Không
còn nghi ngờ gì nữa rằng đạo Phật rất cần thiết cho
thế giới hiện đại cho dù giáo lý này đã được đức
Phật tuyên bố cách đây hơn 2500 năm. Ðó là bởi vì thông
điệp của Phật giáo là vượt thời gian. Thông điệp này
nói về lòng từ, bi, hỷ và xả. Xả là một phẩm chất mà
thế giới hiện đại đang bàn luận nhiều, và là một trong
những điều mà những nhà lãnh đạo thế giới cũng như các
tổ chức thế giới ao ước có được. Nhưng vẫn còn
đại đa số nhân loại không chắc chắn về thông điệp do
đức Phật tuyên bố.
Thông điệp
về hoà bình, về tình thương và hạnh phúc đối với tất
cả nhân loại được tuyên thuyết vào một thời điểm khi
mà các lục địa bị phân chia bởi những hàng rào chắn ngăn
cản- về mặt vật lý và địa lý, ngôn ngữ và chủng tộc.
Sự cô lập về địa lý, phương tiện truyền thông chậm
phát triển và hạn chế bị giới hạn trong những khu vực.
Chính vì thế, mê tín dị đoan lan tràn, thịnh hành và tri
thức không được chia sẻ. Do vậy, trong một tình huống như
thế, những bậc siêu nhiên vô hình vượt lên trên những
bậc hữu hình. Xét về mặt kỹ thuật và khoa học, những
khu vực phát triển hiện nay của thế giới hiện đại lại
không phát triển thậm chí lại chậm phát triển. Vì vậy,
con người sống trong những lục địa xa xôi này không có
cơ hội để nghe, biết và hiểu ngay cả cái nền tảng cơ
bản nhất của thông điệp đức Phật.
Một
yếu tố khác cản trở sự truyền bá của thông điệp đức
Phật là sự thịnh hành của phương pháp truyền bá tôn giáo.
Lúc đó, tôn giáo được truyền bá bằng thanh gươm và bằng
sự chinh phục. So sánh với phương pháp này, Phật giáo là
một tôn giáo truyền bá thông điệp của mình không phải
bằng những vũ khí làm chết người hay là những đội quân
Thập tự chinh
Cho dù
không sử dụng đến tất cả những phương pháp trên để
truyền bá tôn giáo của mình, Phật giáo vẫn phát triển mạnh
mẽ và đều đều tại những quốc gia mà có sự giao lưu
thông thương với Ấn Ðộ vào thời diểm đó. Phật giáo
truyền bá tuy chậm nhưng chắc chắn dọc các lộ trình đến
Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Trung Tâm Thổ
Nhĩ Kỳ. Ðại đế A Dục (Asoka) cũng phái các Phái đoàn truyền
bá Phật Pháp đến các vương quốc tại phương Ðông và phương
Tây thông qua các vị tu sĩ Phật giáo. Ngài gởi một món quà
Chánh Pháp đến Tích Lan thông qua vị hoàng tử Mahinda và công
chúa Sanghamitta. Một nhánh chiết của cây Bồ đề (ficus religiosa)
nơi mà đức Phật thành vô thượng Chánh giác được công
chúa Sanghamitta mang đến Tích Lan. Cây Bồ đề này vẫn còn
sinh tồn cho đến ngày nay như là cây Bồ đề lịch sử cổ
xưa nhất trên thế giới. Nó là một hình ảnh biểu tượng
cho sự Giác ngộ đối vớ tất cả giới Phật tử. Từ Tích
Lan và Ấn Ðộ, Phật giáo được truyền sang Miến Ðiện,
Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia và Inđônêxia.
Ngày nay thế giới đã thu nhỏ lại. Những quốc gia chậm
phát triển và chưa phát triển đã được tiến bộ về mặt
khoa học và kỹ thuật trong khi những quốc gia đã một thời
phát triển lại trở thành những nơi chậm phát triển. Trong
kỷ nguyên này, phương tiện đi lại trở nên dễ dàng thuận
tiện, nhanh và không bị giới hạn. Những phương tiện truyền
thông thì phát triển nhanh và hiện đại. Do vậy, sự giàu
có về tri thức là gia sản chung của mọi người, và không
có lý do nào họ lại là những người không biết gì về
thông điệp của đức Phật.
Thái Ðô
Phê Bình
Tuy nhiên,
với tri thức sẵn có nơi mọi người,vẫn còn có một số
lời phê bình chỉ trích chống lại Phật giáo cũng như những
sự hiểu lầm và quan điểm sai lệch về giáo lý của đức
Phật. Có một số học giả cố gắng đem Phật giáo sánh
ngang bằng với Ấn giáo. Cũng có một số người nổi tiếng
nghĩ Phật giáo không khác với những tôn giáo hữu thần khác.
Thậm chí có một số cho rằng đạo Phật là một tôn giáo
chứa đầy những niềm tin và việc thực hành mê tín dị
đoan. Xét trên bê mặt bên ngoài, những nhận xét phê bình
này dường như trái ngược cản trở sự hòa giải ý thức
hệ tôn giáo. Những sự khác biệt dường như này là do sự
hiểu lầm, thông tin sai lệch, và sự giải thích sai lệch
về cơ cấu bộ máy xã hội và những di sản văn hóa mà những
phức tạp cùng tồn tại trong một kiểu cách hơi khiêm tốn
theo nhiều phương diện khác nhau trong những mô hình xã hội
khác nhau. Do đó dễ hiểu bản chất của những lời dạy
của đức Phật điều cần thiết và quan trọng là cần phải
nghiên cứu những sự dị biệt giữa Phật giáo và những
tôn giáo hiện hành khác để mà chúng ta có thể hiểu một
cách rõ ràng về thông điệp của đức Phật.
Những
tôn giáo khác được khéo chuẩn bị để làm thoả mãn những
bẩm chất, thiên hướng về mặt tâm lý, những thái độ
chất vấn và tò mò của những người khác, lối tư duy của
họ và sự tin tưởng của họ quá nhiều đến mức độ mà
mọi sự nghi hoặc có thể tin được cung cấp với những
lời giải thích tốt nhất có thể. Một số trong những sự
giải thích đó được dưạ trên sự toàn năng của đấng
sáng tạo, tình thương và lòng từ bi phổ quát của Ngài.
Người ta cũng tin rằng một vài trong những nhân tố cơ bản
này không được phép chấp vấn. Một số người chấp nhận
tôn giáo dựa trên những niềm tin mù quáng, một số người
dựa trên những học thuyết mang tính chất giáo điều. Tuy
nhiên, những giả định này đã làm bằng lòng tâm trí cả
tin của những tín đồ thuần thành. Vấn đề chất vấn,
hỏi đáp không phải là công việc dành cho họ. Logic và lý
trí phải nhường bước cho sự nhiệt tâm, cuồng tín. Lý
trí, giải thích khoa học, sự thống nhất về logic khác nhau
ở mỗi tôn giáo. Người ta khẳng định rằng những phương
pháp và kỹ thuật của khoa học hiện đại thì không định
hướng và không thể áp dụng vào trường hợp tôn giáo. Tôn
giáo được xem như về cơ bản thì khác với khoa học. Tôn
giáo được cho là sự mặc khải, là lời của các vị thần.
Ngược lại, Phật giáo mời đến, đón chào, chào mừng và
khuyến khích thái độ khảo sát, thẩm vấn và tự xem xét
nội tâm theo một cách có logi, lý trí và có khoa học. Thái
độ này được chứng minh rõ ràng trong Kinh nổi tiếng Kalama
Sutta, đức Phật dạy cho các vị Kalamas như sau : “Này các
vị Kalamas, chớ tin theo truyền thuyết; truyền thống; lời
đồn; quyền uy của kinh điển; lý luận thuần tuý siêu hình;
suy diển; xét đoán bề ngoài nông cạn; do thích thú một quan
điểm nào đó; quyền năng của một cá nhân; lòng tôn trọng
một bật đạo sư”. Người ta thường phản bác lại người
Phật tử và cho rằng người Phật tử tin vào các thần linh,
chấp nhận một số niềm tin chung và sùng bái cây Bồ đề
và hình tượng. Người ta cũng nói với thái độ gièm pha
rằng đại đa số tín đồ Phật giáo sùng bái những yếu
tố như trời, đất, mặt trăng và mặt trời và các vì sao.
Ở đây, những nhà phê bình đã phạm phải sự sai lầm khi
trộn chung các giá trị văn hóa, truyền thống các phong tục
xã hội và tín ngưỡng truyền thống của người dân trong
mọi giai đoạn khác nhau của sự tiến hóa, phát triển của
xã hội. Cho dù những nhà phê bình cố tình quên đi hay không
biết rằng đạo Phật chưa bao giờ cố giắng loại bỏ một
lối sống hiện hành và những giá trị văn hóa của một
lối sống cao thượng.
Tương
tự như vậy, nếu những người có đầu óc hay nghi ngờ và
chất vấn như thế, những nhà phê bình hay những nhà quan
sát cần phải hỏi cá nhân Phật tử của những xã hội Phật
giáo liệu anh ta có tin vào một sự hỗn hợp của những quan
niệm như thế hay không thì anh ta sẽ trả lời rằng là: Vâng,
và có bởi vì tâm trí của một con người cả tin thì rất
sẵn sàng. Theo sự quyết định về mặt tâm linh của anh ta,
lý luận và cách tổ chức. Ðối với cá nhân này, Phật giáo
và những giới luật của Phật giáo đứng trên tất cả những
nền móng cơ sở của kim tự tháp của những tín ngưỡng
cổ xưa và sự mê tín đi với một hệ thống giới luật
luân lý và “Tiratana” (Tam Bảo-Phật, Pháp,và Tăng) được
đặc trên đỉnh cao của kim tự tháp.
Một những
nhận xét thích hợp nhất về đạo Phật là người Phật
tử có niềm tin vào các vị thiên Thần thuộc về thế giới
của riêng các vị. Một ngưới Phật tử như thế, khi anh
ta cầu nguyện van xin, không nên lẫn lộn với những người
Phật tử chân chánh đi tìm cầu sự an lạc, niết bàn. Anh
ta không nên được nhân cách hóa với Phật giáo, với pháp
do đức Phật thuyết giảng. Ðó là một quan niệm sai lầm
của những nhà phê bình và những nhà quan sát liên quan đến
những ngưởi tín đồ hòan tòan ý thức về cấu trúc kim
tự tháp về niền tin tôn giáo của anh ta. Anh ta tin tưởng
có sự hiện hữu của những vị thần thiện và thần ác;
những vị tyhần từ tâm tốt bụng, và những bậc siêu thiên
tự ái. Anh ta cũng tin rằng đức Phật đứng ỡ một địa
vị cao nhất trong hệ thống cấp bậc của các vị thiên thần.
Với trí thức khoa học hạn chế của mình, anh ta tin tưởng
rằng có lẽ tất cả những sự trợ giúp có thể tác dụng
trong những lúc khủng hoảng về đời sống. Do vậy, anh ta
làm nhiều việc để phục vụ cho mục đích này và liên
quan đến sự nhận thức những nhu cầu cần thiết của con
người trong những lúc căng thẳng về mặt tinh thần. Những
cá nhân như thế chưa bao giờ yêu cầu đức Phật và chư
đệ tử Ngài can thiệp vào. Những người Phật tử có đầu
óc suy nhĩ không bao giờ đòi hỏi những đặc ân như thế.
Tất nhiên người ta hiểu rằng những giá trị truyền thống
trong xã hội đặc thù nào đó hình thành nên nền tảng cơ
sở cho chính sự hiện hữu và tiếp tục của con người.
Và nguời ta cũng hiểu rằng mỗi xã hội vẫn cò tồn tại
những truyền thống cổ xưa. Do đó, không thể nói rằng người
Phật tử thực hành những truyền thống tín ngưỡng song song
với việc thực hành đạo Phật là sai lầm. Bởi vì đó là
một cách sống.
Những
gì Phật giáo không thực hành, thì những thứ đó được
các tôn giáo khác thực hành và có thể nỗ lực làm. Với
một sự mong muốn sốt sắng nhiệt tâm để giáo hoá người
khác, những phái đoàn của các tôn giáo khác đã hủy diệt
tinh thần của xã hội và làm cho họ trở thành những mẫu
người nguyên sơ chậm tiến và buồn tẻ thuộc một nền
văn hóa và chủng tộc hoàn toàn xa lạ. Sự thiết tha, nhiệt
tình của họ là nhằm chuyển đổi những giá trị văn hoá,
tín ngưỡng truyền thống và mô hình xã hội.
Vì thế,
họ nỗ lực nhằm thay đổi tinh thần văn hóa xã hội và
tinh thần dân tộc, quốc gia của một nhóm người. Những
tình huống như thế tạo ra tạo ra những sự thiệt hại không
thể đền bù được về mặt xã hội cũng như tâm linh tinh
thần bởi vì những sứ giả truyền giáo đã đàn áp những
sự ham muốn để sinh tồn, và ngược lại làm tê liệt ý
chí phát triển, tiến bộ. Xét về mặt bên ngoài thì sự
thu phục và cảm hoá tín đồ như thế dường như có vẽ
thành công. Nhưng xét tận đường bên trong tâm can của con
người những tín ngưỡng và những giá trị cổ xưa vẫn
tiếp tục sinh tồn làm mờ đi tất cả những độ sáng bên
ngoài của những tôn giáo mới do vậy trong xã hội ngày nay
sẽ còn tiếp diễn một sự xung đột không chỉ về mặt
văn hóa và chủng tộc mà còn về mặt tôn giáo.
Bất
cứ nơi nào Phật giáo được truyền bá đến hoặc là được
sự giới thiệu của Tăng già những vị đệ tử đại diện
của đức Phật, thì giáo lý của đức Phật chưa bao giờ
xung đột với những giá trị truyền thống của những xã
hội khi Phật giáo mới nhập vào. Cái mới vá cái cũ; cái
cổ xưa vá cái hiện đại tân tiến đồng tồn tại sát cánh
bên nhau. Khi tâm trí con người tiến bộ cùng với sự phát
triển và nâng cao của lĩnh vực tri thức thì những lĩnh vực
như thần thông, huyền hoặc mê tín dị đoan, y học và khoa
học trở nên giảm xuống. Sự tổng hợp diễn ra toàn thể
hay một bộ phận và tiến trình tiếp tục cho đến ngày nay.
Do đó, đối vời những người quan sát thiển cận bề ngoài
và những người phê bình bảo thủ đến cùng và những nhà
truyền giáo, những điều này dường như là trái ngược không
thể hòa giải được. Kết quả là, họ phê bình chỉ trích
Phật giáo là tôn giáo vô minh sai lầm và dị biệt với những
gì mà họ quan niệm về giáo lý của đức Phật. Họ giải
thích kết hợp với sự kỳ diệu thậm chí như là một phương
tiện của cơ cấu tạm thời của con người nhằm làm thoả
mản sự căng thẳng về mặt tâm lý hoặc là sự khủng hoảng
về tình cảm như một yếu tố phi tôn giáo không có lý do
xác đáng và thêm vào đó, đây là một sự kiện châm biếm
mỉa mai rằng họ cần phải chấp nhận những nhu cầu đó
của con người trong sự sinh tồn nhằm để chứng đạt trạng
thái tuyệt đối của sự an lạc và sự hạnh phúc, và
điều này chỉ có thể đạt được thông qua sự loại bỏ
những ác nghiệp. Ngược lại, đối với đạo Phật, người
Phật tử biết rằng tất cả chúng sanh đều phải chịu sự
chi phối của quy luật vô thường khổ đau và không có một
linh hồn bất diệt.
Sự Hiểu
Biết Thông Ðiệp Của Ðức Phật
Ðối
với câu phát biểu cho rằng tôn giáo về cơ bản khác nhau
với sự nhận thức khoa học, chúng ta có thể trả lời vấn
đề này căn cứ vào Luận Tạng Abhidhamma. Về cơ bản, giáo
lý vô thượng thậm thâm này của đức Phật mở đường
cho những ý tưởng của thế giới khoa học cề vấn đề
tâm và sắc. Lời dạy căn bản của dức Phật là “tránh
làm các điều ác, làm các việc thiện, và thanh tịnh tâm
ý”. Ngoài ra, đức Phật dạy rằng các pháp hữu
vi đều chịu sự chi phối của quy luật cơ bản của
vô thường và biến đổi (Anica), khổ đau (Dukkha), và không
có một thực thể sống thường hằng bất diệt (Anatta). Do
vậy, chúng chỉ là sự cấu thành của hai yếu tố danh
và sắc. Sắc là sự biểu hiện của năng lượng và những
đặc tính của phẩm chất. Cổ nhân biết đến sắc như là
những nguyên tử. Ðức Phật gọi chúng như là những đơn
vị cơ sở của sắc. Từ điều này, chúng ta biết được
rằng Phật giáo thích hợp và đi trước những phát hiện
mới nhất của khoa học hiện đại về bản chất của sự
sống về con người.
Sanh
theo Phật giáo được gọi là sự trở thành.
Qúa trình
của sự trở thành, do đó, được tiến hoá và phát triển
theo tiến trình thời gian do vì sự vô minh của những chuỗi
nhân quả hay nhân duyên. Những sự kiện này được hình thành
theo công thức như sau:
Do vô minh,
hành phát sinh;
Do hành,
thức sinh khởi;
Do thức,
danh sắc khởi;
Do danh sắc,
lục nhập sinh khởi;
Do lục nhập,
xúc sinh khởi;
Do xúc ái,
sinh khởi;
Do ái, thủ
sinh khởi;
Do thủ,
hữu sinh khởi;
Do hửu,
sanh phát sinh;
Do sanh, lão
bện, và tử sinh khởi.
Tất nhiên,
khi nhân không còn hiện hữu, thì quả tự nhiên biến mất.
Có nghĩa là, nếu vô minh được đoạn diệt hoàn toàn tận
gốc rễ thì sẽ dẩn đến sự đoạn diệt của sinh và tử.
Sau khi giải thích nguồn gốc của vật chất, tức sắc, những
ai khác về tinh thần và tình cảm con người, Phật giáo cố
gắng giải thích sự thay đổi của sự sống như là một
sự tiếp tục của một vòng sinh và tử. Quá trình này là
một quá trình khổ đau. Vì vậy, điều này chứng minh rằng
ngay cả những thàng tựu cao nhất tối tân nhất cả những
sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong thế giới hiện
đại vẫn phải chịu sự chi phối của qui luật phổ quát
này (Dhamma). Chính bản thân sự sống cũng phải chịu chi phối
của qui luật này. Không một chúng sanh nào có thể trốn tránh
hay thoát khỏi nó. Từ quá trình này, đức Phật kế đến
tiếp tục phân tích trạng thái thực tại của chúng sanh và
cố tìm ra một con đường đưa đến sư chấm dứt khổ đau
và biến đổi của tất cả các pháp hữu vi này. Vì thế,
thông điệp của Ngài rất rõ ràng. Thông điệp này không
dành cho những ai chạy trốn sự sợ hãi do vì không có sự
can đảm và tính kiên cố nỗ lực của con người. Ðó là
một con đường tìm ra một giải pháp cho vấn đề-một vấn
đề săn đuổi, ám ảnh con người và là một con đường
của sự hiểu biết giúp chúng ta thoát khỏi những tình huống
nguy hiểm. Những tình huống như thế sẽ luôn luôn có mặt
trên cõi đời này; hiện tại bây giờ và mai sau, và chúng
có thể mô tả tốt nhất bằng việc sử dụng một hình ảnh
ẩn dụ: Bất cứ ai bị bao quanh bởi một ngọn lửa chỉ
có thể thoát khỏi bằng cách tránh khỏi nơi đó chứ không
phải đứng yên nơi đó. Cách để vượt qua một cơn nước
lũ hay vượt qua một con sông là bằng cách dùng một
chiếc bè để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Cách
chế ngự hay bắt một con rắn là hãy nắm đầu rắn chứ
không phải nắm cái đuôi của nó.
Vì vậy ngọn
lửa của hận thù có thể tránh né và dập tắt bằng tình
thương. Cơn lũ của sự chấp thủ tham ái phải được chế
phục bằng sự ly tham vô chấp thủ, và dòng sông của sanh
tử luân hồi phải được vượt qua làm cho thanh tịnh những
cấu uế của tâm. Sợi dây vô minh có thể được chặt đứt
bằng cách phát triển phẩm tính của sự hiểu biết giác
ngộ. Khi ngiên cứu những lời dạy của đức Phật chúng
ta không nên rơi vào hai cực đoan mà phải thực hành theo con
đường thực tế và hợp lý đó là con đường trung đạo.
Ðể duy trì một cực đoan của khổ đauhay là một cực đoan
của sự hưởng thụ dục lạc sung sướng có nguy cơ đưa
chúng sanh đến sự nguy hiểm. Sự nguy hiểm về mặt tâm linh
vẫn đang là một nét đặc trưng thịnh hành trong thế giới
hiện đại. Nó không chỉ hạn chế trong những thời kỳ cổ
đại, mà khoa học và kỹ thuật hiện đại cũ không thể
vượt qua nó bởi vì nó liên quan đến vấn đề trạng thái
tâm linh chứ không phải là trạng thái vật chất.
Do vậy, con
đường tuy khó khăn nhưng bảo đảm an toàn là con đường
Trung đạo. Ðây là con đường của sự chân chính, đúng đắn
và cũng gọi la Bát Thánh đạo. Nó là một lời giải đáp
cho tất cả những vấn đề trong xã hội của chúng ta ngày
nay. Con đường nay bao gồm tám phẩm chất được sắp xếp
dưới ba phạm trù như: Giới (Sila), Ðịnh (Samadhi), và Tuệ
(Panna). Giới gồm ba yếu tố: Chánh ngữ, Chánh nghiệp và
Chánh mạng. Ðịnh gồm: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh
định. Tuệ bao gồm: Chánh kiến và Chánh tư duy. Sự nhận
ra những con đường này đưa đến sự chứng đắc trạng
thái tối hậu của Niết-bàn.
Ở giai đoạn
này buộc chúng ta phải đưa ra câu hỏi: Tại sao người ta
lại muốn chính mình từ chối những thứ tốt đẹp của
cuộc sống? Có phải vì Bát Thánh đạo khó để mà thực
hành theo? Tại sao người ta không nên thưởng thức, hưởng
thụ tất cả những thú vui thế tục với tất cả những
nguồn hạnh phúc của nó? Có phải vì sau khi chết con người
sẽ ra sao và những gì xảy ra đối với anh ta? Ai biết được
điều đó? Ai có thể nói được điều đó? Ngay từ lúc ban
sơ, con người là một động vật xã hội. Anh ta sau này là
một động vật có lý trí vượt lên trên tất cả những
loại động vật khác, một loài động vật duy nhất mà buộc
anh ta phải hoàn toàn nắm lấy một trường sống chung quanh;
cả về không gian lẫn thời gian bên ngoài. Thậm chí trong
một xã hội như thế con người không thể sống cho chính
mình và sống đơn độc một mình. Anh ta buộc phải sống
với gia đình, hàng xóm láng giềng của anh ta. Và sẽ không
thể có được hạnh phúc của cuộc sống nếu mọi người
luôn luôn sống trong sự sợ hãi với nhau.
Do vậy, một
đời sống luân lý đạo đức thì rất cần thiết cho con
người để sống một đời sống an lạc hạnh phúc trong xã
hội của anh ta. Ngày nay, những phẩm hạnh vẫn còn được
duy trì ở vị trí trên hết trong tâm trí của con người là
những phẩm hạnh được các nhà sáng lập tôn giáo tuyên
thuyết. Và hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, thế
giới lại ý thức đầy đủ về những hiểm nguy đang đương
đầu với những cư dân đô thị phát triển cao vì lý do sợ
hãi chiến tranh, tệ nạn phân biệt chủng tộc, bất bình
đẳng trong xã hội và sự nghèo đói. Những hiện tượng
này có tương quan duyên với nhau cho nên người ta khó mà chia
cách những cái xấu ra khỏi cái khác. Người ta nói về hoà
bình an lạc nhưng họ không phản đối việc tiếp tục chiến
tranh và đoạt lấy sinh mạng. Sinh mạng là cái quý giá nhất
mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Không có sự khác
biệt giữa hai loài khi nhìn nhận về những yếu tố của
sự sống. Vì vậy, đó là một hành vi đạo đức giả để
nói về hòa bình mà không bàb về việc tránh không tước
đoạt lấy bất kỳ một hình thức sinh mạng nào. Thế thì
tại sao tất cả sinh vật bị gạt ra khỏi cái thông điệp
về hòa bình này để ngăn chặn sự đau khổ? Ðó có phải
vì con người là một động vật cao hơn và loài còn lại
là thấp hèn hơn? Ðó có phải vì không thể và sẽ không
sống chỉ bằng sự thanh đạm? Ðó có phải vì con người
phải phấn đấu và nỗ lực để phát triển cho dù đồng
loại của mình ra sao mặc kệ? Theo ý nghĩa đây là sự tranh
luận mang bản chất tương tự làm tác động đến tâm trí
của những nhà lãnh đạo của các quốc gia cố gắng loại
bỏ những đối thủ yếu cơ hơn mình; những kẻ mạnh hơn.
Ðó là luật rừng, quy luật của sự sống còn của những
kẻ.
Tương tự
đối với các giới còn lại như : tránh không được nói
láo, tránh không được uống rượu say sưa và tránh không
được tà dâm. Khi xã hội phát triển và khi những giá trị
luân lý đạo đức trở nên cần thiết quan trọng, thì ngũ
giới của Phật giáo (Pancasila) Sẽ cung cấp một lối sống
cho nhân loại của tất cả xã hội trong hiện tại cũng như
tương lai. Ðộng vật xã hội có lý trí cần thiết nên từ
bỏ lối sống sơ khai của một đời sống phi luân lý đạo
đức của một thú vật phi lý trí để mà sống hài hoà với
nhân loại trong xã hội của mình. Một số người sẽ sớm
chấp nhận và thực hành theo cách sống có luân lý hơn những
người khác.
Những gì
con người thược sự ước ao cho tất cả chúng sanh là hạnh
phúc.
WP: Thanh
Tâm
