LỊCH
NGHIỆM KỲ CÙNG CUỘC LỮ
(……)
Đài
Thành một thuở Thi Thơ
Xe
Vàng còn mộng quanh tà áo Thu
Tóc
Mai về, sương Ngô điểm mái
Thân
tàn như cỏ dại bờ đê
Đăm
đăm từ giã Kinh Kỳ
Lao
đao thần tử miền quê lạc loài
(thơ
của Lý Hạ)
1.
Tống
Huy Tông, Thiệu thánh nguyên niên, giáp tuất (1094), Ông 59 tuổi,
bị đày xuống Huệ Châu
Năm
trước, Ông đang giữ chức Đoan minh điện học sĩ kiêm Hàn
lâm viện thị độc. Huy Tông vừa lên ngôi mà mầm họa lớn
đã chớm nở tại triều đình. Lại thêm một lần muốn tránh
tai vạ không lường, Ông xin ra làm thái thú Định Châu. Nhưng
đến năm sau, bị giáng chức, phải đổi đi Anh châu; đi chưa
đến nơi, bị cách chức tuốt luốt, đày xuống Huệ châu.
Bước
ra đi, với người tiễn khách, thơ ông gửi Sâm Liêu Tử:
Mạc
Ngôn Tây Thục vạn lý
Thả
đáo Nam hoa nhất du
Phù
bịnh giang biên tống khách
Trượng
noa phố khẩu hồi đầu
Đường
Tây Thục đã là hiểm trở
Miền
Nam hoa một chuyến càng ghê
Người
gượng bịnh bên dòng tiễn khách
Gậy
cầm tay phố khẩu ngóng về.
Ai
đã từng đọc bài thơ “Đường vào đất Thục” của Lý
Bạch, phải biết cái hiểm trở kinh người nó mang những
sắc diện hãi hùng như thế nào. Thì đường đi Nam hoa của
ông, thử một lần mới biết; với đường vào đất thục,
mối kinh tâm động phách cũng ra ngoài tưởng tượng. Cuộc
tiễn chân, ẩn chứa bi hùng trong nỗi trầm tư lữ thứ.
Tháng
6 năm đó, thuyền ông đỗ bến Kim lăng, gặp giông tố, lời
thơ ông vọng về mấy người bạn xa xôi:
Kim
nhật giang đầu thiên sắc ác
Pháo
xa vân khởi phong dục tác
Độc
vọng Chung sơn hoán Bảo công
Lam
gian bạch tháp như cô hạc
Bảo
công cốt lãnh hoán bất văn
….
Sắc
trời như sụp xuống đầu sông. Xe bay mây trổi gió đùng
đùng. Chỉ còn nước vọng về Chung sơn mà réo gọi Bảo
công. Giữa rừng, nơi tháp trắng lẻ loi như cánh hạc; Bảo
công xương lạnh, réo không nghe.
Rồi
ngang qua Lô sơn, trời mây bỗng cuộn cuộn, như long lở núi.
Ông kêu gọi thần linh yểm trợ:
Ngũ
lão sỗ tùng tuyết
Song
khê lạc thiên đàm
Tuy
vân mặc đảo ứng
Cố
hữu di văn tàm
Ngọn
Ngũ lão, đã có lần chào đón ông trong phong vận tài tử,
và những con suối từ cao đổ xuống trước kia chúng kiêu
hùng cho tài hoa thưởng ngoạn. Bây giờ, trông xa xa, Lô sơn
bỗng là những biến tượng đọa đày. Chân diện mục đã
một lần như vén mở, nhưng vén mở rồi khép lại từ nào,
mà trong bước đường Lữ thứ bây giờ, trời Lô sơn trở
thành khổ luỵ nhân sinh đổ ào ào xuống.
Lại
cái màu xanh biếc kia nữa. Màu xanh biếc của ngọn Nga mi,
màu xanh trong phương trời đồng vọng quê hương thuở xưa.
Trong những ngày đó, ngọn Nga Mi xanh biếc giữa bầu trời
là tình tự đầm ấm của quê hương. Nhưng bây giờ, màu
đó chợt một lần thoáng qua giấc mộng cũng đủ gây ra vô
số đoạn trường:
Thanh
khê điện chuyển thất vân tung
Mộng
lý do kinh thúy tảo không
Suối
trong sấm sét dậy, sụp đỉnh mây ngàn. Trong giấc mộng,
mà còn kinh màu biếc giữa trời.
Cho
đến tháng tám, ngày mồng 7, ông vào Cống châu, ngang qua thác
Hoàng khủng. Thì nơi đây, thơ đột ngột hiện lên những
lời của viễn mộng:
Thất
thiên lý ngoại nhị mao nhân
Thập
bát than đầu nhất diệp thân
Sơn
ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa
danh Hoàng khủng khấp cô thần
2.
Trên
đường đi tới Huệ châu, ông gặp chùa Thiên trúc, ghé lại
thăm, gặp bút tích của Lão Tô, ông làm thơ và tự viết
lời dẫn:
“Tôi
năm 12 tuổi, tiên quân từ Kiềng châu về nói với tôi rằng:
Gần thành, trong núi có chùa Thiên trúc, có bài thơ Bạch
lạc Thiên tự tay viết:
Nhất
sơn môn tác lưỡng sơn môn
Lưỡng
tử nguyên tùng nhất tự phân
Đông
giạn thủy lưu tây giạn thủy
Nam
sơn vân khởi bắc sơn vân
Tiền
đài hoa phát hậu đài kiến
thượng
giới chung thanh hạ giới văn
Diêu
tưởng ngô sư hành đạo xứ
Thiên
hương quế tử lạc phân phân
“Bút
thế kỳ dật, dấu vết như mới, nay đã 47 năm rồi.
“Tôi
đến hỏi thăm, thì thơ đã mất, chỉ còn tấm đá khắc
mà thôi. Ngậm ngùi nước mắt chảy, nên làm bài thơ đó”
Bài
thơ ông như thế này:
Hương
Sơn cư sĩ lưu di tích
Thiên
trúc thiền tăng hữu cố gia
Không
vịnh liên châu ngâm điệp bích
Dĩ
vong phi điểu thất kinh xà
Lâm
thâm dã quế hàn vô tử
Vũ
ấp sơn khương bịnh hữu hoa
Tứ
thập niên tiền chân nhất mộng
Thiên
nhai lưu lạc thế hoành tà
香山居士留遺跡
天竺禪師有故家
空詠連珠吟疊璧,
已亡飛鳥失驚蛇。
林深野桂寒無子,
雨浥山薑病有花。
四十七年真一夢,
天涯流落淚橫斜
Hương
sơn cư sĩ lưu di tích
Thiên
trúc thiền sư có của nhà
Chuỗi
hạt lần không, mòn vách đá
Chim
ngàn biền biệt rắn chuồn xa
Mùa
lạnh rừng sâu còn quế dại
Người
đau mưa núi đượm gừng tra
Bốn
bảy năm rồi như mộng ảo
Ven
trời đổ lệ đọa đày xa
Thơ
như thế là đồng vọng của cõi đời trầm mặc. Nhưng tình
thơ nồng đượm khôn cùng, cho nên những tiếng thì thầm
của lịch sử tồn sinh ngân vang khúc đoạn trường khổ lụy.
Rừng núi thâm u, tiếng lần chuỗi của thiền sư trong nỗi
đời trầm lặng cô liêu mà cũng trở thành những tiếng vang
dậy, thì cánh chim đang ngơ ngác cũng giật mình sửng sốt
bay đi, và con rắn đang cuộn tròn trong hốc đá cũng hoảng
sợ chuồn mất. Tiếng đó là tiếng gì mà nghe nó kì dị
như thế, nếu không là âm hưởng trầm trọng của thảm họa
hoành sinh tràn đầy trong cuộc Lữ, cuộc Lữ của tồn sinh
mộng ảo?
3.
Từ
Quảng Châu ra đi, còn cách Huệ Châu đất trích khoảng một
trăm cây số nữa. Trên đường đi ngang qua La phù sơn. Trước
thời nhà Đường, đất này trực thuộc Giao chỉ. Đời Đông
Tấn, có Cát Hồng, tự xưng là Tiểu Cát Tiên ông, và tự
hiệu là Bảo Phác Tử, nghe đồn Giao Chỉ có nhiều đan sa,
nên dẫn gia đình đến đây để luyện đan. Ông ấy ngụ
và chết luôn tại La Phù Sơn này, chưa nếm được tiên đan
trường sanh bất tử. Theo lời chú của ông, thơ Lưu Mộng
Đắc có kể, tại La phù, nửa đêm có thể thấy mặt trời,
và ông cho là chuyện lạ. Núi có hai lầu đá, chùa Diên Tường
ở lầu nam, động Chu Minh ở phía sau Xung hư quán, được
coi là động trời thứ bảy của cõi Bồng lai. Sau quán Xung
hư có đàn Triều đẩu, tức đàn ngắm sao, của Chu Minh chân
nhân. Gần đàn, ông lượm được 6 con rồng bằng đồng và
một con cá cũng bằng đồng. Trong núi có thiết kiều, tức
cầu sắt, và thạch trụ; ông nói, ít ai đi tới những chỗ
đó. Tuốt trong núi sâu, có khe suối, có con cọp câm đi tuần
sơn thường lai vãng đó.
Tại
đây, ông làm thơ:
Nhân
gian hữu thử bạch ngọc kinh
La
phù kiến nhật kê nhất minh
Nam
lâu vị tất Tề nhật quán
Uất
nghi tự dục triều Chu minh
Đông
Pha chi sư Bảo Phác lão
Châu
Khế tảo dĩ giao tiền sinh
Ngọc
đường kim mã cửu lưu lạc
Thốn
điền xích trạch kim qui canh
Đạo
Hoa diệc thường đạm nhất tảo
Khế
Hư chính dục cưu tam bành
Thiết
Kiều thạch trụ liên không hoành
Trượng
lê dục sấn phi nhu khinh
Vân
khê dạ phùng ám hổ phục
Đẩu
đàn trú xuất đồng long nanh
Tiểu
nhi thiếu niên kỳ hữu chi
Trung
tiêu khởi tọa tồn Huỳnh đình
Cận
giả hí tác Lăng vân phú
Bút
thế phảng phất Ly tao kinh
Phụ
thơ tùng ngã cái qui khứ
Quần
tiên chánh thảo tận cung minh
Nhữ
ưng nô lệ Thái Thiếu Hà
Ngã
diệc quí mạnh Sơn Huyền Khanh
Hoàn
tu lược báo Lão Đồng Thúc
Doanh
lương vạn lý tầm Sơ Bình
人间有此白玉京,
羅浮見日雞一鸣。
南楼未必齎日觀,
鬱儀自欲朝朱明。
東坡之師抱朴老,
真契蚤已交前生
玉堂金馬久流落,
寸田尺宅今歸耕。
道華亦嘗啖一棗,
契虚正欲仇三彭。
铁橋石柱連空横,
杖藜欲趁飛猱輕。
雲溪夜逢暗虎伏,
斗壇晝出铜龍獰。
小兒少年有奇志,
中宵起坐存黄庭。
近者戏作凌蕓賦,
筆勢髣艴籬騷經。
負蓍從我盍歸去,
群仙正草新宫铭。
汝應奴隸蔡少霞,
我亦季孟山玄卿。
還須略報老同叔,
赢糧萬里尋初平
Bài
thơ kèm theo một số chú thích của chính ông. Ở đây, hãy
ghi lại một ít chú thích đó:
Đạo
Hoa: Đời Đường, đạo sĩ ở Vĩnh Lạc, tên Hầu Đạo Hoa,
uống vụng thuốc tiên của Đặng Thiên Sư rồi trốn đi.
Ở Vĩnh Lạc có thứ táo không hạc; chỉ một mình Đạo Hoa
có chứ không ai có. Tôi (lời ông) ở Kỳ Hạ có lần ăn
được một quả
Khế
Hư: Tăng đời Đường. Khế Hư, gặp người dẫn chơi phủ
tiên ở Trí Sơn; Chân nhân hỏi: “Ông tuyệt hết tam bành
trong lòng chưa?”. Khế Hư không đáp được.
Tân
cung minh: (lời chú này của riêng người soạn sách): Quần
tiên mỗi khi dụng xong cung điện, cần phải có một bài minh,
để ghi khắc. Chuyện nhà thơ Lý Hạ: Lý Hạ chết yểu (26
tuổi); nửa đêm về báo mộng cho mẹ, nói thượng giới vừa
dựng xong một cung điện, thiếu người viết bài minh, nên
Ngọc đế sai người xuống trần triệu Lý Hạ lên
Thái
Thiếu Hà (lời chú của ông): Đời Đường, có người nằm
mộng thấy viết bài thấy viết bài Tân cung minh, nói: Tử
Dương Chân nhân Sơ Huyền Khanh, đại lược:
Lương
thường Tây lộc
Nguyên
trạch Đông tiết
Tân
cung hoằng hoằng
Sùng
hiên nghiệt nghiệt
Lại
có Thái Thiếu Hà mộng người sai viết bia, đại lược: “Công
tích thừa ngư xa, kim lý thụy vân, xúc không ngưỡng đồ,
ỷ lạc luân khôn”. Dưới hết đề: ngũ vân thư các Thái
Thiếu Hà thư.
Đồng
Thúc: ông tự chú: Tử Do còn có tự là Đồng Thúc.
Nhân
gian sao có kinh bạch ngọc
Phù
sơn canh ba thấy mặt trời
lầu
nam chưa chắc quán Tề nhật (cao bằng mặt trời)
Khúm
núm như muốn chầy Chu minh
Thầy
Đông Pha là lão Bảo Phác
Chân
Khế là bạn giao du đời trước
Nhà
vàng của ngọc lưu lạc từ xưa
Tấc
vườn Đạo Hoa đã từng thưởng thức
Tam
bành Khế Hư ruột vẫn đeo mang
Cầu
sắt trụ đá kéo bắc ngang không
Lê
cao nghều nghệu muốn leo như khỉ
Đêm
gặp cọp rình nơi suối Vân Khê
Ngày
bắt nanh rồng trước đàn Triều đẩu
Trẻ
con nhỏ tuổi có chi lạ
Nửa
đêm dậy đọc kinh Huỳnh đình
Vừa
rồi làm chơi bài Lăng vân phú
Bút
thế từa tựa Ly tao kinh
Cắp
sách theo ta về nhà gấp
Quần
tiên đang thảo Tân cung minh
Mi
làm đày tớ Thái Thiếu Hà
Ta
cũng xấp xỉ Sơn Huyền Khanh
Lại
đến tin sơ chú Đồng Thúc
Chứa
lương vạn dặm tìm Sơ Bình
4.
Ngày
2 tháng 10 năm đó, giáp tuất (1094) ông đến Huệ Châu. Cảnh
vật trông quen thuộc như từng đã thấy một lần đâu đó,
trong mộng. Đến đây thì Tô Vũ cũng sẽ nguyện suốt đời
chăn dê, không mong trở về Bắc mạc nữa. Và Quảng Ninh cũng
sẽ vĩnh viễn ẩn thân nơi cõi Liêu đông, không bao giờ trở
vào lục địa chen chân với đời.
Phảng
phất tằng du khởi mộng trung
Hân
nhiên kê khuyển thức tân phong
Lại
dân kinh quái tọa hà sự
Phụ
lão tương huể nghinh thử ông
Tô
Vũ khởi tri hoàn Mạc bắc
Quản
Ninh tự dục lão Liêu đông
Lĩnh
nam vân hộ giai xuân sắc
Hội
hữu u nhân khách ngụ công
Phảng
phất từng quen há mộng ư?
Chó
gào ríu rít đến chào ta
Lại
dân lạ hỏi chuyện gì thế?
Phụ
lão dìu nhau đón lão già
Tô
Vũ nào mong về Bắc mạc
Quản
Ninh từ nguyện cõi Liêu xa
Lĩnh
nam đây rượu vui ngày tháng
Đất
trích nhà quan đợi tuổi già.
Cuộc
Lữ từ đây cứ cho đi vào cõi mộng không lời. Khách Lữ
thứ chọn đất trích làm quê hương. Những gì còn đồng
vọng, là những tiếng đồng vọng ngoài kia, của mây phương
trời viễn mộng.
5.
Bây
giờ đã thấy lại cảnh trăng non, và cây ngô đồng thưa
lá. Cõi thơ không nằm nguyên ở đó nữa. Chúng vẫn phơi
trần ra đó, chịu đựng tuyết sương băng giá của ngày tháng
phiêu du, nhưng âm vang của chúng đồng vọng ở ngoài kia,
ngoài những ven trời vạn dặm; ngoài đó là những cánh chim
hồng, lẻ loi, và bay bổng giữa mấy triệu phương trời lồng
lộng. Từ cõi mộng đơn sơ, đến cái cõi của đọa đày
viễn mộng, có hố thẳm tuyệt mù, chơi vơi không đáy. Bên
này và bên kia, được nối liền bằng một chiếc cầu độc
mộc cheo leo. Làm sao để đi qua, và đi lại, bằng hai chân
nặng trĩu của hạng phàm phu tực tử? Một cuộc lữ hành
như thế, phải trải qua biết bao là gian khổ, dù nơi đi và
chỗ đến chỉ cách nhau trong một móng tâm. Đọa đày viễn
mộng là ở chỗ đó ư? Nhưng so lại là đọa đày viễn mộng?
Phải chăng tiếng đó chỉ mới vang dội, từ khi một lão
đại thần, lôi thôi thê tử, khúm núm dắt nhau chịu đày
ải đi về những vùng cùng cực của Nam hoa, hay đi vào tận
chốn sơn cùng lộ tuyệt của một đời sống chết? Bơ vơ
nơi khách địa, thì tình cố quận và tình tha hương, cả
hai đều thắm thiết. Nhưng cố quận thì đâu không là cố
quận, và tha hương thì nơi nào lại chẳng phải là tha hương.
Đứng bên này mà vọng đến bên kia, con mắt cứ mỏi mòn
trông đợi. Thế là lao tâm khổ tứ, là quằn quại hình hài.
Nơi ngọc đường kim mã, mộng bình sinh đã cực đỉnh tang
bồng. Nói năng thì như gươm Tần xẻ tóc, và rũ hai tay xuống
thì lịch sử trào ra. Đẩy một vạn người bước tới, kéo
một vạn người bước lui. Lên núi thì núi rừng cũng biến
thành biển lửa. Đưa con mắt hùng thị bốn phương trời,
bỗng thấy nước lũ Trường Giang đổ xuống:
Giang
sơn như họa
Một
thời hào kiệt anh hùng
Ngọc
đường kim mã bỗng vang lên những tiếng gào thét đoạn trường.
Chim hồng giật mình tung cách bay cao. Biết nơi nào là cố
quận, nơi nào là tha hương, để chim hồng đậu lại:
Trạch
tận hàn chi bất khẳng thê
Tịch
mịch sa châu lãnh
Đường
ra đi, qua trăng ngàn, qua gió bãi, mây vần vũ, núi non sụp
xuống, nắng chiều đỏ như máu. Đau khổ, kinh hoàng, nên
kêu réo, nên ngậm ngùi, và uất hận.
Sơn
ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa
danh Hoàng khủng khấp cô thần.
Đất
khách là mười tám cái ghềnh thác kinh hoàng đổ xuống. Nhưng
đất đó đọa đày thân xác mà không đọa đày viễn mộng.
Quê hương với ân tình thắm thiết kia mới thực là đọa
đày viễn mộng:
Núi
nhớ Hỉ hoan đọa đày viễn mộng
Đất
tên Hoàng khủng lệ khóc cô thần
Trên
đường vào Nam, ngang qua chùa Nam hoa, ông ghé lại chùa và
làm thơ:
Ngã
bản tu hành nhân
Tam
thế tích tinh luyện
Trung
gian nhất niệm thất
Thọ
thử bách niên khiển
Khu
y lễ Chân Tướng
Cảm
động lệ vũ tản
Tá
sư tích đoan tuyền
Tẩy
ngã ỷ ngữ nghiễn
Ta
vốn người tu hành
Ba
đời dày tu luyện
Nửa
chừng một niệm hư
Trăm
năm đày đọa khiến
Xốc
áo lễ Chân Tướng
Cảm
động lệ mưa tuôn
Ngọn
suối đầu gậy sư
Xin
rửa nghiên ỷ ngữ
Ông
nói mượn dòng suối trên đầu gậy Thiền của sư, để rửa
sạch cái nghiên mực ỷ ngữ, nói láo hay nói thêu dệt, của
ông. Nhưng, ông ỷ ngữ như thế nào? Ông làm thơ, lời thơ
ông thanh cao thần thánh. Ông làm quan thì lời quan của ông
bộc trực thanh liêm. Đó là những lời nói đẹp đẽ; vì
đẹp nên là ỷ ngữ ư? Có thể như thế, và chắc chắn không
là như thế. Nhưng, ông làm quan thì lời quan nó đày đọa
đời quan của ông. Ông làm thơ thì lời thơ nó đày đọa
trời thơ của ông. Lời thơ của ông thì những là… Hỉ
hoan lao viễn mộng. Lời quan của ông thì những là… Hoàng
khủng khấp cô thần. Cả hai cùng đày đọa thân và tâm của
ông. Nếu rửa sạch những thứ đó đi, chắc gì đã không
là một cõi đọa đày khác nữa:
Dĩ
hỉ thiền tâm vô biệt ngữ
Thượng
hiềm thế phát hữu thi ban
Tâm
thiền không lời, cái đó ông hâm mộ rồi. Nó cũng trong phương
trời viễn mộng của ông. Nhưng Đạo Thơ có lời, cũng là
phương trời viễn mộng của ông. Không phải ông bị đày
đọa vì bị ray rứt giữa hai đường. Cái đó dành cho tục
tử, chứ không hề có nơi cốt cách cao kỳ tuyệt diệu như
ông. Nhưng cả hai cái đó, thắt chặt rồi buông lơi, như
một cuộc giao tình đến để rồi đi; cả hai đưa nhau, đẩy
nhau, đưa đẩy mãi lên mấy từng trời cao diệu, trên những
phương trời viễn mộng; đưa đẩy nhau cho đến cùng tuyệt
càn khôn, trong bất động, trong vô ngôn; trong phương trời
đọa đày viễn mộng. Thế thì, cái chỗ đọa đày viễn
mộng đó cũng đơn sơ như cõi mộng ban đầu; ban đầu từ
một gương mặt trong ngọc trắng ngà không son phấn, rã cánh
hồng mà nụ vẫn còn tươi, cho tình lên cao vút với mây trời
trong nắng sớm:
Tố
diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy
trang bất thốn tàn hồng
Cao
tình dĩ trục hiểu vân không
Bất
dữ lê hoa đồng mộng
Sau
hết, và như là bắt đầu, thấy lại nó đơn sơ như mảnh
trăng non và như cây ngô đồng thưa lá.
Cõi
thơ, có đến và có đi, nhưng không hề có dấu vết. Một
cánh chim nhạn, một cánh chim hồng ngoài ven trời vạn dặm