ÐỨC
PHẬT
Ðức Phật
là một chúng sanh duy nhất, đặc biệt Ngài là nhà tư tưởng
uyên thâm nhất trong các tư tưởng gia, là người phát ngôn
thuyết phục nhất trong các phát ngôn viên, nhà cải cách thành
công nhất, vị đạo sư từ bi nhất và độ lượng nhất
và là một nhà quản trị hữu hiệu nhất. Ðặc trưng đáng
chú ý nhất của Ðức Phật là sự thanh tịnh và thánh thiện
hoàn toàn của Ngài. Ngài quá thanh tịnh và quá thánh thiện
đến mức độ mà Ngài phải được gọi là bậc thánh thiện
nhất trong các bậc Thánh. Ngài là mẫu người hoàn hảo nhất,
lý tưởng nhất về nhiều mặt, bất cứ ai tiếp xúc với
ngài cũng đều công nhận sự vĩ đại không thể phủ nhận
được và được ảnh hưởng sâu sắc bởi cá tính có sức
hấp dẫn của Ngài.
Ý chí, trí
tuệ, lòng từ bi, sự phục vụ, sự xuất thế, cuộc sống
mẫu mực của Ngài, và sự thành công của Ngài - tất cả
những yếu tố này góp phần hoan nghênh Ðức Phật như một
bậc đạo sư vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Ðức
Phật là người đầu tiên trên thế gian này lãnh một sứ
mạng tích cực trong việc hoằng hóa độ sanh. Ngài du hành
từ nơi này đến nơi khác trong 45 năm, truyền thuyết pháp
cho cả dân chúng lẫn tầng lớp trí thức, vua chúa, quí tộc
v.v... Mãi cho đến lúc sắp nhập Niết-bàn, Ngài đã phục
vụ cho quần sanh bằng những tấm gương lẫn giới hạnh của
Ngài. Những vị đệ tử xuất sắc của Ngài cũng hành động
giống như những gì bậc đạo sư của họ đã làm. Thậm
chí không một đồng xu dính túi - họ đã du hành khắp đó
đây nhằm truyền bá giáo pháp của bậc đạo sư cho quần
sanh mà không cầu mong được đền đáp lại bất kỳ điều
gì.
“Hãy nỗ
lực tinh tấn trên con đường hành đạo” là những lời
di huấn cuối cùng của Ðức Thích Tôn không có một sự giải
thoát hay thanh tịnh hóa nào có thể đạt được mà không
có một sự nỗ lực của từng cá nhân.
Những lời
cầu nguyện và van xin để được ban phước không được
chấp nhận trong đạo Phật và thay vào đó là hãy nỗ lực
tu tập thiền định, đưa đền sự tự kiểm soát thân tâm,
sự thanh tịnh và chứng đắc giác ngộ. Mục đích của sứ
mệnh của Ðức Phật là nhằm giải thoát chúng sanh khỏi
khổ đau bằng cách đoạn tận nguyên nhân của khổ và thuyết
giảng chánh đạo đưa đến sự chấm dứt sanh tử nếu như
những ai nỗ lực tu tập. Tuy nhiên nhân đây, Ðức Phật cũng
thuyết những bài pháp liên quan đến sự tiến bộ về đời
sống vật chất. Sự tiến bộ cả về vật chất lẫn tinh
thần thì rất cần thiết cho sự phát triển, thịnh vượng
của một quốc gia. Vật chất không nên tách khỏi tinh thần,
hoặc là sự tiến bộ về mặt vật chất cũng không nên đạt
được bằng cách hy sinh sự tiến bộ về mặt tâm linh như
đã được chứng kiến tại một số quốc gia đang trên đà
phát triển cao về mặt vật chất trên thế giới hiện nay.
Pandit Nehru,
cựu thủ tướng Ấn Ðộ, thường liên hệ Ðức Phật như
là một người “con” vĩ đại nhất của đất nước Ấn
Ðộ. Tiến sĩ S.Radhakrishnan một nhà lãnh đạo của Ấn Ðộ
và cũng là một triết gia, khi "dâng hiến" những lời ca ngợi
tán dương Ðức Phật, đã phát biểu như sau:
“Trong Ðức
Phật Cồ Ðàm, chúng ta có một người thông minh khác thường
từ phương Ðông độc nhất vô nhị, đối với sự ảnh hưởng
trong tư tưởng và đời sống của nhân loại, và rất hiếm
khi nhìn thấy những vị sáng lập các tôn giáo truyền thống
có một sự thông thái và sâu sắc như Ngài. Ngài thuộc về
vĩ nhân trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Ngài là người
thừa hưởng chúng của tất cả những con người học thức.
Rõ ràng Ðức Phật là một trong những nhân vật vĩ đại
nhất trong lịch sử nhân loại”.
Trong tác
phẩm “Ba nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử”, sử gia
H.G.Wells viết như sau: “Trong Ðức Phật chúng ta có thể nhìn
thấy rõ ràng một con người rất giản dị, tận tâm, đơn
độc tranh đấu cho sự giác ngộ chân lý - một tính cách,
con người rất sinh động, chứ không phải là một huyền
bí. Ngài giảng dạy những chân lý rất thiết thực trong cuộc
sống. Nhiều ý tưởng hay nhất trong xã hội của chúng ta
hiện nay cũng rất tương hợp, gần gũi với lời dạy của
ngài. Ngài dạy, tất cả khổ đau và những sự bất mãn là
do tính ích kỷ sinh ra. Trước khi một con người có thể trở
thành thanh tịnh vắng lặng, anh ta không thể sống vì nhu cầu
của chính bản thân. Thì sau đó, anh ta mới có thể trở thành
một bậc vĩ nhân. Ðức Phật cũng vậy, Ngài đã từ bỏ
tất cả để sống một cuộc đời giản dị. Vì thế, xét
về nhiều phương diện, Ðức Phật rất là gần gũi với
chúng ta và những nhu cầu của chúng ta.”
“Ðức Phật
thực sự là một con người nhưng con người này là thánh
nhân. Là một vị Phật, ngài không phải tái sinh nhưng bằng
hình thức thị hiện nơi cõi ta bà này để dẫn dắt chúng
sanh tu hành giải thoát khỏi biển mê. Ngài thấy có những
khả năng tiềm ẩn bên trong và năng lực sáng tạo của mỗi
chúng sanh mà không cần đòi hỏi chính anh ta phải có một
năng lực siêu nhiên nào đó. Ngài cũng khuyên chư đệ tử
Ngài hãy thi đua với Ngài để chứng đạt Phật quả, bởi
vì hạt giống Phật có sẵn trong mọi người (nhất thiết
chúng sanh giai hữu Phật tánh).”
Ðức Phật
được chư đệ tử Ngài tôn kính, đảnh lễ như là một
bậc thầy mô phạm tối thượng, nhưng Ngài không bao giờ
được tôn sùng như là một vị Thượng đế, thần thánh
để cầu mong được những ân huệ (sự ban ân) về mặt vật
chất cũng như tinh thần Ðức Phật để lại bất cứ gia
sản nào cho những đệ tử của Ngài sau này thừa hưởng.
Tuy nhiên, người ta nhận xét rằng không có một bậc thầy
mô phạm nào mà quá vô thần giống như Ðức Phật nhưng rất
giống một bậc cứu thế.
Chính Bertrand
Russell gọi Ðức Phật là “một người vô thần vĩ đại
nhất trong tất cả các thời đại”.
Nhưng chủ
nghĩa vô thần ở đây không nên hiểu sai, hay đồng nghĩa
với tinh thần phi tôn giáo. Ðể hình thành sự an lạc, hạnh
phúc chân thật cho nhân loại, một bậc đạo sư thanh tịnh,
giác ngộ thì tuyệt đối cần thiết trên thế giới suy đồi
về mặt đạo đức này. Ðiều quan trọng không có niềm tin
tín điều mù quáng hay lễ nghi tôn giáo có thể mang lại lợi
lạc cho đại đa số, nhưng điều cần thiết là một cuộc
sống thanh tịnh và hữu ích đầy tình thương, lý trí và
sự công bằng dựa vào những nguyên tắc cao thượng của
những bậc đạo sư khả kính.
Theo giáo
sư Foad “vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch tại Ấn Ðộ
và Trung Hoa đã xuất hiện 3 vị Ðạo sư vĩ đại. Các Ngài
cố gắng giúp cho nhân loại hiểu được những gì quan trọng
cần phải làm những gì chân chánh nhằm mang lại lợi ích
cho tự thân và tha nhân. Ðức Cồ Ðàm là một trong những
bậc Ðạo sư quan trọng nhất trong số các ngài”.
Ðức Phật
nhấn mạnh tầm quan trọng của giới luật như là phương
tiện để đạt cứu cánh, giải thoát. Ngài khuyên bảo rằng
chúng ta phải suy nghĩ chân chánh dựa trên tinh thần vị tha,
lòng từ, vô hại; chánh ngữ mới có thể khiến cho chúng
ta kiểm soát được những lời nói ác ý của chúng ta; chánh
nghiệp bằng cách tránh sát nhân hoặc các loại động vật,
không trộm cắp bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, không
tà hạnh, và chánh mạng phải thoát khỏi sự bóc lột, biển
thư hay những phủ cách phi pháp khác nhằm làm giàu cho bản
thân. Tất cả, những nguyên tắc trên hình thành nên cơ sở
nền tảng luân lý, đạo đức.
Ðức Phật
gởi những bức thông điệp cao quý của Ngài về sự phục
vụ vị tha, về nguyên tắc đạo đức, và lòng từ vô biên
không chỉ riêng cho hàng quốc vương hoàng tử, quý tộc, trưởng
giả giàu sang mà còn cho tầng lớp nghèo, người hạ tiện
thấp hèn cùng đinh. Ngài đã tạo ra những cơ hội bình đẳng
cho tất cả chúng sanh, và đề cao địa vị của con người.
Ngài tuyên bố rằng con đường đưa đến sự tụ tập phát
triển tâm linh được mở rộng ra cho tất cả trong bất cứ
điều kiện nào của cuộc sống cao thượng hay thấp hèn,
thánh hay phàm, trong sạch hay tội lỗi, cho bất kỳ ai muốn
hồi đầu, quy về với chánh pháp và tìm cầu sự hoàn hảo
trong cuộc sống.
Mỗi ngày
Ðức Phật thuyết pháp cho cả hai giới xuất gia lẫn tại
gia. Tuy nhiên, những gì Ngài dạy là một phần rất nhỏ so
với những gì Ngài biết. Vào một dịp nọ, Ngài cầm một
nắm lá trên tay và nói rằng những gì Ngài nói được so
sánh với nắm lá trên tay của Ngài, và những gì Ngài không
nói được so sánh như toàn bộ lượng lá trong một ngôi rừng.
Ngài chỉ nói những gì được xem là cần thiết cho sự giải
thoát của chúng ta.
Trong cuộc
hành trình hằng ngày của Ngài, Ngài tiếp xúc với những
cá nhân cần sự giúp đỡ của Ngài; Ngài hướng dẫn và
khuyên bảo hàng đệ tử xuất gia của Ngài và Ngài thậm
chí còn thuyết pháp cho hàng chư thiên (devas). Ngài nói pháp
cho dân chúng và các giai tầng khác nhau trong xã hội, bao gồm
vua chúa, quí tộc, trí thức v.v... Lời dạy của Ngài thực
sự chứa đựng “bầu sữa tươi mát” cho “những em bé”
và “miếng thịt” ngon cho người lớn. Trước khi Ngài thuyết
pháp, Ðức Phật đảm bảo chắc chắn rằng sự đói khát
cần được cung cấp nguồn sống, như thức ăn cho cơ thể
cũng rất cần thiết cho nguồn thức ăn tinh thần. Ngài chăm
sóc chu đáo người bệnh bằng đôi bàn tay của chính mình
và Ngài tuyên bố rằng: “Những ai chăm sóc chu đáo bệnh
nhân cũng là chăm sóc chu đáo chính Ngài”.
Ðức Phật
xóa bỏ các giai tầng trong xã hội bằng cách mở ra cánh cửa
Tăng đoàn cho tất cả các cá nhân khác nhau, không phân biệt
tầng lớp giai cấp. Sự phân biệt duy nhất là việc phân
chia cấp bậc trong việc lãnh thọ giới pháp như sadi (Samanera
- 10 giới) Tỳ-kheo (250 giới) và sự chứng đắc dần dần
của 4 quả vị thánh. Thậm chí sự thành lập Giáo hội Tăng
đoàn cũng mang tính cách rất là dân chủ bình đẳng. Liên
hệ đến vấn đề này, Lord Zetland phát biểu: “Và có thể
xảy ra một điều rất ngạc nhiên đối với mọi người
khi biết rằng trong sự hình thành giáo hội Tăng đoàn của
Ðức Phật tại Ấn Ðộ cách đây hơn 2500 năm được tìm
thấy những nguyên lý cơ bản của việc thực thi hệ thống
quốc hội của xã hội chúng ta ngày nay”.
Tương tự
như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại Ðức Thế
Tôn đã thành lập địa vị tôn giáo cho nữ giới - sự ra
đời giáo hội Tỳ-kheo ni - mở ra một khuynh hướng mới cho
tất cả nữ giới bị khinh miệt, đày đọa trong xã hội
Ấn Ðộ lúc bấy giờ. Do đó, Ngài cũng tạo ra sự bình đẳng
cho địa vị nữ giới đối với sự tu tập đời sống tâm
linh của họ. Ðức Phật cũng là người đầu tiên được
biết đến trong lịch sử bằng mọi nỗ lực nhằm xóa bỏ
giai cấp nô lệ bằng cách đưa ra khái niệm về tình huynh
đệ và chân giá trị của con người. Ðức Phật phản bác
sự giết chóc các loài động vật không may mắn để cúng
tế thần linh, và mang lại tình thương cho chúng. Một Phật
tử chân chánh nên thực hành lòng từ hướng đến tất cả
chúng sanh, không phân biệt bất cứ chủng loại nào.
Chính lòng
từ hình thành nên nền tảng cho tình huynh đệ của những
quốc gia hoặc là một tình bạn hữu giữa các tôn giáo nhằm
xóa bỏ tất cả các hàng rào ngăn cách chia rẽ giữa quốc
gia này với quốc gia khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo
khác. Nếu những người tôn sùng nhiều niềm tin khác nhau
không thể hoặc sẽ không có cùng chung một sân ga như tình
huynh đệ, anh chị em v.v... chỉ vì họ thuộc những tôn giáo
khác nhau thì chắc chắn rằng những vị đạo sư cao quý sẽ
thất bại trong sứ mệnh của các Ngài vì sự nghiệp hoằng
hóa độ sanh.
Ðức Phật
là một người hoàn toàn khoan dung độ lượng. Sự khoan dung
độ lượng là kẻ thù vĩ đại nhất của tôn giáo. Do đó,
Ðức Phật khuyên các đệ tử Ngài không nên giận dữ, bất
mãn và thậm chí không vui vẻ khi những người khác nói xấu
Ngài, chê bai phỉ báng những lời dạy của Ngài và các đệ
tử Ngài. Ðức Phật dạy: “Nếu các vị tỏ ra không vui
vẻ, hài lòng, thì các vị sẽ không chỉ thiêu đốt tất
cả các công đức mình đã tụ tập khi nay, mà các vị còn
không thể phán đoán suy xét liệu những điều họ nói là
đúng hay sai.” Tiến sĩ S. Radhakrishnan đã phát biểu: “Một
chúng sanh đã hoàn toàn giác ngộ, thậm chí sau 2500 năm của
sự giác ngộ.”
Ðức Phật
không thuyết giáo điều buộc người ta phải tin một cách
mù quáng, không có tín ngưỡng hay niềm tin mà buộc người
ta phải chấp nhận mà không có lý trí suy xét, không có lễ
nghi hình thức, mê tín dị đoan được quan sát để chính
thức gia nhập đạo, và không có những nghi thức tế lễ
thần linh và sự tự hành để chuộc lấy tội lỗi cho sự
thanh tịnh hóa thân và tâm. Ðức Phật trình bày những chân
lý hết sức đơn giản cho đại đa số và một nền triết
lý hết sức thậm thâm vị diệu cho tầng lớp trí thức.
Ngài khuyên
những người tìm cầu chân lý không nên chấp nhận bất cứ
điều gì vì quyền uy của kẻ khác, nhưng hãy chấp nhận
chúng khi đã xem xét kỹ lưỡng, và nên phán xét liệu điều
đó đúng hay sai.
Trong suốt
cuộc đời thuyết pháp độ sanh của Ngài cách đây hơn 2500
năm, không có một giọt máu nào rơi xuống đất trong sự
nghiệp truyền bá chánh pháp, và không có một sự cảm hóa
nào được thực thi bằng những biện pháp ép buộc và bạo
lực. Nhưng Ðức Phật là người truyền giáo đầu tiên và
vĩ đại nhất đã từng hiện hữu trên cõi đời này.
Những lời
dạy thậm thâm vi diệu của Ngài đã lan tỏa và đang tiếp
tục trên con đường lan tỏa khắp hầu hết các quốc gia
trên toàn thế giới bởi vì tính phổ quát, khoan dung độ
lượng, dù là thời đại khoa học kỹ thuật cao như hiện
nay. Giáo pháp của Ðức Phật đã đóng góp to lớn cho
sự phát triển, thăng hóa về mặt văn hóa của nhiều quốc
gia Á châu. Trên thực tế đã chứng minh rằng tất cả các
quốc gia mà Phật giáo làm quốc giáo đã trưởng thành trong
các nôi của Phật giáo.
Nhiều quốc
gia đã ra đời và biến đi, nhiều triều đại được hình
thành trên cơ sở quyền năng và thế lực đã thịnh và suy,
nhưng triều đại Phật pháp do Ðức Phật sáng lập dựa trên
tình thương, lòng từ và lý trí vẫn đang thịnh hành và sẽ
tiếp tục thịnh hành.
WP: Thanh
Tâm
