CON
NGƯỜI VÀ TÔN GIÁO
Con người
là chúng sanh duy nhất trên thế gian này đã khám phá ra tôn
giáo và thực hành sự cầu nguyện và sùng bái.
Nhân loại
phát triển tôn giáo nhằm mục đích làm thỏa mãn những ham
muốn tìm hiểu cuộc sống chính mình và thế giới xung quanh
mình. Những tôn giáo thời nguyên thuỷ có nguồn gốc từ
thuyết vạn vật hữu linh và nó phát sinh từ nỗi sợ hãi
của con người về những đấng quyền năng siêu nhiên và
những đấng vô hình và sự ham muốn của con người nhằm
làm xoa dịu những quyền lực mà anh ta nghĩ là những
đối tượng trú ngụ vô tri vô giác. Trải qua thời gian, những
tôn giáo này thay đổi, bị ảnh hưởng bởi môi trường tự
nhiên, địa lý, lịch sử, kinh tế xã hội, chính trị và
tri thức ở thời điểm đó.
Nhiều tôn
giáo trong số những tôn giáo đó đã trở thành tôn giáo có
tổ chức và phát triển thịnh hành cho đến ngày nay, được
một số tín đồ thuần tín ủng hộ mạnh mẽ. Nhiều người
bị thu hút vào những tôn giáo có tổ chức này bởi vì hình
thức tráng lệ và lễ nghi trong khi lại có một số người
khác thích thực hành tôn giáo của chính họ, bày tỏ lòng
tôn kính đối với bậc đạo sư của họ và áp dụng những
nguyên lý đạo đức vào cuộc sống hằng ngày của mình.
Bởi vì tầm quan trọng và cần thiết của việc thực hành,
mỗi tôn giáo cho rằng tôn giáo mình là một triết lý sống,
chứ không chỉ là một hệ thống niềm tin suông. Xét theo
quan điểm của nhiều nguồn gốc xuất phát khác nhau và những
con đường phát triển mà tôn giáo đã trải qua thì người
ta không khỏi ngạc nhiên rằng những tôn giáo của con người
phải khác biệt về mục đích, sự hiểu biết và giải
thích của tín đồ, mục tiêu của họ và làm thế nào để
đạt được mục đích đó, và quan niệm của họ về sự
thưởng, phạt đối với những hành động đã tạo.
Xét về phương
diện mục đích, việc thực hành tôn giáo có thể được
căn cứ trên cơ sở niềm tin, sợ hãi, lý trí hoặc là
sự vô hại: niềm tin hình thành nền cơ sở của nhiều hình
thức tôn giáo được phát huy nhằm mục đích vượt qua những
nỗi sợ hãi của con người và đáp ứng những nhu cầu của
anh ta. Một tôn giáo thần biến, huyền diệu khai thác nỗi
sợ hãi đó xuất phát từ sự vô minh của con người và đưa
ra những sự hứa hẹn thành đạt về vật chất được căn
cứ trên cơ sở của lòng tham lam. Một tôn giáo của sự thuần
tín được căn cứ trên cơ sở tình cảm và nỗi sợ hãi
về đấng quyền năng siêu nhiên mà người ta quá tin tưởng
có thể làm xoa dịu thông qua những hình thức lễ nghi và
nghi thức. Một tôn giáo của niềm tin được căn cứ trên
cơ sở của lòng ham muốn có được sự tự tin để đối
diện với những điều không chắc chắn trong cuộc sống và
chân giá trị của con người.
Một số
tôn giáo phát triển do kết quả của sự phát triển tri thức
nhân loại, kinh nghiệm và trí tuệ nhân loại. Phương pháp
hợp lý khi tìm đến tôn giáo đã được chấp nhận trong
trường hợp này, kết hợp với những nguyên lý về giá trị
của con người và những quy luật của tự nhiên hay của vũ
trụ. Tôn giáo này được căn cứ trên giá trị nhân bản
và chú trọng đến sự tu tập, trau dồi những phẩm chất
con người. Một tôn giáo với chủ trương lấy quy luật nhân
quả hay nghiệp báo làm chính yếu được căn cứ trên nguyên
lý của tự lực và cho rằng chỉ có cá nhân chịu trách nhiệm
cho hạnh phúc và khổ đau và sự giải thoát của chính mình.
Một tôn giáo đầy tính trí tuệ được căn cứ trên cơ sở
ứng dụng lý trí và đi tìm sự hiểu biết về cuộc đời
và sự thật của những điều kiện thế gian thông qua tri
thức phân tích.
Vô hại và
thiện chí là những yếu tố phổ quát được tìm thấy trong
tôn giáo. Một tôn giáo hòa bình được căn cứ trên nguyên
lý không làm hại chính mình và người khác và tín đồ của
tôn giáo đó phải trau dồi một cuộc sống an lạc, hài hoà
và giải thoát. Một tôn giáo thiện chí và từ bi được căn
cứ trên cơ sở dâng hiến và phục vụ vì lợi ích và hạnh
phúc của người khác.
Tôn giáo
khác biệt do khả năngï hiểu biết của tín đồ tôn giáo
đó và sự giải thích mà những người có thẩm quyền tôn
giáo đưa ra cho học thuyết và việc hành trì của tôn giáo
họ. Trong một sô tôn giáo, đưa ra những quy tắc làm
mệnh lệnh cho con người phải phục tùng trong khi trong những
tôn giáo khác, họ chỉ đưa ra lời khuyên về nhu cầu và
phương cách để tuân theo những quy tắc này (luật). Mỗi
tôn giáo sẽ đưa ra những lý do để giải thích những vấn
đề khổ đau đang hiện hữu của con người và những sự
bất bình đẳng giữa con người và phương pháp để giải
quyết tình huống. Bằng cách giải thích, một số tôn giáo
cho rằng con người phải đương đầu với những khổ đau
này bởi vì anh ta đang được thử nghiệm ở nơi thế giới
này. Khi một sự giải thích như thế được đưa ra, một
người khác có thể hỏi: ‘Ðể vì mục đích gì?’ Làm
thế nào mà con người có thể được phán xét dựa trên cơ
sở của chỉ một kiếp sống khi mà nhân loại thường khác
biệt về những kinh nghiệm khổ đau về mặt vật lý, tinh
thần, xã hội, kinh tế và những nhân tố và điều kiện
môi trường?
Mỗi tôn
giáo có quan niệm riêng về những gì được xem là mục đích
của đời sống tâm linh. Ðối với một số tôn giáo, sự
sống thường hằng bất tử trên thiên đường hoặc ở cõi
trời với Chúa, Thượng đế là mục tiêu tối hậu. Ðối
với số khác lại cho rằng mục đích tối hậu của cuộc
đời là sự thống nhất với ý thức vũ trụ bởi vì người
ta tin rằng sự sống là một đơn vị của ý thức và nó
phải trở về cùng nguồn gốc với ý thức.
Một số
tôn giáo tin rằng sự chấm dứt khổ đau hoặc là sự lập
lại chu trình sinh và tử là mục đích cứ cánh. Ðối với
những tôn giáo khác, thậm chí hạnh phúc thiên đường hoặc
là hợp nhất với Phạm Thiên (đấng tạo hoá) là sự phái
sinh từ sự bấp bênh của cuộc sống, cho dù tồn tại ở
hình thức nào đi nữa. Và thậm chí có một sô tôn giáo tin
rằng chính ngay trong kiếp sống hiện tại cũng đủ cho chúng
ta hưởng được mục đích của cuộc đời.
Ðể đạt
được mục đích mong muốn này, mỗi tôn giáo đưa ra một
giải pháp khác nhau. Một số tôn giáo yêu cầu tín đồ của
họ hãy dâng hiến cho Chúa hoặc là tuỳ thuộc vào Chúa mọi
điều trong cuộc sống của họ. Một số tôn giáo khác kêu
gọi tín đồ của họ thực hành khổ hạnh khắc khe làm phương
tiện để rửa sạch tất cả những tội lỗi thông qua việc
tự ép xác khổ hạnh. Lại có một số tôn giáo khác đề
nghị giết súc vật để dâng hiến thần linh và nhiều hình
thức lễ nghi và nghi thức cũng như việc trì tụng thần chú
để được thanh tịnh hoá và đạt mục đích cứu cánh. Song
còn có một tôn giáo nữa ủng hộ những phương pháp tu tập
đa dạng và sự thành tâm, dùng trí tuệ nhận diện chân lý
và sự định tâm nhờ quá trình tu tập thiền định.
Mỗi tôn
giáo có một quan niệm khác nhau về sự trừng phạt những
hành động ác đã tạo trong cuộc sống. Theo một số tôn
giáo, con người bị Thượng đế buộc phải đày đoạ trên
trần gian này mãi mãi vì tội lỗi anh ta đã phạm phải ngay
trong kiếp sống này. Có một số tôn giáo khác lại cho rằng
nhân và quả hoạt động theo quy luật của tự nhiên và kết
quả của một hành động (nghiệp) sẽ phải lãnh chịu trong
một khoảng thời gian nhất định. Một số tôn giáo lại
cho rằng kiếp sống này chỉ là một trong nhiều kiếp sống
và con người sẽ luôn luôn có được cơ hội để chuyển
hoá tự thân trong mỗi giai đoạn mãi cho đến khi anh ta đạt
đến quả vị vô thượng, niềm hạnh phúc vĩnh cửu.
Ðưa ra nhiều
mục đích, sự giải thích và mục tiêu đa dạng và rộng
như thế về nhiều tôn giáo khác được nhân loại chấp nhận
thì rất là hữu ích khiến cho con người không nên chấp lấy
những quan điểm giáo điều về tôn giáo của họ mã hãy
cởi mở và khoan dung đối với quan điểm của những tôn
giáo khác.
Ðức Phật
dạy: “Các vị không nên chấp nhận những lời dạy của
ta do vì sự tôn kính mà trước hết hãy thử nghiệm những
lời dạy ấy như đem vàng ra thử lửa”.
Sau khi nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc duy trì một tâm hồn cởi
mở, khai phóng đối với những giáo lý của các tôn giáo
khác, thật là hữu ích nếu chúng ta ghi nhớ rằng thực hành
tôn giáo là để mang lại lợi ích và, tự do và hạnh phúc
cho tất cả chúng sanh. Ðiều đó có nghĩa là, giáo lý nên
được sử dụng vào những mục đích chân chánh nhằm cải
thiện phẩm chất của đời sống của tất cả chúng sanh.
Song hiện nay nhân loại bị lợi dụng và đã đi sai hướng
những những giáo lý cơ bản. Những hành động phi luân lý
và tội lỗi trở nên một hiện tượng phổ biến trong xã
hội và những con người có tinh thần tôn giáo thường gặp
phải nhiều khó khăn trong việc cố gắng duy trì một số
nguyên tắc đạo lý trong cuộc sống hiện đại. Ðồng thời,
tiêu chuẩn của những nguyên tắc đạo lý cũng bị hạ thấp
nhằm đáp ứng thoả mãn những nhu cầu của những con người
có đầu óc nhiễm ô và ích kỷ. Con người không nên vi phạm
những quy luật đạo lý phổ quát nhằm thích nghi với lòng
tham và sự tham đắm của bản thân; mà đúng hơn con người
nên cố điều chỉnh bản thân mình theo những quy luật này
do tôn giáo hướng dẫn. Những giới luật của tôn giáo đã
được đưa ra bởi các Bậc Thầy giác ngộ, những con người
đã nhận ra được lối sống thánh thiện, cao thượng đưa
đến an lạc và hạnh phúc cho tự thân và tha nhân. Những
ai vi phạm những giới cấm này là vi phạm những quy luật
của vũ trụ, mà theo Phật giáo, sẽ mang lại những hậu quả
thông qua sự vận hành của quy luật nhân quả.
Mặt khác,
điều này không có nghĩa rằng con người phải tuân theo một
cách nô lệ những gì được tìm thấy trong tôn giáo của
anh ta, không quan tâm đến việc ứng dụng của tôn giáo ấy
vào cuộc sống hiện thời. Những nguyên lý và giới luật
tôn giáo khiến cho con người có thể sống cuộc sống đầy
ý nghĩa, chứ không phải để sử dụng chúng trói buộc con
người vào những sự hành trì vô ích và những tín điều
và hình thức nghi lễ mang tính mê tín dị đoan. Người nào
tuân giữ những nguyên lý đạo giáo nên tin tưởng vào trí
thông minh của con người và sống tôn trọng với chấn giá
trị nhân loại. Cần phải có một vài sự thay đổi trong
những hoạt động tôn giáo để tương xứng với nền giáo
dục của chúng ta và bản chất của xã hội ngày càng đổi
thay của chúng ta và đồng thời không đánh mất đi những
nguyên lý phổ quát thánh thiện ấy. Nhưng người ta thừa
nhận rằng làm thay đổi bất kỳ hình thức tôn giáo nào
cũng luôn là điều khó thực thi bởi vì nhiều người có
đầu óc bảo thủ, cố hữu lại phản đối lại sự cách
tân dù là họ muốn cải thiện tốt hơn. Những quan điểm
và ý kiến bảo thủ như thế cũng giống như một ao nước
tù đọng, trong khi đó những ý tưởng mới tiến bộ thì
giống như một thác nước nơi mà dòng nước thường xuyên
được đổi mới và do đó, có thể sử dụng được.
WP: Thanh
Tâm
