là tình
trạng lập dị mà nữ giới phải chịu thiệt thòi và
có cơ sở trong sự thiên vị mang tính chất Tôn giáo. Chính
bắt nguồn từ tôn giáo mà quan niệm về sự lập dị đối
với phụ nữ được hình thành. Ở đây người phụ nữ được
miêu tả như là một người khêu gợi rất hấp dẫn, quyến
rũ và cũng luôn luôn bị cảnh báo trong hầu hết các Tôn
giáo trên thế giới.
Một vài
sự thiên vị về mặt xã hội được dựa trên một số niềm
tin phổ biến. Theo một số huyền thoại Tôn giáo, người
đàn ông được giới thiệu như là con của Thượng đế.
Một điều rất xa lạ là người phụ nữ chưa bao giờ được
đặt vào một địa vị tương tự như nam giới: là con của
Thượng đế. Ða số những người tin vào thuyết linh hồn
cho rằng linh hồn chỉ hiện hữu ở nam giới chứ không
hiện hữu ở nữ giới. Nữ giới thường được cho là những
người có phẩm chất tồi nhất. Họ được xem như là nguồn
gốc của tội lỗi trên thế gian này, thậm chí đến mức
họ bị chỉ trích cho những sự bất hạnh mà nam
giới phải gánh chịu trong kiếp này và kiếp lai sinh.
Xét về nguồn
gốc lịch sử xã hộïi Ấn Ðộ thời tiền Phật giáo, có
một ranh giới giữa nam giới và nữ giới rất rõ rệt.
Ðặc biệt trong địa hạt xã hội và gia đình nữ giới đượïc
xem như là hạ liệt, thấp hèn. Người ta xem phụ nữ như
là một thứ tài sản hay một vật thể nào đó. Ðịa vị
của cô ta chỉ giới hạn trong gia đình và cô ta phải chịu
phục tùng sự ham muốn và nhu cầu cầu dục vọng của người
chồng. Cô ta không phải chỉ hoàn tất công việc nội
trợ mà còn xoay sở để nuôi sống cho cả gia đình. Chẳng
hạn như một số Bà la môn kết hôn và sống với vợ,
nhưng họ xem những món ăn do những bà vợ nấu là bất tịnh
và không hợp khẩu vị của họ. Từ những ví dụ giống
như trên, một huyền thoại được dựng thành. Nữ giới bị
bêu xấu, sỉ nhục như là những kẻ đầy tội lỗi,
và người ta còn cho rằng cách duy nhất để tránh xa mọi
phiền lụy là buộc họ đầu tắt mặt tối như làm nhiệm
vụ một người mẹ và nhiều bổn phận khác trong gia đình.
Có một sự tin tưởng mãnh liệt rằng phải có một đứa
con trai để nối dõi tông đường và thờ cúng ông bà tổ
tiên. Tín ngưỡng truyền thống cho rằng chỉ có con trai mới
có thể thực hiện những hình thức lễ nghi như thế. Và
đó cũng là ý tưởng của đa số quan niệm rằng rất cần
thiết cho việc mang lại sự an ổn và an toàn cho ông bố sau
khi qua đời.
Ngoài ra,
người ta cũng tin rằng người mất có thể trở lại làm
ma quấy phá gia đình nếu trong gia đình không có con trai nối
dõi tông đường. Do đó, khả năng sinh con trai rất cần thiết
và quan trọng đối với một phụ nữ sau khi có chồng. Trái
lại, nếu một người đàn bà không sinh được con trai, thì
người chồng có thể cưới vợ khác và ngay cả việc trục
xuất bà ra khỏi nhà. Xem xét từ góc độ về tầm quan trọng
trong việc sinh con trai quý hơn đối với một phụ nữ có
gia đình, chúng ta biết rằng cộc sống của họ rất bấp
bênh, bèo dạt mây trôi, phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng
liệu bà ta có thể sinh được con trai hay không. Nhưng điều
này không có nghĩa là cuộc đời của những thiếu phụ chưa
lập gia đình thì chắc chắn hơn những người chị của ho.
Do đó, hôn
nhân được xem là một thánh lễ (lễ này thường được
áp dụng trong tất cả các hoạt động lễ nghi của Giáo hội
Cơ đốc La Mã, Anh giáo và các phái Cơ đốc giáo khác). Vì
vậy, một thiếu phụ trẻ chưa lập gia đình bị xã hội
khinh miệt và luôn là đối tượng để người ta chỉ trích.
Xét về phương
diện tâm linh, trong lĩnh vực thực hành lễ nghi tôn giáo,
địa vị nữ giới đáng lẽ được chấp nhận thì cũng bị
từ chối. Vì lý do đó người ta tin rằng người nữ không
đủ khả năng đạt đến thiên đường nhờ vào những phước
đức của bản thân. Hơn thế nữa, cô ta cũng không thể thờ
cúng một mình được. Người ta cũng tin rằng cô ta chỉ có
thể lên thiên đàng thông qua việc vâng lời chồng mà không
có những đòi hỏi thắc mắc khác, cho dù người chồng vô
tình làm những điều tội lỗi xấu xa. Và người ta cũng
chấp nhận rằng thức ăn do người chồng ăn thừa lại
là nguồn thức ăn cho cô ta.
Những minh
họa trên đây cho thấy được mức độ của sự bất công
bằng giữa nữ giới và nam giới.
Lời Tuyên
Bố Của Ðức Phật
Bằng cách
đi ngược lại những hình thức hẹp hòi cố chấp như thế
can trở sự phát triển tâm linh, Phật giáo có thể được
xem là một Tôn giáo không có sự phân biệt nữ giới. Rõ
ràng là Ðức Phật là một vị giáo chủ, một bậc thầy
tâm linh vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại trong việc
tạo cơ hội bình đẳng và không ràng buộc cho phụ nữ trong
lĩnh vực tu tập tâm linh. Mặc dầu, trong một vài trường
hợp, Ngài chỉ ra khuynh hường tự nhiên và những yếu điểm
của nữ giới một cách chung chung, Ngài cũng đặt cho họ
đúng vị trí và tùy theo khả năng của từng người. Ngài
thực sự là vị đạo sư mở đường cho nữ giới xuất gia
và thành lập giáo hội Tỳ-kheo ni. Ðiều này ám chỉ
rằng nữ giới cũng có thể tu tập và thanh tịnh hóa tâm,
chứng đắc tâm hạnh phúc, Niết-bàn, (Nibbana) như nam giới.
Sự kiện này được minh chứng đầy đủ, rõ ràng bằng những
bằng chứng về sự hiện diện của Giáo hội Ni giới trong
thời kỳ Ðức Phật. Những lời dạy của Ðức Phật đóng
một vai trò hết sức quan trọng trong việc xóa bỏ vô số
niềm mê tín dị đoan và những hình thức lễ nghi vô nghĩa
không mang lại sự an lạc, giải thoát cho con người. Bao giờ
việc giết xúc vật cúng tế thần linh để được ban phước,
theo quan điểm của đại đa số. Khi Ðức Phật biểu lộ
về chân bản chất của sự sinh tử, và giải thích những
hiện tượng tự nhiên ngự trị vũ trụ của chúng ta, thì
lúc đó dân chúng mới bắt đầu thấu hiểu. Kết quả của
việc này là Ðức Phật đã xóa bỏ sự phân biệt giai cấp
những sự bất công trong xã hội, và những cố chấp thành
kiến đang thịnh hành trước đó. Vì vậy khiến cho nữ giới
có thể tự do theo đuổi cuộc sống của mình. Mặc dù Ðức
Phật đã đề cao địa vị của nữ giới trong xã hội. Ngài
cũng chỉ ra rằng sự khác biệt về mặt xã hội và tâm lý
tồn tại giữa nam giới và nữ giớ. Ðiều này được chỉ
rõ trong tư cách rất thiết thực, trong sự quan sát của
ngài, cho con người từ mọi triều đại, được tìm thấy
trong việc quan sát rõ rằng, rất thực tế, rất đời
thường. Những ví dụ này được ghi nhận rất rõ trong kinh
Anguttara và Samyutta. Bài kinh này cũng đề cập rằng trách
nhiệm của nam giới được yêu cầu không ngừng trong lĩnh
vực học thức. Anh ta nên cải thiện và cân bằng những kỹ
năng thủ công và chuyên môn và luôn tận tụy với công việc.
Anh ta cũng phải có thể tìm kiếm những phương kế sanh nhai
cho bản thân và gia đình. Mặt khác, người ta cũng phát biểu
rằng trông nom nhà cửa quán xuyến công việc nội trợ và
chăm sóc chồng con là bổn phận của nữ giới.
Tương Ưng
là bộ kinh bao gồm nhiều lời kinh có giá trị mà Ðức Phật
đã dạy cho những thiếu phụ trước khi lập gia đình. Thấy
trước những khó khăn sẽ phát sinh sau khi lập gia đình. Ðức
Phật khuyên các thiếu nữ nên kính trọng cha mẹ chồng hầu
hạ thương yêu bố mẹ chồng như như là bố mẹ ruột của
mình. Họ cũng được yêu cầu kính trọng và tôn kính bà
con họ hàng bên chồng, và bạn bè của chồng để tạo ra
một không khí dễ chịu và vui vẻ nơi nhà chồng. Liên hệ
đến vợ chồng: Ðức Phật khuyên: “Vợ chồng phải thương
yêu nhau, người vợ vừa là vợ vừa là người yêu, vừa
là người bạn và có khi là chị hay em (hoặïc mẹ). Người
vợ cũng được khuyên để học tập và hiểu bản chất của
người chồng, biết chắc được những hành động của chồng,
tính cách và khí chất của chồng, và nhằm tạo ra sự hợp
tác giữa vợ và chông trong mọi thời gian, mọi hoàn cảnh.
Người vợ cũng nên tử tế, nhã nhặn và chu đáo với họ
hàng, láng giềng cũng như người nô tỳ. Và người vợ phải
quán xuyến của cải do chồng kiếm được và chi tiêu vừa
phải, hợp lý không phí của cải trong những trường hợp
vô ích.
Thật lạ
lùng thay, cách đây hơn hai ngàn năm mà Thế tôn quan niệm
về vợ chồng của tuổi trẻ rất là đặc biệt. Những lời
khuyên của Ðức Phật như thế thực sự là nhưng lời khuyên
vượt thời gian. Ðức Phật đề cao sự ràng sự an lạc và
hài hòa trong một gia đình thuộc phạm vi của người vợ.
Vì vậy, lời khuyên của ngài đối với nữ giới trong vai
trò cuộc sống gia đình rất thiết thực và thực dụng. Ngài
đưa ra một loạt những phẩm chất mà người vợ phải hoặc
không nên thi đua. Vào những dịp khác, Ðức Phật khuyên một
người vợ rằng:
- Không nên
nảy sinh những ác ý chống đối lại người chồng;
- Không nên
thô lỗ, hà khắc, độc đoán, hống hách;
- Không nên
tiêu tiền như rác, nhưng phải biết tiết kiệm tùy theo điều
kiện cho phép của cô ta;
- Phải sốt
sắng bảo vệ và dành giụm tài sản kiếm được của người
chồng;
- Phải công,
dung, ngôn, hạnh;
-Phải trung
thành và chung thủy với nhau;
- Nên nhã
nhặn trong lời nói và tử tế lịch sự trong hành động;
-Nên tốt
bụng, cần cù, siêng năng;
- Nên quan
tâm chu đáo và thương yêu chồng và thái độ của người
vợ nên đối xử ngang bằng với thái độ của người mẹ
thương yêu con cái;
- Nên khiêm
tốn và kính trọng;
- Nên ôn
hòa điềm tĩnh và hiểu biết;
- Vừa là
người vợ, người bạn, và người cố vấn cho chồng khi
cần thiết.
Cùng với
thời Ðức Phật cũng có những vị giáo chủ của các tôn
giáo khác nói về trách nhiệm, bổn phận của người vợ
đối với người chồng. Họ nhấn mạnh rằng đó là bổn
phận riêng của người vợ là phải sinh con và đáp lại người
chồng một cách chân thành và tạo ra niềm hạnh phúc cho gia
đình. Quan điểm này cũng tương tự với quan điểm của Khổng
Tử (Tam tòng tứ đức). Tuy nhiên, bổn phận của người vợ
đối với người chồng đề cao trong những quy tắc đạo
đức của đạo Khổng, nhưng nó không đề cao trách nhiệm
của người chồng với người vợ. Những lời dạy của Ðức
Phật không thiên vị, không hướng về phía người chồng.
Trong kinh Thiện Sinh (Trung Bộ Kinh số 31) Ðức Phật giải
thiùch rõ ràng mối tương quan giữa bổn phận và trách nhiệm
của người chồng đối với người vợ và ngược lại.
Về phần
người chồng anh ta phải trung thành nhã nhặn và và không
khinh miệt. Chính trách nhiệm bổn phận của người chồng
thường xuyên săn sóc các nhu cầu, hay sắm quà tặng cho vợ,
và yêu thương vợ. Vì vậy chúng ta chứng kiến được thái
độ không thiên vị của Ðức Phật đối với cả hai giới.
Ðức Phật cũng chỉ ra nhiều cản trở bất lợi và trở
ngại mà người phụ nữ phải chịu đựng. Chẳng hạn, những
sự thử thách, khổ cực và phiền phức mà một người
thiếu phụ phải chịu đau khổ trước khi dời gia đình mình
về nhà chồng và sự đau khổ trong việc thích nghi bản thân
trong một môi trường sống mới đầy rẫy vấn đề và khó
nhọc. Thêm vào những nỗi đau khổ trên là những nỗi đau
khổ về mặt sinh lý mà họ phải chiụ trong suốt thời kỳ
kinh nguyệt, mang thai và sinh con. Tất cả những nỗi đau
khổ trên chỉ là những hiện tượng tự nhiên chỉ biểu
hiện những bất lợi và hoàn cảnh khác nhau đang thịnh hành
giữa nam giới và nữ giới.
Những lời
dạy của Ðức Phật liên quan đến chân bản chất của vấn
đề sinh tử vấn đề nghiệp báo và luân hồi, chuyển hóa
thái độ của xã hội đối với nữ giới trong một thời
kỳ trước đó. Ðây chính là lý do đặc biệt quá chú trọng
đến sinh con trai hơn con gái. Phật giáo không bao giờ đồng
ý với quan điểm Bà la môn giáo rằng nguời con rai rất cần
thiết cho sự đầu thai của người cha lên thiên đàng. Ðức
Phật dạy rằng theo quy luật của nhân quả, con người phải
chịu trách nhiệm cho những hành động của mình và phải
lãnh lấy hậu quả của nó. Những hành động thiện của
người bố hoặc của ông bà không phụ thuộc vào hành động
của con hoặc cháu. Mỗi cá nhân phải chiụ trách nhiệm cho
những hành động của mình. Do đó, không có lý do để những
người nữ có gia đình phải lo lắng băn khoăn chỉ vì không
thể sinh cho gia đình chồng một hoàng nam, chỉ nhằm mục
đích phục vụ nối dõi tông đường. Ðiều này cũng có nghĩa
là con gái có thể hoàn thành tốt trách nhiêm như con trai.
Có thể trong
thời kỳ Ðức Phật, người con gái có thể không lập gia
đình nhưng không bị lăng mạ, sỉ nhục, cô ta có thể
bằng lòng ống với gia đình mình và chăm sóc bố mẹ, em
trai và em gái chu đáo. Thậm chí cô ta là chủ sở hữu của
một tài sản lớn lao.
Ðạo Phật
không đặt nặng vấn đề quan trong sinh con trai hay con gái.
Trong Tương Ưng Bộ kinh-Kinh Kosala–phẩm thứ 2-VI Người
con gái- khi vua Passnadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi
đến đảnh lễ Thế Tôn. Rồi một người đi đến vua Passenadi
nước Kosala và báo tin kề bên tai vua Pasenadi: “Thưa Ðại
vương, hoàng hậu Mallika đã hạ sinh được một người con
gái.” Khi được nghe như vậy vua Pasenadi không được
hoan hỉ bởi vì ngài đang mong có một hoàng nam. Sau khi
biết điều này Thế Tôn nói lên bài kệ như sau:
Này nhân
chủ ở đời
Có một
số thiếu nữ
Có thể
tốt đẹp hơn
So sánh
với con trai
Có trí
tuệ gới đức
Khiến
nhạc mẫu thán phục
Rồi sinh
được con trai
Là anh
hùng quốc chủ
Người
con trai như vậy
Của người
vợ hiền đức
Thật
xứng là đạo sư
Giáo quốc
cho toàn quốc *
(Bản
dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu – VNCPH VN ấn hành)
Ðạo Phật
đã mở ra cánh cửa cho phép nữ giới tham gia đầy đủ tất
cả các lĩnh vực của đạo giáo bằng cách làm cho họ có
đủ tư cách, khả năng được phép gia nhập vào giáo hội
Tỳ-kheo ni (Order of Nuns). Ðiều này đã mở ra một con đường
mới, nền văn hóa xã hội và những cơ hội cho một cuộc
sống phổ biến cho nữ giới. Nó giúp cho nữ giới nhận thức
được tầm quan trong của họ trong xã hội và làm như
vậy cũng nhằm nâng cao địa vị của nữ giới. Mặc dù có
một vài lời phê phán châm chọc được viết trong tâm trang
về những sự cám dỗ và thái độ của nữ giới, Ðức Phật
cũng đề cập trong Kinh Tương Ưng rất nhiều đặc trưng
bù đắp lại của họ. Người ta còn cho rằng trong một số
trường hợp nào đó nữ giới được xem là thông thái hơn
và sâu sắc hơn, thận trọng hơn nam giới. Và nữ giới cũng
được xem có khả năng chứng đắc giác ngộ hay thánh quả
sau khi tu tập Bát Chánh đạo. Mặc dầu có một số dường
như có vẻ hơi khó chịu, thông qua sự quan sát cẩn thận
chúng ta thấy rằng những gì Ðức Phật nói về nữ giới
vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay. Do vậy, khi tiết lộ
bản chất của nữ giới như Ðức Phật đã làm khi vua Pasenadi
nước Kosala thấy rằng nhà vua có một người con gái thay
vì một hoàng nam - Ðức Phật đã chỉ ra không chỉ những
yếu điểm của nữ giới mà còn những khả năng của họ
..... Ðức Phật đã chỉ ra rõ ràng rằng nữ giới cũng có
khả năng hiểu biết giác ngộ lời dạy của ngài và cũng
thực hành tu tập. Nhìn từ lời dạy đó đến mức độ chứng
đắc thánh quả, đoạn trừ vô minh. Ðiều này được chỉ
ra rất rõ ràng trong lời khuyên của Ðức Phật cho nhiều
phụ nữ trong dịp khác nhau và nhiều trường hợp khác. Ðức
Phật thuyết bài pháp vô thường cho nữ tôn giả Khema. Nữ
Tôn giả Khema có nhan sắc tuyệt trần, là hoàng hậu của
vua Tần- bà- sa-la (Bimbasara). Khi Thế Tôn ở tại Trúc Lâm,
nàng cùng các người hầu cận đến hầu Thế Tôn, Thế Tôn
hóa hiện một tiên nữ đẹp hơn nàng, đứng hầu quạt Thế
Tôn. Trước mắt nàng, tiên nữ bỗng trở nên già sọm rồi
ngã quỵ xuống đất, khiến nàng thức tỉnh, tiêu tan tất
cả kiêu mạn về nhan sắc của mình. Bấy giờ Thế Tôn dạy:
“Người
đắm say các dục,
Như nhện
sa lưới dệt,
Bỏ mọi
khổ không màng,
Tự lao
mình xuống dòng
Người
trí cắt trừ nó”.
(Pháp
Cú- 347)
Với sự
nhận thức được sự vô thường, sau đó nàng chứng đắc
A-la-hán ngay tại chỗ và xin Ðức Thế Tôn gia nhập vào giáo
hội Tỳ-kheo ni.
Nữ Tôn giả
Dammadinna là vợ của một người có địa vị trong xã hội,
ông Visakha. Khi Visakha nghe Thế Tôn dạy, liền đắc A-la-hán
và xuất gia. Nàng cũng xin xuất gia và nhập thất tu, không
bao lâu nàng liền chứng đắc A-la-hán quả vị cao hơn
cả Visakha (người chồng cũ). Nữ Tôn giả là vị thuyết
pháp đệ nhất.
Trường hợp
nữa là Nữ Tôn giả Patacara vốn con nhà giàu, về sau lập
gia đình với chàng trai giúp việc nhà và trốn nhà ra đi.
Ðến lúc sinh được hai con trong điều kiện rất khổ sở
thì chồng bị rắn cắn chết, một đứa con bị diều tha,
một đứa bị nước cuốn trôi, cha mẹ và các em bị thiệt
mạng trong một đêm bão tố. Quá đau khổ nên nàng bị điên.
Sau đó nàng gặp Thế Tôn và hồi tỉnh, Thế Tôn thuyết pháp
tế độ nàng. Về sau nàng đắc A-la-hán quả và thuyết pháp
độ năm trăm vị ni khác cũng đắc quả.
Sự thành
lập Giáo hội Ni giới- (Order of Nuns) vào năm thứ 5 từ khi
thành Ðạo cho đến khi thuyết pháp độ sanh của Thế Tôn
đã mở ra con đường tự do hoàn toàn tín ngưỡng cho nữ
giới. Nó được thành công theo ý nghĩa mà có nhiều vị ni
xuất chúng rất thông thái trong lãnh vực học tập cũng như
tu tập giáo pháp. Dưới đôi mắt của thế gian Phật giáo
phát triển rất cao. Trưởng Lão Ni Kệ (The Psalms of the Sisters)
bao gồm 77 bài kệ của các vị ni là một trong những niềm
tự hào của văn học Phật giáo. Ðức Phật không giới hạn
việc học và hành pháp của ni giới. Giáo hội ni giới đã
tạo ra một số vị thuyết pháp rất xuất sắc và những
luận sư xuất sắc như: Maha Pajapati (nhũ mẫu của Thái tử
Tất Ðạt Ða), Khema (trí tuệ đệ nhất) Dhammadim (đứng đầu
chư vị pháp sư ni), Patacara (Luật tạng đệ nhất) Nanda (Thiền
định đệ nhất).
Theo Phật
giaó, một người con trai không cần thiết cho sự tự do giải
thoát lên thiên đàng của người cha, mà người con gái cũng
có thể làm tốt công việc như con trai, và được quyền tự
do sống một cuộc sống độc lâïp. Bằng cách đảm bảo
cho nữ giới một vai trò tích cực trong cuộc sống tu hành.
Ðức Phật cũng giúp nâng cao địa vị của họ trong cuộc
sống trần tục.
Tuy nhiên,
việc chấp nhận nữ giới gia nhập Tăng đoàn là cũng quá
tiến bộ so với bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ.
Bởi vì bản chất của sự cải thiện quá tiến bộ trong
tư tưởng tiến bộ lúc đó, cho nên người ta không thể đáp
ứng được vì vậy gây ra tình trạng thoái lui. Vì vậy thời
gian thành lập Giáo hội Ni giới tồn tại rất ngắn bởi
vì dân chúng không thấu hiểu tình hình. Những Bà-la-môn cảm
thấy đặc quyền đặc lợi trong hệ thống giai cấp bị đe
dọa là yếu tố khác khiến cho sự suy giảm của giáo
hội ni giới. Họ đưa ra sự tuyên truyền thù địch, căm
ghét chống lại thái độ mới này trong việc đảm bảo nữ
giới quyền tự do tín ngưỡng.
Tại Srilanka,
Giáo hội ni giới phát triển rất mạnh mãi cho đến năm 1017
sau Tây lịch dưới sự cai trị của vua Manhinda (Di-lan-đà)
đệ tứ. Sau đó Giáo hội biến mất và không thể khôi phục
lại được. Nhưng giáo hội Ni giới được truyền sang Trung
Hoa do các vị ni người Sinhalese và nó vẫn tồn tại ở đó
cũng như ở Nhật Bản cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trong
truyền thống Phật giáo Ðại thừa họ chiếm lấy vị trí
địa vị phụ so với Tăng sĩ mà thôi.
Hướng
Ðến Sự Bình Ðẳng Tự Do
Kỳ vọng
của kỷ nguyên hiện đại trong thế kỷ 19 và thế kỷ thứ
20 rất khác với thời đại của Ðức Phật. Sự tự do của
nữ giới và sự công bằng bình đẳng đạt được nhiều
bước đặc biệt là trong xã hội Phương Tây. Ðiều này diễn
ra là nhờ kết quả cuả những khuynh hướng hiện đại, và
tư tưởng, nền giáo dục hiện đại cho nữ giới trong tất
cả các lãnh vực giáo dục từ sơ cấp cho đến đại học.
Susan B. Anthony, một người Mỹ đi tiên phong mở đường cho
cuộc vận động quyền bình đẳng cho nữ giới vào năm 1848,
hơn 148 năm trước đây. Kể từ đó những phong trào và cuộc
tranh đấu cho những mục tiêu rộng hơn đã dẫn đến những
phụ nữ đi tiên phong và nhiều tổ chức phụ nữ ra đời.
Những người này tin rằng nữ giới một vai trò quan
trọng trong trong lĩnh vực yêu tổ quốc cùng với nam giới
góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn thông qua
một xã hội và một quốc gia tốt đẹp hơn.
Kể từ năm
1848, nhiều phong trào có tổ chức rất phổ biến đòi hỏi
cơ hội được giáo dục bình đẳng, bình đẳng quyền chính
trị, kinh tế cho nữ giới. Ở phương Tây, điều kiện của
nữ giới được nâng cao do những điều kiện bắt nguồn
từ cách mạng công nghiệp, phong trào nhân quyền và phong trào
phụ nữ đòi quyền bình đẳng. Nhưng ở Á châu và những
quốc gia khác, nơi mà nến công nghiệp không mấy tiến bộ,
những sự cải cách được mang lại nhờ vào những nhà cải
cách với một cơ sở Tôn giáo mãnh liệt.
Trong 50-60
năm qua sự phát triển đều đều sự tham gia của nữ giới
vào đời sống kinh tế, xã hội, cũng như chính trị. Sự
thành công như thế đạt được bởi nữ giới gần đây trong
các lãnh vực đáng kính phục - như trong lĩnh vực khoa học,
trong kinh doanh, kinh tế và thậm chí trong lĩnh vực chính trị,
có thể được diễn tả như là một hiện tượng. Mỉa mai
thay, mặc dù một số nữ giới đã đạt đến địa vị tối
cao trong vũ đài chính trị như Thủ Tướng quốc gia (PM), ở
một số quốc gia khác, xã hội đương thời chưa đưa ra quyền
đi bầu cho phụ nữ. Ngày nay, mặc dầu hầu hết các quốc
gia trên thế giới chấp nhận một thái độ công bằng hơn
và đã mở nhiều cơ hội giáo giục và hướng nghiệp cho
nữ giới. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn một số quốc
gia về hình thức bên ngoài dường như đã xóa bỏ sự phân
biệt đối với nữ giới, nhưng bên trong vẫn còn tồn tại.
Họat động
thế giới nhằm nâng cao vai trò địa vị của nữ giới bắt
đầu bằng hội “League of Nations” (Liên Hợp Quốc) chỉ
thời gian ngắn sau chiến tranh thế giới thứ I. Sau này hiến
chương liên hiệp quốc đi xa hơn nữa nhằm đảm bảo những
nguyên tắc tự do và quyền bình đẳng cho tất cả nữ giới.
Uỷ ban chuyên phụ trách về quyền và địa vị của phụ
nữ, một bộ phận của Liên Hiệp Quốc điều tra thăm dò
về tình trạng phân biệt dựa trên giới tính và thảo luận
kỹ càng những câu hỏi liên quan đến quyền chính trị của
nữ giới, quyền được hưởng theo năng lực, địa vị của
người phụ nữ trong luật pháp, quốc tịch của người nữ
sau khi lập gia đình, cơ hội giáo dục và kinh tế cho
nữ giới, sự trợ giúp về mặt kỹ thuật và sự tham gia
của nữ giơiù.
Mặc dầu
nhiều điều đã được hoàn tất nhờ vào những phong trào
đòi quyền được đi bầu của phụ nữ, và các tổ
chức thế giới có quan hệ đến sự tham gia của nữ giới
trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, và chính trị
nhưng vấn đề tự do thực sự vẫn chưa được giải quyết.
Tự Do
Theo Phật Giáo
Tự do thực
sự là tự do khỏi tất cả càc trói buộc. Tự do chỉ đạt
được thông qua sự tu tập đúng đắn và sự thanh tịnh hóa
tâm. Làm sạch tất cả các lực hoại của tham, sân và si.
Không có những cuộc tranh luận công chúng nào, cuộc biểu
tình và những hiến chương quốc tế có thể mang lại cho
con người hoàn toàn tự do. Sự tự do chỉ có thể đạt được
nhờ vào sự nỗ lực tinh thần của từng cá nhân thông qua
việc thực hành đều đặn phương pháp thiền mà Ðức Phật
đã dạy. Ðức Phật là được xem người đầu tiên
giải phóng phụ nữ khỏi trói buộc của phong tục xã hội
và là người làm thăng hoa một lối sống rất dân chủ. Chính
trong Pháp của Phật mà nữ giới không bị khinh bỉ, xỉ nhục,
xem thường, nhưng còn đưa ngang địa vị của nam giới trong
những nổ lực để đạt trí tuệ và giải thoát. Và đây
cũng là tiếng nói của nhân bản, dân chủ bình đẳng
và sớm nhất trang lịch sử nhân loại, giải phóng nữ giới
ra khỏi vòng ràng buộc và tối tăm của cuộc sống bị đè
nặng bởi các nền văn hóa chậm tiến bộ.
WP: Thanh
Tâm
