Thuyết
Sáng thế và Vũ trụ học không đơn thuần chỉ là
quá trình tiến hóa sinh học đã đặt ra những thách thức
trong quan điểm Thiên chúa giáo truyền thống. Những hiểu
biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm
suy giảm đức tin tâm linh của con người. Trong cuốn sách
về sự sáng thế, Chúa đã tạo dựng nên toàn cõi vũ trụ
trong vòng sáu ngày. Nhưng theo các nhà vũ trụ học ngày nay
thì vũ trụ bắt đầu từ một “vụ nổ” và thường được
ví von với thuật ngữ “Vụ Nổ Lớn-Big Bang”. Sau hàng tỷ
năm, các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành. Giống
như Darwin đã giả thuyết, tiến hóa của sự sống là một
quá trình đều đặn, chậm rãi và lâu dài. Bởi vậy, các
nhà vũ trụ học cũng tin rằng, vũ trụ của chúng ta cũng
trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài và chậm chạp như
thế.
Nhưng
giả thuyết và phương thức giải quyết vấn đề của Kinh
Thánh và Khoa học lại không tương thích với nhau. Tuy
nhiên, điều quan trọng nhất là cả hai đều gợi ý rằng,
vũ trụ bắt đầu từ hư không trong một khoảng thời gian
hữu hạn ở quá khứ. Quả thực, rất nhiều đức tin tôn
giáo hiện thời coi lý thuyết Vụ Nổ Lớn như là một lời
khẳng định ý niệm của Chúa về sự tạo thành vũ trụ.
Thật là thú vị khi bằng chứng đầu tiên của lý thuyết
Vụ Nổ Lớn được khám phá vào năm 1929 bởi nhà thiên văn
người Mỹ Edwin Hubble. Các quan sát của Hubble chỉ ra rằng
vũ trụ đang giãn nở. Rất nhiều nhà khoa học đã bác bỏ
ý kiến này, bởi theo họ, nó mang thoang thoảng hương vị
của tôn giáo. Nếu vũ trụ có một khởi đầu thì phải có
một Đấng tạo hóa. Đó là một điều phản khoa học. Quan
điểm thịnh hành ở thời điểm đó cho rằng, vũ trụ trong
trạng thái tồn tại vĩnh hằng, và do đó, không có khởi
điểm.
Khám
phá của Hubble về sự giãn nở của vũ trụ đã đặt dấu
chấm hết cho một vũ trụ tĩnh không thay đổi theo thời gian,
đồng thời nó cũng đưa chúng ta tới một sự ngoại suy rằng,
vũ trụ có một thời khắc khởi đầu xác định trong quá
khứ. Hơn nữa, quan niệm này đã củng cố cho thuyết tương
đối rộng của Einstein, mà ở đó, nó đưa ra một loạt các
phương trình đẹp đẽ miêu tả cách thức mà vũ trụ xuất
hiện từ hư không. Một số các nhà khoa học ngày nay đã
giành lại thế thượng phong để tranh luận rằng, thuyết
Vụ Nổ Lớn minh chứng vũ trụ xuất hiện từ những quá
trình tự nhiên thuần túy mà không cần có sự can thiệp bởi
một sức mạnh siêu nhiên nào.
Quan
niệm này được diễn tả rành rọt bởi nhà vật lý người
Anh Stephen Hawking. Trong cuốn sách bán chạy nhất thế giới
của ông “Lược
sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng, nếu lý
thuyết vũ trụ hiện tại là đúng thì sự tạo thành của
vũ trụ hoàn toàn có thể giải thích được bằng các định
luật vật lý thuần tuý. Trong tình huống như thế, Hawking
đặt ra câu hỏi, cái gì đóng vai trò cho một Đấng sáng
tạo?
Trong
khi Hawking nhìn nhận khoa học như một sự lột tả bức tranh
của Chúa thì cũng có nhiều nhà khoa học mang những quan niệm
khác nhau. Chẳng hạn, nhà vật lý Paul Davies đã diễn tả
rằng, vẻ đẹp và trật tự của các định luật vật lý
đã gợi mở một vài điều còn ẩn sau chính những định
luật đó, một vài điều bắt nguồn từ vẻ đẹp của toán
học và trật tự của vũ trụ. Tương tự như vậy, nhà vật
lý John Polkinghorn và John Barrow tin vào sự cân bằng tinh tế
đáng kinh ngạc của trật tự toán học cho phép mô tả vũ
trụ. Điều đó ngụ ý rằng, có một tác động trí tuệ
nào đó có trách nhiệm cho chính sự tinh tế này. Chính Stephen
Hawking đã liên hệ Chúa với các định luật vật
lý. Đặc biệt, Hawking và Davies đã gán Chúa với cái gọi
là “Lý thuyết của vạn vật”- Một lý thuyết đơn lẻ
mà các nhà vật lý hy vọng một ngày nào đó nó sẽ thống
nhất được cả thuyết tương đối rộng và cơ học lượng
tử, bởi vậy có thể mang toàn bộ vũ trụ vào trong một
cái bóng lớn đầy hiệu lực của toán học. Lý thuyết này
là mục tiêu lớn nhất mà các nhà vật lý lý thuyết đương
đại muốn vươn tới. Đây cũng là cái mà Hawking ám chỉ
là “ý niệm của Chúa”. Tuy nhiên, vươn xa hơn các ngành
khác, vũ trụ học là trường hợp mà bạn có thể hoặc không
thể nhìn thấy Chúa phản ánh trong bức tranh. Và cuối cùng,
khoa học hoặc không làm sáng tỏ hoặc không bác bỏ sự tồn
tại
của Chúa.
Đi
tìm cội nguồn của vũ trụ
Ý
tưởng cho rằng vũ trụ có một bắt đầu lần đầu tiên
được tiên đoán bởi thuyết tương đối rộng của Einstein
vào năm 1916. Các phương trình Einstein miêu tả cấu trúc của
không gian và thời gian đã ám chỉ rằng, vũ trụ không phải
là tĩnh, và nó phải giãn nở theo thời gian. Cả Einstein và
các nhà vật lý khác đã sớm nhận ra hệ quả tất yếu này.
Nhưng hầu hết các nhà vật lý thời đó đều có một niềm
tin vững chắc vào một vũ trụ tĩnh tại. Chính Einstein cũng
bị thống trị bởi cách suy nghĩ này hơn là chấp nhận hệ
quả mà phương trình của ông đưa ra, để rồi buộc ông
phải thêm vào phương trình vốn dĩ rất đẹp một thuật
ngữ xa lạ để làm sao phương trình đó miêu tả một vũ
trụ tĩnh. Sau khi các quan sát của Hubble về sự lùi xa của
các thiên hà cho thấy vũ trụ đang giãn nở thì Einstein mới
thừa nhận “đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi”.
Ông đã bỏ lỡ cơ hội mà chắc chắn đó là tiên đoán vĩ
đại nhất trong lịch sử khoa học.
Một
trong những người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự giãn
nở và nguồn gốc của vũ trụ là một cha cố người Bỉ
George Lemaitre. Ông gợi ý rằng, vũ trụ bắt đầu từ cái
gọi là “nguyên tử khổng lồ”. Trong kịch bản của ông
về sự tiến hóa của vũ trụ thì siêu nguyên tử này sau
đó bị vỡ ra thành nhiều mảnh nhỏ, dần dần tạo ra các
nguyên tử, các hạt mà sau đó là những viên gạch kiến tạo
nên toàn bộ vũ trụ. Các nhà vật lý đã không chấp nhận
ý tưởng về “nguyên tử khổng lồ” của Lemaitre. Nhưng
họ cũng lần theo ý tưởng đó để suy đoán về sự bắt
đầu của vũ trụ từ một điểm vật chất đặc và nhỏ,
sau đó giãn nở và tạo nên vô vàn các cấu trúc trong vũ
trụ mà chúng ta có thể quan sát thấy ngày nay. Cha cố Lemaitre
hoạt động nghề nghiệp vinh quang như một nhà vũ trụ học,
và trong nhiều năm ông cũng là lãnh đạo của Viện Hàn lâm
Giám mục của khoa học nằm trang trọng trong khuôn viên của
Vatican.
Chúa
của Stephen Hawking
Trong
cuốn sách “Lược
sử thời gian”, nhà vật lý Stephen Hawking đã tuyên
bố rằng, khi một nhà vật lý tìm ra một lý thuyết, anh ta
và các đồng nghiệp đang tìm kiếm cái gọi là “Lý thuyết
của vạn vật”- sau đó họ sẽ nhìn vào “Ý niệm của
Chúa”. Hawking là nhà vật lý duy nhất gán Chúa với các định
luật vật lý. Nhà khoa học đoạt giải Nobel, Leon Lederman,
đã tạo ra mối liên kết giữa Chúa và các hạt hạ nguyên
tử được gọi là các boson Higgs. Lederman đã gợi ý rằng,
khi các nhà vật lý tìm ra các hạt đó trong các máy gia tốc
của họ, nó cũng giống như việc nhìn thấy khuôn mặt của
Chúa. Nhưng các dạng nào của Chúa mà các nhà vật lý muốn
nói đến?
Nhà
vật lý đoạt giải Nobel Steven Weinberg diễn tả rằng, thực
tế không có Chúa nào hết. Weinberg lưu ý rằng, theo cách hiểu
truyền thống, “Chúa” có nghĩa là một cá nhân cụ thể.
Nhưng đó không phải là điều mà Hawking và Lederman có ý nói
đến. Ông nói, Chúa của họ thực ra chỉ là một nguyên lý
trừu tượng của trật tự và sự hài hoà, một tập hợp
các phương trình toán học. Weinberg sau đó đặt câu hỏi,
“Tại sao họ lại sử dụng thuật ngữ “chúa”?”. Ông
đã tạo ra một quan điểm khá sâu sắc rằng, “nếu một
ngôn từ có bất cứ ý nghĩa gì đối với chúng ta thì chúng
ta hãy cố gắng gìn giữ ý nghĩa của ngôn từ ấy, và “Chúa”
xét về mặt lịch sử không có nghĩa là các định luật của
tự nhiên”. Câu hỏi “Chúa” là gì đã đánh nặng các
nhà thần học trong suốt hàng nghìn năm. Những điều mà Weinberg
nhắc nhở chúng ta là phải thận trọng với những khái niệm
chế tác.
Chúa
và thời gian
Cũng
trong cuốn “Lược sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng,
nếu mô hình về một vũ trụ không có biên là đúng thì không
cần phải viện đến một Đấng sáng tạo. Mô hình này giả
thiết rằng, không cần một thời khắc chính xác cho sự bắt
đầu của vũ trụ, bởi vì không có thời khắc xác định
nào khi thời gian bắt đầu. Lý thuyết Vụ Nổ Lớn nói rằng,
vụ nổ xảy ra ở tất cả mọi điểm trong không gian và là
bắt đầu của thời gian. Bởi vì điều mà Hawking đã tuyên
bố là không có vai trò nào cho một Đấng sáng tạo. Trong
mô hình của ông, đại lượng được gọi là thời gian được
nảy sinh ra từ một dạng của rối lượng tử, trong đó có
một thành phần ảo của thời gian, tối thiểu ở những thời
khắc ban đầu của Vụ Nổ Lớn. Nó có một ý nghĩa toán
học chính xác liên hệ với cái gọi là số phức. Những
tình tiết của thời gian ảo này thực ra không quan trọng.
Theo Hawking, vũ trụ không bắt đầu trong thời gian mà chính
thời gian bắt đầu cùng với vũ trụ.
Nhưng
nếu Hawking nhìn nhận vấn đề này như một sự tranh luận
chống lại một đấng sáng tạo thì nhà vật lý đồng thời
cũng là nhà thần học Robert Russell lại có ý kiến khác. Russell
chỉ ra rằng, ý kiến của Hawking cũng khá tương tự như ý
kiến được đưa ra hơn 1500 năm trước bởi một nhà thần
học Thiên chúa giáo nổi tiếng. Augustine cũng tuyên bố vũ
trụ không sinh ra trong thời gian, đúng hơn là cùng với thời
gian. Như Russel nhận xét, đây là một ví dụ đẹp, nơi mà
các học thuyết thần học kinh điển và khoa học đương đại
khá tương đồng. Ông nói, “Nếu bạn mang trong mình một
bức tranh đầy thú vị về hai nền văn hoá khác nhau, nhưng
có thể đặt ra cùng một câu hỏi cho cả hai nền văn hoá
đó, và hơn nữa, sẽ có cùng một câu trả lời được đưa
ra”. Những điều chỉ cho chúng ta, như Russell nói, đó là
“Trên phương diện thần học, Hawking thực sự là một người
đồng minh của chúng ta bởi vì ông ta đã nói cho chúng ta
ý niệm về một vũ trụ hữu hạn như là sự sáng tạo của
Chúa được duy trì, cho dù vũ trụ đó có điểm khởi đầu
hay không”.
Lý
thuyết của vạn vật
Chúng
ta đã tìm đến một thời điểm phi thường trong lịch sử
khoa học. Một số nhà vật lý tin rằng, họ đang tiệm cận
đến một lý thuyết duy nhất có thể kết hợp được tất
cả các khoa học dưới một cái bóng quyền lực của toán
học. Đặc biệt, lý thuyết này có thể thống nhất được
hai pháo đài vĩ đại nhất của nền vật lý thế kỷ 20:
thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Thuyết tương
đối rộng miêu tả thế giới ở thang đo vĩ mô như những
cấu trúc của vũ trụ, trong khi cơ học lượng tử lại miêu
tả mọi hành xử của vật chất ở thang vi mô, trong thế
giới hạt nguyên tử. Việc thống nhất cả hai lý thuyết
này cho phép giải thích một cách toàn vẹn và chính xác về
toàn bộ thế giới. Một lý thuyết như thế được ví von
như là “Lý thuyết của vạn vật”.
Đặc
biệt, lý thuyết này sẽ thống nhất được tất cả các
tương tác cơ bản vốn điều hành mọi hành xử của vũ trụ.
Các nhà vật lý đã tìm ra tất cả bốn tương tác cơ bản
trong tự nhiên: tương tác hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay
xung quanh Mặt trời và đóng vai trò cốt yếu trong sự hình
thành các sao và thiên hà trong vũ trụ. Tương tác điện từ
giữ cho các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên
tử và liên kết các nguyên tử với nhau. Tương tác hạt nhân
yếu có tác dụng bên trong hạt nhân nguyên tử và gây ra các
phân rã phóng xạ. Và cuối cùng, tương tác hạt nhân mạnh
có vai trò liên kết các proton và notron trong nguyên tử với
nhau, và như vậy, rất cần thiết cho sự ổn định của vật
chất. Ở thời điểm này, các nhà vật lý đã xây dựng thành
công từng lý thuyết riêng biệt cho mỗi loại tương tác,
nhưng mục đích cuối cùng mà họ muốn đạt được là xây
dựng một lý thuyết thống nhất được tất cả các tương
tác trên. Mục tiêu trên phần nào đã có những tiến triển
lạc quan, bởi vì hiện tại họ đã thống nhất được tương
tác điện từ và tương tác yếu thành tương tác điện yếu.
Nhưng quả thật, việc thống nhất cả bốn tương tác trên
là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Dù sao các nhà vật lý
đều rất tự tin rằng, trong một vài thập kỷ tới họ có
thể hoàn thành được sứ mạng cao cả đó.
Nhà
vật lý lý thuyết Steven Weinber, người đóng vai trò quan trọng
trong việc thống nhất thành công lý thuyết điện yếu và
đoạt giải Nobel cùng với hai đồng nghiệp Abdus Salam và Sheldon
Glashow, đã gọi lý thuyết thống nhất cả bốn tương tác
trên là một “lý thuyết tối hậu”. Ông và nhiều nhà vật
lý khác phát biểu, khi các nhà vật lý tìm ra được lý thuyết
này thì nền vật lý sẽ đặt hồi chuông cáo chung. Ngày nay,
vũ trụ được mô tả bởi tập hợp các phương trình hoặc
chỉ một phương trình. Nhưng vẫn còn lại câu hỏi là, các
phương trình đó thực chất là gì?
Mang
cho vũ trụ một ý nghĩa
Weinberg
từng viết “Chúng ta càng hiểu vũ trụ bao nhiêu, thì dường
như nó càng trở nên vô nghĩa bấy nhiêu”. Đối lập với
cách nhìn nhận lạnh lùng của Weinberg, nhà sinh học Australia
Charles Birch, một trong những người sáng lập nên sinh thái
học hiện đại, lại tìm thấy vũ trụ có một ý nghĩa nào
đó khi ông coi mình như là một phần cố hữu của vũ trụ.
Tương
tự như vậy, vị linh mục và cũng là một nhà thiên văn George
Coyne đã phát biểu rằng, vũ trụ tự nó đã có một mục
đích và một ý nghĩa đầy đủ. Ông chỉ ra rằng, đối với
tất cả những thành tựu vĩ đại của khoa học, nó không
cần thiết phải là một bãi chiến trường để chỉ cho chúng
ta quan điểm hoặc là cuộc đời của mỗi chúng ta hoặc vũ
trụ là tất cả. Nhiệm vụ đó ngoài khả năng của khoa học.
Thay vì thế, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh nghiệm thường
ngày và ngay tại thế giới này. Ông giải thích, “Với tất
cả kinh nghiệm của con người, tôi nghĩ, có thể nói với
chúng ta một điều rằng, có một ý nghĩa cho điều đó. Khi
tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của một người bạn vừa lìa
xa cõi đời, và nhìn thấy một diễn tả về sự hy vọng
và niềm vui sướng trong đôi mắt của người bạn đó, thậm
chí ngay ở thời khắc của sự chết đến. Tôi có thể nhìn
thấy ý nghĩa cho sự tồn tại mà điều này vượt ra ngoài
những phát minh khoa học”
Thú
vị thay, Weinberg lại tán thành với quan điểm của Cha cố
Coyne, mặc dù ông tin tưởng rằng, khoa học đang vẽ lên bức
tranh về một vũ trụ vô nghĩa, lạnh lùng và dửng dưng. Ông
cũng tuyên bố mạnh mẽ rằng, chúng ta, những con người,
đang mang cho vũ trụ một ý nghĩa và một mục đích thông
qua cách mà chúng ta đối xử với nhau trong cuộc sống, bởi
tình yêu thương đối với tha nhân, bởi khám phá những điều
bí mật còn chôn dấu trong tự nhiên, bởi làm việc và sáng
tạo nghệ thuật. Chúng ta không phải là những ngôi sao trong
vở kịch vĩ đại của vũ trụ, nhưng chúng ta buộc phải
đối mặt với một vũ trụ thờ ơ vô cảm và không có tình
yêu. Tuy nhiên, chúng ta lại mất khả năng sáng tạo nên chính
bản thân mỗi chúng ta, một ốc đảo nhỏ của sự ấm áp,
tình yêu và cả trong đó là khoa học và nghệ thuật. Đó
là một tuyên bố nhân văn sâu sắc từ một con người với
cách nhìn lạnh lùng dường như là vô cảm. Tuy vậy, điều
gì là ngạc nhiên nhất? Đó chính là một nhà khoa học vô
thần thẳng thắn đã diễn tả một quan niệm không tương
đồng với quan điểm của những tông đồ tôn giáo.
Điểm
tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo
Khác
biệt với quan điểm của Thiên chúa giáo, Phật giáo lại
có nhiều điểm tương đồng với nền khoa học đương đại.
Trong đạo Phật, Đức Phật đã đưa ra thuyết Vô thường
và Duyên khởi, tức là vạn vật hiện hữu trong thế
giới luôn vận động và biến đổi. Vạn vật khi hội đủ
duyên thì được sinh ra, hết duyên thì hoại diệt. Không có
gì hiện hữu tự thân, một vật chỉ có thể tồn tại và
ghi nhận trong tổng hoà các quan hệ với các đối tượng
khác trong thế giới thực tại. Các học thuyết khoa học đương
đại đã minh chứng cho quan điểm này của Phật giáo. Bất
cứ một đời sống nào trong vũ trụ này đều trải qua bốn
giai đoạn “sinh, lão, bệnh, tử”. Và để sinh vật đạt
đến một đời sống trí tuệ lại phải trải qua một chuỗi
các tiến hoá. Ngay cả với vũ trụ, thông qua một loạt các
biến cố từ Vụ Nổ Lớn đến vũ trụ giãn nở, và hình
thành nên các cấu trúc vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy ngày
nay. Cả chúng ta nữa, những đời sống trí tuệ biết thưởng
thức vẻ đẹp cùng sự hài hoà của vũ trụ và có thể đặt
những câu hỏi về vũ trụ. Tất cả đều có một đời sống
và một lịch sử. Hơn thế nữa, ý niệm về tánh không trong
Phật giáo tương ứng với lưỡng tính sóng hạt trong cơ học
lượng tử. Cũng nhờ ý niệm về duyên khởi và tánh không
mà Phật giáo không chấp nhận ý niệm về Đấng sáng tạo.
Có
chăng, điều khác nhau giữa khoa học và Phật giáo là phương
thức tiếp cận đối tượng của chủ thể quan sát trong thế
giới thực tại. Khoa học xây dựng các quy luật của thế
giới thực tại bằng một hệ thống cấu trúc toán học chặt
chẽ và kiểm chứng thông qua các khí cụ khoa học. Còn trong
Phật giáo, phương pháp chính là quán tưởng và công cụ là
tâm. Einstein từng phát biểu: “Tôn giáo của tương lai
sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Nó sẽ phải vượt qua một
vị Thượng Đế có nhân trạng và tránh xa những học thuyết
lẫn giáo điều. Bao gồm cả khoa học tự nhiên và tâm linh,
nó sẽ phải được đặt căn bản trên một ý thức tôn giáo
phát khởi từ cảm nghiệm về tất cả mọi sự vật, khoa
học tự nhiên lẫn tâm linh, và đây được xem như một sự
hợp nhất đầy ý nghĩa… Phật giáo là câu trả lời cho
sự mô tả này… Nếu có bất kỳ một tôn giáo nào có thể
đáp ứng được những nhu cầu của nền khoa học đương
đại, thì đó chính là Phật giáo”.
Mối
tương hỗ
Các
nhà thiên văn đang cố gắng nhìn sâu hơn vào không gian và
các nhà vũ trụ học có thể mở rộng các phương trình để
mô tả nhiều hơn về vũ trụ, các nhà di truyền học tháo
gỡ tất cả những bí mật của gene người và các nhà sinh
học tiến hoá khám phá nhiều hơn nữa nguồn gốc và sự
phát triển của cuộc sống. Tất cả họ đang cố gắng trả
lời những những câu hỏi thần học hóc búa. Trong kỷ nguyên
này của khoa học chúng ta có thể hỏi tôn giáo có vai trò
gì? Khoa học và tôn giáo cùng tương hỗ cho nhau như thế nào?
Theo
nhà vật lý và thần học Robert Russell - giám đốc Trung tâm
Thần học và Khoa học tự nhiên ở Berkeley - thì, cả khoa
học và thần học đều cần đến nhau. Mặc dù các nhà khoa
học đang trả lời một lượng lớn các câu hỏi, nhưng lại
nảy sinh ra những câu hỏi khác mà khoa học chưa thể làm
sáng tỏ, và thường là những câu hỏi liên quan đến triết
học và đạo đức: Tại sao lại có vũ trụ này? Vì sao chúng
ta đi tìm kiếm trật tự của toán học trong thế giới xung
quanh? Tại sao khoa học tự nó lại mang một ý nghĩa nào đó?...Theo
Russell, những câu hỏi này muốn giải quyết được không
chỉ cần các nhà khoa học mà phải có sự tham gia của các
nhà triết học, nhà đạo đức học và thần học.
Mặt
khác, Russell chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên của khoa học hiện
đại, các nhà thần học và những người có tín ngưỡng
không đủ sức để lờ đi những gì đang tiếp diễn trong
khoa học. Nhà triết học Thiên chúa giáo Nancey Murphy giải
thích, nếu quan điểm của tôn giáo không liên hệ với một
vũ trụ cụ thể mà khoa học mô tả thì nó rất dễ bị tàn
lụi. Chúng ta cần tránh sự tách biệt của tôn giáo từ khoa
học trong Thời kỳ Khai Sáng, thời kỳ ở Châu Âu thế kỷ
18, cho rằng chỉ có lý trí và tri thức của khoa học mới
đưa loài người tiến bộ.
Theo
Murphy, để tôn giáo duy trì được sức mạnh trong việc giảng
dạy đạo đức thì họ phải nhìn một cách hài hoà trong
sự thật của khoa học. Nếu bạn muốn ai đó tin vào những
gì bạn nói trong những phạm trù đạo đức, bạn cần mang
cho họ bức tranh về thế giới dựa trên những kinh nghiệm
của chính bạn. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận những
lý thuyết của khoa học.
Đức
Phường
(Tạp
Chí Tia Sáng)
Người
gửi bài: Diệu Tịnh
02-23-2007