Tất
cả nhân loại đều muốn được hạnh phúc. Tất cả đều
tìm cầu hạnh phúc. Sự tìm cầu hạnh phúc của con người
đã kéo dài tiếp nối từ đời này sang đời khác nhưng
không bao giờ tìm thấy theo phương cách mà hạnh phúc được
tầm cầu và đó chỉ là một cách thích nghi với những điều
kiện của thế giới khách quan bên ngoài mà quên đi thế giới
nội tâm. Lịch sử của thế giới đã chứng minh điều này.
Nhưng công cuộc cải cách xã hội, kinh tế, luật pháp, chính
trị, cho dù chúng nhằm đến mục đích nào đi nữa,
cũng không bao giờ mang lại niềm hạnh phúc hoàn toàn
và chân thật cho con người. Tại sao?
Khi con người
đã giải thoát khỏi hàng loạt các điều kiện, khổ đau
khác ngóc đầu lên và khi khổ đau đó được đoạn trừ
khi những cái khác cứ tiếp tục xuất hiện. Sự xuất hiện
và tái xuất hiện, sự thăng trầm này là bản chất của
tất cả các hiện tượng thế gian. Sẽ không bao giờ
có được một niềm hạnh phúc chân thật cho đại đa số.
Nó là một gì thuộc riêng tư và cá nhân. Nó bắt nguồn từ
bên trong chứ không ở thế giới bên ngoài.
Con người
sẽ tìm thấy hạnh phúc nhiều hơn ở thế giới nội tâm
so với thế giới bên ngoài.
Khoa
học hiện đại tuyên bố rằng không có điều gì trong vũ
trụ này là tĩnh tại. Mọi thứ đều năng động, mọi thứ
đều ở trạng thái chuyển động. Không có gì đứng yên
tại một chỗ. Chúng ta trở nên tốt đẹp hơn và hạnh phúc
hơn hoặc là đi theo con đường xấu xa tội lỗi và do vậy
buồn rầu khổ đau ngày càng tích lũy nhiều. Ðể được
hạnh húc phải vượt qua buồn rầu khổ đau, Ðức Phật
đã chỉ ra cho nhân loại con đường đưa đến sự đoạn
tiệt tất cả các buồn rầu khổ đau.
Con đường
đưa đến sự hạnh phúc là Bát Thánh đạo. Con đường này
phải được chúng ta thực hành, tu tập trước khi nó được
gọi là con đường. Có một cái gì cổ hữu trong từ “con
đường” một ý tưởng mà chúng ta đã thực hành nó trước
kia.
Một
con đường không thể hiện hữu môt cách ngạc nhiên. Trước
tiên chúng ta phải chặt cây, dọn đường và khai phóng nó
rồi dạo trên nó. Tương tự như vậy, Bát Thánh đạo
được thực hành trước đây bởi vô lượng Ðức Phật trong
quá khứ. Trước kia con đường này cũng được chư vị Bồ
Tát và A-la-hán thực hành tu tập. Ðức Phật chỉ khám phá
con đường chứ Ngài không tạo ra nó, bởi vì nó đã hiện
hữu từ vô lượng kiếp về quá khứ. Thực sự nó là môt
con đường cổ xưa.
Bát
Thánh đạo là một con đường phải được thực hành, tu
tập. con đường này rất thiết thực trong cuộc sống của
chúng ta. Ðể hiểu và chứng nghiệm chân lý, chúng ta phải
thực hành con đường này.
Con đường
này bao gồm một sự sưu tập cẩn thận và khôn khéo của
tất cả các điều kiện quan trọng tiên quyết, cần thiết
cho sự phát tiển tâm linh của chúng ta.
Bát
Thánh đạo được chia làm 3 nhóm nhỏ:
Giới
(sila), Ðịnh (samadhi) và Tuệ (panna). Con đường này là
độc nhất vô nhị của Phật giáo và nó là nhân tố cơ bản
để phân biệt vơí những tôn giáo và triết học khác. Chính
qui tắc của Phật giáo về sự tu tập tâm linh và vật lý
mới có thể đưa đến sự chấm dứt đau khổ, buồn rầu,
thất vọng và đưa đến sự an lạc tuyệt đối, Niết-bàn.
Tám
yếu tố của con đường là:
1. Chánh
kiến (samma-ditthi)
2. Chánh
tư duy (samma-samkappa)
3. Chánh
ngữ (samma-vaca)
4. Chánh
nghiệp (samma-kammanta)
5. Chánh
mạng (samma-ajiva)
6. Chánh
tinh tấn (samma-vayama)
7. Chánh
niệm (samma- sati)
8. Chánh
định (samma-samadhi)
Liên quan
đến con đường này trong bài pháp đầu tiên tại vườn Nai,
Ðức Phật gọi con đường này là Trung đạo (Majjimha patipada)
bởi vì nó tránh xa hai cực đoan: tham đắm vào dục lạc,
thuộc hạ liệt thấp hèn, đưa đến nguy hại là một cực
đoan; tự ép xác trong việc tu tập khổ hạnh, đau đớn, thấp
hèn và đưa đến nguy hại là một cực đoan khác.
Phải luôn
ghi nhớ trong tâm rằng từ “con đường” chỉ là một thuật
ngữ mang nghĩa bóng . Mặc dù theo qui ước thông thường chúng
ta nói về việc thực hành một con đường, theo ý nghĩa
tuyệt đối, 8 bước có nghĩa là 8 yếu tố tâm linh. Chúng
thì tương quan tương duyên với nhau, và ở cấp độ cao nhất,
chúng đồng thời hoạt động; và chúng không được tu tập
thực hành từng cái một theo số thứ tự. Thậm chí ở cấp
độ thấp nhất mỗi một yếu tố nên được kết hợp
một ít với một vài mức độ của chánh kiến; bởi vì chánh
kiến là yếu tố chủ đạo trong Ðạo Phật.
Ðức Phật
dùng ngôn ngữ mạnh mẽ để cảnh báo cho chư đệ tử Ngài
đề phòng thái độ chỉ chú trọng vào việc học sách vở
lý thuyết như vầy:
“Dù
tụng đến ngàn câu kệ vô nghĩa,
Chẳng
bằng một cậu kệ có nghĩa lý,
Nghe
xong tâm liền tịch tịnh”. (PC-101)
Mặc dù anh
ta tụng chỉ một vài câu kệ, kinh điển, nhưng hành theo giáo
pháp; từ bỏ tham, sân, si, có chánh kiến, tâm của anh ta hoàn
toàn được giải thoát và không chấp thủ ở đời này và
đời sau; thì nhất định anh ta liền được qủa vị của
một vị tâm được tịch tịnh.
Sự chứng
đắc mục tiêu cuối cùng của Ðạo Phật-Niết-bàn (Nibbàna)
không đòi hỏi một sự thấu hiểu nền triết lý thâm uyên
và khó hiểu của đạo Phật. Những gì được yêu cầu, đòi
hỏi một sự phát triển tiếp tục của tâm thông qua một
quá trình tu tập tâm hành giả có thể đạt được tri
kiến đưa đến sự giải thoát, Ðức Phật đã tuyên bố.
GIỚI LUẬT
(SILA)
Giới luật
được căn cứ trên cơ sở tình thương và lòng từ bi, bao
gồm 3 yếu tố trong Bát Thánh đạo chính là: Chánh ngữ, Chánh
nghiệp và Chánh mạng.
Ðức Phật
tuyên thuyết giáo pháp của Ngài “vì lợi ích của của
số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng
cho đời”.
Giới (sila)
giai đoạn đầu tiên của con đường được hình thành trên
cơ sở tình thương, lòng từ bi. Tại sao chúng ta nên tránh
làm hại và cướp lấy của người khác? Ðó có phải là
tình thương cho chúng ta và những người khác chăng? Tại sao
chúng ta cứu giúp, bố thí người nghèo, người bần cùng
cần sự giúp đỡ, và những kẻ rơi vào cảnh khốn cùng?
Ðó có phải là tình thương của chúng ta dành cho họ chăng?
Tránh làm
các điều ác, làm các điều lành là chức năng của giới,
là nguyên tắc tu tập giới được dạy trong Phật giáo. Chức
năng này thì không bao giờ vắng mặt tình thương lòng từ
bi. Giới bao hàm những phẩm chất của tâm như tình thương,
khiêm nhường, khoan dung, cảm thông, lòng độ lượng và hạnh
phúc đối với sự thành đạt của những người khác.
Theo Phật
giáo để cho một người được hoàn hảo có hai phẩm chất
mà anh ta nên tu tập ngang bằng với nhau: một là từ bi; hai
là trí tuệ. Từ bi ở đây biểu trưng cho tình thương, lòng
độ lượng, khoan dung, tử tế và những phẩm chất cao quý
như thế thuộc về mặt tình cảm, cảm xúc hoặc những phẩm
chất của tâm. Nếu chúng ta chỉ tu tập, phát triển
mặt cảm xúc tình cảm mà quên đi mặt tri thức, thì chúng
ta có thể ttrở thành một người tốt bụng nhưng ngu xuẩn,
không có trí, ngược lại, nếu chỉ tu tập phát triển mặt
trí thức, tuệ mà lãng quên đi mặt tình cảm thì có
thể trở thành một con người có trí nhưng lòng dạ cứng
rắn, sắt đá, không có cảm xúc đối với những người
khác. Do đó, để trở nên hoàn hảo chúng ta nên tu tập cả
hai yếu tố ngang nhau.
Chánh
Ngữ có nghĩa là tránh né không:
· Nói vọng
ngữ;
· Nói đâm
thọc, nói nhảm nhí, lời nói có thể mang lại sự câm hận,
thù địch, sự chia sẻ và bất hòa giữa những cá nhân hoặc
nhóm người .
· Nói
ác khẩu, thô lỗ, mất lịch sự, và lăng mạ xỉ nhục.
· Tán gẫu
vô ích nhảm nhí, nhàn rỗi và phí thời gian.
Khi chúng
ta tránh né những lời nói sai lầm và tai hại này, thì tự
nhiên chúng ta phải nói sự thật, phải dùng từ ngữ,
câu cú thân thiện và nhân đức, dễ chịu và nhã nhặn,
có ý nghĩa và hữu ích. Chúng ta không nên phát ngôn cẩu thả:
nói đúng nơi, đúng lúc không nên không phải thời mà nói.
Nếu chúng ta không thể nói ra điều gì hữu ích thì nên giữ
"sự im lặng của bậc Thánh".
Chánh Nghiệp
là tránh:
· Sát sinh;
· Trộm
cắp của không cho, và
· Tham đắm
vào quan hệ tình dục bất chính. Do vậy, chúng ta phải tu
tập từ bi, chỉ lấy những gì khi được cho phép, sống phạm
hạnh và giản dị.
Chánh
Mạng có nghĩa là từ bỏ lối sống tà ma nó mang lại
sự tai hại và khổ đau cho tha nhân:
· Mua bán
trái phép khí giới và vũ khí hạt nhân nguy hiểm
đến tính mạng con người;
· Mua bán
các loại động vật có thể giết lấy thịt;
· Mua bán
trái phép con người thường là nô lệ, rấùt thịnh hành
ttrong thời kỳ của Ðức Phật;
· Các thứ
chất men rượu và thuốc độc;
Và sống
cuộc sống chân chánh bằng nghề nghiệp không thể chê trách
được và không làm hại mình và tha nhân. Chúng ta có thểà
nhìn thấy rõ ràng ở nơi đây rằng Phật giáo phản đối
mạnh mẽ bất kỳ loại chiến tranh nào, khi Phật giáo đưa
ra rằng việc kinh doanh khí giới và các loại vũ khí giết
người là một tội ác và phi phương tiện của cuộc sống.
Chúng ta
nên nhận ra rằng đạo đức và luân lý của Phật giáo nhằm
mục đích đề cao cuộc sống hạnh phúc và hòa hợp cả cho
cá nhân và cho xã hội. Nền đạo đức luân lý này được
xem như là một nền tảng không thể thiếu được cho sự
chứng đắc cao hơn về mặt tâm linh. Không có một sự phát
triển tâm linh nào có thể đạt được mà không cần đến
nền tảng tâm linh này. Những nguyên tắc luân lý này nhắm
đến xây dựng xã hội an toàn bằng cách đẩy mạnh sự hợp
nhất, hài hòa và những mối quan hệ chân chánh giữa con người
với con người.
Trong Phật
giáo, luân lý đạo đức không phải là một cứu cánh xét
về bản thân. Nhưng nó là một phương tiện để đạt đến
sự giải thoát cức cánh. Nền luân lý hoàn hảo tách rời
khỏi một mục tiêu, không được hướng đến sự giải thoát
cứu cánh được mong muốn, chỉ có một ý nghĩa tương đối
theo quan điểm của Phật giáo. Không chỉ ác mà còn thiện
phải được vượt quá. Thậm chí giáo lý của Ðức Phật
cũng phải siêu việt. Ðức Phật so sánh giáo pháp của Ngài
giống như một chiếc bè được chúng ta dùng để vượt qua
bờ bên kia một cách an toàn và không phải dùng nó cho mục
đích nắm vát trên vai mà đi.
Một khi
chúng ta đã đạt đến bờ bên kia, chúng ta không phải mang
chiếc bè trên vai mà đi chiếc bè phải được bỏ lại.
ÐỊNH
(SỰ TỤ TẬP TAÂM LINH-MENTAL DISCIPLINE)
Tiếp
đến là định, bao gồm 3 yếu tố khác trong Bát Thánh đạo
chính là: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Chánh
Tinh Tấn là cố gắng chơn chánh, chi thứ 6 của Bát Thánh
đạo, chia làm bốn:
· Cố gắng
ngăn chặn cái ác và bất thiện pháp chưa phát sinh trong tâm
của chúng ta.
· Cố gắng
ngăn chặn cái ác bất thiện pháp đã phát sinh.
· Nỗ lực
thúc đẩy và phát triển cái thiện pháp đã hiện hữu.
Do vậy,
chức năng của tinh tấn phải cảnh giác, thận trọng và kiểm
tra tất cả các pháp bất thiện, và tu tập, thúc đẩy và
duy trì các thiện pháp và tư duy thanh tịnh phát sinh trong tâm
của chúng ta.
Một
con người khôn khéo có trí, kiềm chế được lời nói và
hành động về thân của anh ta, thông qua giới luật, luôn
nỗ lực xem xét tỉ mỉ những tư duy suy nghĩ của anh ta, những
yếu tố tâm linh và tránh những tư duy điên cuồng.
Chánh
Niệm là tỉnh giác, chánh niệm và chú tâm liên quan đến:
· Những
hành động của thân (kaya);
· Các cảm
thọ (vedana);
· Những
hành động của tâm (cita) và
· Ý tưởng
tư duy, khái niệm và các pháp.
Việc
thực hành tập trung vào hơi thở là mộât trong những bài
thực hành rất phổ biến và được nhiều người biết đến,
liên quan đến thân, cần thiết cho sự phát triển của tâm
linh. Có nhiều phương pháp khác nhau để tu tập phát tiển
chánh niệm trong mối liên hệ với thân thể.
Liên
quan đến các cảm thọ, chúng ta nên chú ý tỉnh thức về
tất cả các hình thức, loại cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ, và chú ý về sự xuất hiện và
biến mất của các cảm thọ này ngay chính trong thân của
chúng ta.
Liên
quan đến những hành động của tâm chúng ta nên ý thức liệu
tâm có tham hay không tham, có sân hay không sân, có si hay không
si tán loạn hay định-Theo cách này, chúng ta nên ý thức tất
cả các sự chuyển động của tâm, và chúng sanh khởi và
đoạn diệt như thế nào.
Ðối
với các ý tưởng, tư duy,khái niệm và các pháp chúng ta nên
biết được bản chất của chúng, chúng xuất hiện và biến
mất như thế nào, chúng được tu tập như thế nào, chúng
được kiềm chế và hủy diệt như thế nào...
Yếu
tố thứ 3 và cũng là yếu tố cuối cùng của định là chánh
định đưa đến thiền thứ 4.
Ở
thiền thứ nhất, tham và các ác bất thiện pháp như tham dục,
sân hận, trạo cử, hôn trầm, và nghi được đoạn trừ và
các cảm thọ của hỷ lạc được duy trì, cùng với một
vài hành động của tâm. Ở thiền thứ 2, tất cả các hoạït
động của tri giác bị đè nén, chỉ còn khinh an và nhất
tâm và các cảm thọ hỷ lạc vẫn còn được duy trì. Ở
giai đoạn thiền thứ 3, cảm giác hỷ thọ, một cảm giác
năng động cũng biến mất, trong khi đó bản chất của lạc
vẫn còn duy trì cộng với xả niệm thanh tịnh. Ở thiền
thứ 4, tất cả các cảm thọ, lạc thọ và khổ thọ, hỷ
và buồn rầu đều tan biến chỉ còn xả niệm thanh tịnh
và tỉnh giác được duy trì.
Do vậy,
tâm được tu tập, định phát triển nhờ vào Chánh tinh
tấn, Chánh niệm và Chánh định.
TUỆ (PANNA)
Hai yếu
tố còn lại là Chính kiến và Chánh tư duy hình thành
nên Tuệ.
Tư duy bao
gồm tư duy xuất thế, tư duy thiện ý và tư duy từ bi, vô
hại. Những tư duy này phải được trau dồi tu tập và hướng
đến tất cả các loại chúng sinh, không phân biệt màu da,
chủng tộc, giai cấp tầng lớp. Bởi vì chúng bao hàm tất
cả các loài có sự sống không có giới hạn thỏa thuận
nào cả. Sự tỏa chiếu những tư duy cao thượng, thánh thiện
như thế thì không thể xảy ra đối với những ai có tâm
ích kỷ và coi trọng bản thân mình.
Một con người
có thể thông minh, uyên bác và có học thức, nhưng nếu anh
ta thiếu đi chánh tư duy, thì theo lời dạy của Ðức Phật,
anh ta là một người ngu, chứ không phải là mộât người
có sự hiểu biết vềø tri kiến. Nếu chúng ta nhìn các pháp
với một khả năng suy xét chính xác ly tham, thì chúng
ta sẽ hiểu rằng ước muốn ích kỷ, sân hận và bạo lực
không thể đi cùng với trí tuệ chân thật. Chánh kiến hoặc
trí tuệ chân thật thì luôn luôn có sự hiện hữu của chánh
tư duy và không bao giờ vắng mặt được.
Chánh kiến
và sự hiểu biết về các pháp, các sự vật đúng với thực
tại chúng đang là, và đó chính là Tứ Thánh đế cắt
nghĩa, giải thích thật tướng của các pháp. Do đó, Chánh
kiến được giảm thiểu đến mức tột cùng là sự hiểu
biết về Tứ Thánh đế. Sự hiểu biết này, cái nhìn này
là trạng thái trí tuệ cao nhất mà có thể nhìn
thấy được thực tại tối hậu.
Theo Phật
pháp, có 2 loại kiến. Những gì chúng ta thường gọi
“kiến” là tri thức, sự hiểu biết, một trí nhớ
được tích lũy, sự nắm bắt một chủ đề theo một dữ
liệu đã cho nào đó. Cái này được gọi là “biết theo”
(knowing accordingly). Nó không uyên thâm lắm. Sự hiểu biết
thực sự uyên thâm được gọi là sự thể nhập (penetration),
nhìn thấy các pháp đúng như chân bản chất của chúng không
có một danh xưng hay nhãn hiệu nào. Sự thể nhập này chỉ
có thể khi tâm được hoàn toàn thanh tịnh, không cấu uế
và được phát triển hoàn toàn nhờ vào thiền định.
Chánh kiến
hay trí tuệ thể nhập là kết quả của quá trình hành thiền
không gián đoạn và kiên cố, hoặc là sự tu tập tâm một
cách cẩn thận. Ðối với người có chánh kiến thì không
thể có những quan điểm, cái nhìn về sự vật hiện tượng
bị mây vô minh che phủ; bởi vì anh ta đã giải thoát khỏi
các nhiễm ô, bất định và đã chúng đắt tâm giải
thoát bất động.
Hãy Ði
Ðúng Con Ðường
Những lời
dạy của Ðức Phật về con đường này giải thích chức
năng và mục đích của việc tu tập Giới (sila), Ðịnh (samadhi)
và Tuệ (panna). Giải thoát tự do có nghĩa là kinh nghiệm sống
không có sự hiện hữu của giặc tam độc: tham lam, sân hận
và si mê (lobha, dosa và moha) tấn công tâm của chúng ta. Nhưng
giặc tam độc này được đoạn trừ, nhổ sạch nhờ
vào sự tu tập tam vô lậu học: Giới- Ðịnh và Tuệ.
Do vậy, rõ
ràng là những lời dạy của Ðức Phật nhắm đến sự thanh
tịnh hóa cao nhất, một trạng thái sức khỏe tinh thần hoàn
hảo, tự do giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Trong hiện
tại sự giải thoát khỏi các lậu hoặc của tâm, sự tự
do khỏi các bệnh tật của thân và tâm tùy thuộc tuyệt đối
và hoàn toàn vào mỗi người, chứ không một ai khác, là con
người hay các thiên thần. Thậm chí một Ðức Phật tối
thượng cũng không thể cứu giúp con người ra khỏi các kiết
sử của hiện hữu ngoại trừ cách chỉ cho anh ta một con
đường. Con đường của Giới-Ðịnh-Tuệ. Ðôi khi còn được
liên hệ đến như là một sự tu tập tam vô lậu học và
không có cái nào trong chúng tự thân là cứu cánh giải thoát;
mỗi yếu tố trong đó là phương tiện để đạt đến giải
thoát cứu cánh. Một yếu tố trong tam vô lậu học không thể
hoạt động tách rời, riêng biệt với hai yếu tố còn lại.
Như trong trường hợp một cái kiềng ba chân bị mất đi một
chân thì không thể đứng vững được, ở đây cũng vậy
mộât yếu tố không thể hoạt động mà không có sự hổ
trợ của các yếu tố khác. Ba yếu tố này đi với nhau và
hỗ trợ lẫn nhau. Giới củng cố Ðịnh, và ngược lại Ðịnh
thúc đẩy Tuệ phát triển. Tuệ giúp cho chúng ta đoạn trừ
kiến bị vô minh che khuất nhìn thấy đời và tất cả
các pháp liên quan đến cuộc đời khi chúng sinh khởi
và hủy diệt.
Thay vì những
tri thức khoa học, nhân loại trên thế giới càng ngày càng
trở nên bất an, lo lắng và có cảm giác sợ hãi và bất
mãn. Họ say sưa với ước muốn để đạt được danh vọng,
giàu có quyền lực và hài lòng với những ý nghĩa đó.
Ðối với
thế giới phiền nhiễu, ô trược này vẫn còn đầy dẫy
sân hận, ích kỷ nghi ngờ và bạo lực, đúng lúc nhất cho
chúng ta truyền bá thông điệp của Ðức Phật về tình thương
và sự hiểu biết, bát thánh đạo đưa đến sự chứng
đắc an lạc- Niết-bàn cho nhân loại học hỏi.
Duy chỉ
có trí thức về con đường, cho dù hoàn hảo đến đâu đi
nữa cũng sẽ không thể được an lạc. Trong trường hợp
này, nhiệm vụ của chúng ta là phải thực hành và duy trì
nó.
Con đường
thì thực sự khó hành, nhưng nếu chúng ta, với nỗ lực tinh
tấn thường xuyên, và hoàn toàn tỉnh giác, đi trên con
đường và theo dõi từng bước chân của chúng ta, thì một
ngày nào đó chúng ta sẽ đạt đến điểm đích. Một đứa
trẻ tập đứng và đi dần dần. Cũng vậy tất cả chúng
ta phải đi từng bước một từ thất bại nhiều lần cho
đến thành công cuối cùng. Ðó là một con đường đưa
đến sự chứng đắc thực tại tối hậu, hoàn toàn tự do,
giải thoát qua sự thành đạt mỹ mãn của Giới-Ðịnh-Tuệ.
Tóm lại,
chúng ta có thể nhìn thấy rằng đó là một con đường của
cuộc sống phải được tu tập, thực hành và phát triển
bởi mỗi cá nhân. Ðó là một sự kiềm chế thân nghiệp,
khẩu nghiệp và ý nghiệp, tự phát triển và thanh tịnh hóa.
Nó là một con đường độc nhất không liên quan gì đến
niềm tin cầu nguyện, thờ phụng hoặc lễ nghi tôn giáo.
WP: Thanh
Tâm
