ÐỨC
PHẬT LÀ MỘT CON NGƯỜI CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT THƯỢNG ÐẾ
Nhiều tôn
giáo lớn trên thế giới ngoại trừ Phật giáo cho rằng vị
đứng đầu tối cao nhất của tôn giáo luôn luôn là Thượng
đế với tất cả quyền năng siêu nhiên. Thượng đế này
có quyền hạn tối cao, biết được quá khứ và tương lai
và điều khiển tất cả nhân loại trong vũ trụ này. Nhân
loại trong vũ trụ này đều thờ phụng vị Thượng đế đó.
Chỉ có những ai tin tưởng vào vị Thượng đế này mới
có thể được cứu rỗi và đạt được hạnh phúc trường
cữu.
Ðạo Phật
dạy rằng mỗi con người trong vũ trụ này là vị chủ nhân
của chính mình, kiểm soát số mệnh của mình và không có
một con người nào hay một đấng Thượng đế quyền năng
siêu nhiên kiểm soát anh ta. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng
đắc quả vị giác ngộ, những thành tựu và những kết quả
nhờ vào những nỗ lực tu tập lớn lao và trí tuệ của chính
Ngài.
Phật giáo
dạy rằng sự may mắn hay bất hạnh, thành công hay thất bại
là do những hành động-nghiệp cá nhân người ấy quyết định,
tuỳ theo nghiệp thiện hay ác và những nỗ lực của chính
bản thân vị ấy. Ðức Phật có thể chỉ cho vị ấy con
đường song chính bản thân vị ấy phải đi trên con đường
ấy. Trong Phật giáo, không có một chúng sanh nào cao thượng
hơn giống như Thượng đế cao hơn tất cả những con người
khác. Ðức Phật là một con người và chính con người này
có thể trở thành một vị Phật.
PHẬT QUẢ
NHỜ VÀO SỰ TU TẬP MỚI CÓ THỂ ÐẠT ÐƯỢC CHỨ KHÔNG PHẢI
TỰ NHIÊN SANH RA.
Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni cũng như tất cả chúng ta, là con người bình
thường. Nhờ vào trí tuệ và sự tu tập của Ngài, Ngài giác
ngộ và thành Phật. Mỗi con người có thể dẫm bước chân
theo gót của Ngài để thực hành những lời dạy của Ngài
và giác ngộ.
“Buddha”
chỉ là một thuật ngữ chúng ta dùng để liên hệ đến một
con người đã giác ngộ. Giống như chúng ta liên hệ đến
một ai đó có khả năng “thuyết giảng, hướng dẫn và giải
quyết những vấn đề” như là bậc thầy. Không chỉ có
duy nhất một bậc thầy. Mỗi người đều có thể thành thầy
và có thể có nhiều vị thấy ở khắp mọi nơi. Tương tự
như vậy, Phật không chỉ liên hệ đến một mình đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Có thể chư Phật hiện hữu ở khắp mọi
nới, ở thế giới này, ở thế giới khác và ở vũ trụ
khác.
PHẬT
GIÁO KHÔNG CHỐNG LẠI NHỮNG TÔN GIÁO KHÁC.
Hầu hết
những tôn giáo trên thế giới chỉ công nhận tôn giáo của
họ là tôn giáo chân thật duy nhất và chống lại tất cả
những tôn giáo khác và cho đó là tôn giáo mê tín dị đoan.
Phật giáo
dạy rằng trong tất cả những tôn giáo trên thế giới, chỉ
có một sự khác biệt duy nhất trong sự đa dạng của hệ
thống giáo lý, còn điểm khác biệt về cái tốt và cái xấu,
cái đúng và cái sai dường như rất ít. Mỗi tôn giáo có
thể tồn tại trên thế gian này hơn 1000 năm ắt hẳn mang
lại những lợi ích cho nhân loại, phải được thừa nhận
và thực hành theo trong một thời gian lâu dài. Nếu không thì
những tôn giáo này ắt sẽ bị trí tuệ nhân loại thanh lọc
và loại bỏ dần.
Trong hơn
2500 năm lịch sử Phật giáo, tôn giáo này luôn luôn tồn tại
trong tinh thần hài hoà với những tôn giáo khác. Không có
một sự kiện nào trong lịch sử nơi mà sự truyền bá hoặc
thuyết giảng giáo lý Phật đà đã tạo ra những sự xung
đột với những tôn giáo khác để lại kết quả những cuộc
chiến đẫm máu. Phật giáo đích thực là một tôn giáo khoan
dung nhất, hiểu biết nhất và hoà bình nhất.
Người Phật
tử được giáo dục: “Không nên chỉ tôn trọng tôn giáo
của chính mình và phỉ báng tôn giáo của những người khác
mà các vị phải tôn trọng tôn giáo của những người khác.
Bằng thái độ như vậy ngoài việc giúp cho tôn giáo của
chính mình phát triển mà các vị còn hoàn thành trách nhiệm
của mình đối với những tôn giáo khác. Nếu ngược lại,
trong khi làm hại đến tôn giáo của những người khác, các
vị cũng đang làm hại đến tôn giáo của chính mình”.
Thái độ khoan dung và thành thật này là một trong những đặc
tính quý giá nhất của Phật giáo.
Theo triển
vọng của Phật giáo, niềm tin chân thật không có giới hạn
biên giới của quốc gia và nó không yêu cầu nhãn hiệu đăng
ký của tôn giáo. Nó cũng không là tài sản riêng của bất
kỳ một tôn giáo nào hoặc là của bất cứ một cá nhân
nào trong một thời điểm nhất định nào. “Giáo lý chân
thật do đức Phật thuyết giảng không phải là sở hữu dành
riêng cho Ngài, Ngài chỉ đơn giản là một người đã khám
phá ra chân lý. Cũng giống như trường hợp Newton đã khám
phá ra trọng lực, chứ ông không sở hữu quy luật đó.
Ðó là lý
do tại sao đạo Phật dạy rằng tất cả những học thuyết
duy lý và vĩnh cữu của bất kỳ một tôn giáo nào cũng được
xem như là những nguyên lý Phật giáo và nhiều nguyên lý Phật
giáo cũng là một phần của những giáo lý của những tôn
giáo khác.
“Hãy
yêu thương kẻ thù của bạn” xuất phát từ Thánh Kinh
của Cơ đốc giáo. Phật giáo chấp nhận chân lý này mà không
cần giải thích và chân lý này cũng được nhấn mạnh theo
một cách tương tự trong giáo lý của Phật giáo. Một số
điều trong mười điều răn của Cơ đốc giáo cũng tương
tự như Năm giới của Phật giáo.
PHẬT
GIÁO TƯƠNG XỨNG VỚI KHOA HỌC
Không có
một sự xung đột nào xảy ra giữa Phật giáo và khoa học
và mục đích chung của Phật giáo và khoa học là theo đuổi
“chân lý” và “sự kiện”. Nhiều điểm trong giáo lý
của đức Phật thật tương xứng với những phát minh của
khoa học hiện đại.
a. Ðức Phật
dạy: “Không gian không có điểm kết thúc và có vô số
hằng hà sa số thế giới”. Ðiều này có nghĩa là vũ
trụ không có sự hạn chế và có vô số ngôi sao và hành
tinh.
Chính chỉ
sau khi nhà thiên văn Galileo bắt đầu quan sát những vì sao
bằng một kính thiên văn mà con người có sự hiểu biết
cao hơn về vũ trụ. Con người bắt đầu hiểu và chấp nhận
rằng trái đất không phải là trọng tâm của vũ trụ. Trái
đất chỉ là một hành tinh nhỏ trong hệ thái dương
này và vũ trụ có vô số hệ thái dương.
Hơn 2500 trước
đây, không có kính thiên văn, đức Phật đã cho chúng ta biết
về vô số vũ trụ và vô số vì sao không thể tính được
trên bầu trời. Ngài thực sự là một con người trí đã
giác ngộ để mô tả chân lý về những bí mật vô cùng to
lớn của vũ trụ.
b. Ðức Phật
cũng nói về vô số sự sống trong vũ trụ này và ở những
thế giới khác. Ngài chỉ trong một ly nước và nói rằng
có 84 nghìn mạng sống ở trong nước (84.000 tượng trưng cho
một số lượng lớn).
Ngày nay các
khoa học gia không thể từ chối khả năng của sự hiện hữu
sự sống trong những vì sao và những hành tinh khác. Dưới
một kiến hiển vi, một ly nước có hàng triệu tiểu sinh
vật sống. Hơn 2500 năm trước đây khi mà đức Phật tiết
lộ một sự kiện chính xác như thế mà không cần kính hiển
vi thì chắc chắn rằng Ngài có một trí tuệ tuyệt vời làm
người ta kinh ngạc.
c. Một trong
những nguyên lý của Phật giáo cho rằng không có gì đứng
yên, không thay đổi, vật chất có thể bị huỷ diệt và
có thể được tạo ra.
Nguyên lý
này mâu thuẫn với những lý thuyết khoa học mãi cho đến
khi thuyết nguyên tử của nhà vật lý học Albert Einstein E=MC2
chứng minh rằng vật chất có thể được chuyển đổi thành
năng lượng (vật chất biến mất) và vật chất cũng có thể
được tạo ra từ năng lượng (sự tạo ra vật chất).
d. Ðức Phật
có lần nói rằng thời gian để Ngài thuyết xong một bài
pháp trên thế gian này, thì hàng nghìn năm trôi qua ở một
thế giới khác. Câu chuyện dường như không thể tin được
này dường như không còn là quá vô lý nữa sau khi nhà vật
lý học Einstein phát minh ra Thuyết tương đối.
Trong lịch
sử nhân loại, khoa học đã được xem như là một sự đe
doạ đối với những quan điểm của tôn giáo về con người
và vũ trụ từ thời của Galileo, Bruno và Copernicus, những
người rất có công trong việc làm thay đổi những ý niệm
sai lầm về vũ trụ. Thuyết tiến hoá và ngành vật lý học
hiện đại đã xung đột với những nguyên lý được thừa
nhận của nhiều tôn giáo liên quan đến vấn đề con người
và tâm thức của anh ta như đã được ghi lại trong “thánh
điển” của họ. Tuy nhiên, những nguyên lý cơ bản của
Phật giáo lại hoà hợp với những phát hiện của khoa học
và không chống đối với khoa học tý nào.
Vào ngày
19 tháng 05 năm 1939, Albert Einstein, khoa học gia vĩ đại của
thời đại nguyên tử, đã đọc một bài diễn thuyết rất
chú ý về đề tài: “Khoa học và tôn giáo” tại Princeton,
New Jersy, Hoa Kỳ. Ông cho rằng: “Không có sự xung đột giữa
khoa học và tôn giáo, khoa học yêu cầu thế giới là gì và
tôn giáo hỏi con người và xã hội nên trở thành gì? Einstein
đánh giá cao về Phật giáo: "Tôn giáo của tương lai sẽ
là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh,
Thượng đế cá nhân, không giáo điều và thần học.
Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn
siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát
xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong
cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng
được các điều kiện đó". (The religion of the future will be
a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and
theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based
on a religious sence, arising from the experience of all things, natural
and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description).
Ðồng thời,
một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một
tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện
đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại
quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá
mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan
điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo
bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học". (If there
is any religion that would cope with modern scientific needs, it would
be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent
scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because
it embrances science as well as goes beyond science).
Ngoài Einstein
ra còn có những triết gia, khoa học gia, sử gia, tâm lý gia
và những tư tưởng của thời đại tân tiến như H.G.Wells,
Betrand Russel, Aldous Huxley, C.G Jung, Erich Fromm v.v....đánh giá
rất cao về Phật giáo.
Khoa học
mà không có luân lý đạo đức báo hiệu sự huỷ diệt. Khoa
học kết hợp với tôn giáo như Phật giáo có thể cứu sống
được thế giới và kiến tạo một thế giới hạnh phúc
cho nhân loại trú ngụ. Quan trọng hơn, Phật giáo còn tiến
xa hơn những giới hạn của khoa học.
PHẬT GIÁO
LÀ TÔN GIÁO DAÂN CHỦ VÀ TỰ DO
Trong một
số tôn giáo khác, những lời nói (giáo lý) do bậc sáng lập
nói ra là những ‘mệnh lệnh’ không thể bị từ chối và
‘chân lý phúc âm’ không thể bị hoài nghi. Bất cứ ai hoài
nghi hay không tuân theo phúc âm thì sẽ bị Thượng đế “trừng
phạt”. Có một số mẩu chuyện nói về “thánh kinh” trong
một số tôn giáo khác cho rằng con người bị Chúa trừng
phạt nghiêm khắc bởi vì họ không tuân theo những mệnh lệnh
của Chúa.
Trong kinh
điển Phật giáo, đức Phật không bao giờ bày tỏ thái độ
giận giữ. Ðức Phật cũng không đưa ra những hình phạt.
Trong một khoảng thời gian 45 năm thuyết giảng, Ngài luôn
luôn biểu hiện thái độ tử tế, điềm đạm, thanh tịnh
và vắng lặng đối với cả người tốt lẫn người xấu.
Ðức Phật
không bao giờ ép buộc đệ tử Ngài phải chấp nhận giáo
lý của Ngài. Ngài thường xuyên khích lệ họ hãy bày tỏ
sự hoài nghi và chất vấn. Ngài nói: “nghi ngờ ít sẽ
dẫn đến kết quả là giác ngộ chậm, chỉ có nghi ngờ càng
nhiều, càng lớn thì sự giác ngộ càng cao, càng lớn, không
có nghi ngờ thì không có sự giác ngộ”.
Trong những
ngày cuối cùng của mình, đức Phật giáo huấn chư đệ tử
Ngài: “Ta không bao giờ nghĩ các vị là học trò hoặc
là đệ tử của ta. Ta chỉ là một trong số các vị, thường
xuyên thân cận với các vị. Ta không bao giờ ép buộc ai phải
lắng nghe ta nói và Ta không muốn ai phải tuân theo mệnh lệnh
Ta”. Thật là một điều tuyệt vời và cảm kích làm
sao!
Người ta
không thể ép buộc phải chấp nhận niềm tin chân chánh. Họ
không thể được thuyết phục để chấp nhận những gì mà
họ không hiểu hoặc là những gì họ không thích. Ðó là
một hành vi mang tính chính trị chứ không phải mang tính tôn
giáo. Niềm tin chân chánh sẽ chỉ có ảnh hưởng và
phát triển dưới môi trường dân chủ và hoàn toàn tự do.
Sau những tư duy thận trọng và sự phân biệt được lặp
đi lặp lại thì tinh thần và giá trị của niềm tin chân
chánh sẽ thực sự chói sáng.
Trong Phật
giáo, tinh thần cho phép và khích lệ người tín đồ tự do
hoài nghi, chất vấn hoặc là thâm chí khám phá những lời
dạy của bậc thầy sáng lập tôn giáo của họ, chắc chắn
sẽ là một tinh thần độc nhất vô nhị trong số tất cả
những tôn giáo trên thế giới. Trong số tất cả những tôn
giáo lớn trên thế giới, chỉ có bậc sáng lập Phật giáo
và kinh điển Phật giáo cho phép người ta hoài nghi, thảo
luận, chất vấn và khám phá. Phật giáo mời gọi người
ta đến để nghiên cứu Phật giáo với tinh thần nghiên cứu
tìm tòi, có tính cách độc lập tự chủ và với trí tuệ.
Phật giáo
mời gọi tất cả mọi người hãy đến và chính mình chứng
kiến và cho phép họ chấp nhận những gì chỉ là sự thật,
phù hợp với lý trí, logic và chân lý. Phật giáo khích lệ
người tìm kiếm chân lý hãy bác bỏ những gì gọi là tin
đồn, niềm tin mù quáng, thần thông và quyền thuật. Những
nguyên lý của Phật giáo mời gọi sư chỉ trích và kiểm
nghiệm. Do vậy, Phật giáo là một nhân tố hấp dẫn nhất
và thu hút nhất đối với đầu óc của những con người
trong thời đại tân tiến.
Note: (*)
Bài viết này được trích trong cuốn “Buddhism You Too Can Understand”
của Yat-Biu Ching.
WP: Thanh
Tâm
