IV.
TRỜI TRĂNG SAO IN MỘNG TRIỆU SÔNG HỒ (1086-1093)
LỜI
DẪN
Trăng
thanh cấm trên kia vùng sa mạc
Trời
Vũ lâm in mộng triệu sông hồ
Đó
là bầu trời đồng vọng, trong tương ứng. Thơ chen chúc giữa
những gió và nhưng bụi của kinh thành, của ngọc đường
kim mã, nên cái đồng vọng nghe ra những tiếng nghẹn ngào.
Thăng hay trầm trong cuộc sống, cái đó không làm ra Thơ, không
tạo dựng nổi cõi thơ. Không phải đi từ cực đỉnh công
hầu xuống đến tận chỗ đọa đày cùng quẫn áo cơm mà
trời Thơ có thể mở rộng. Thơ là cánh nạn lạc bầy đi
tìm kiếm quê hương khắp suốt sơn cùng thủy tận, mà quê
hương vẫn đồng vọng trong cách điệu không lời, không chốn.
Thì người lịch nghiệm tồn sinh trên đôi cánh mỏng của
Thơ, đến đâu chẳng là đất Trích. Gió bấc lạnh kinh hồn
thổi vèo sương tuyết lên cùng sa mạc của đất Trích, cho
nên trời trăng sao kia vẫn in mộng triệu sông hồ. Nhưng,
trăng sao trên đó, và sông hồ dưới này, hai cõi miền xa
xôi hoằng viễn. Mộng triệu đó mới thành ra là Viễn mộng.
Bầu trời đó mới trở nên Trời Viễn mộng đọa đày cuộc
Lữ. Rồi kỳ cùng của cuộc Lữ sẽ là đâu?
I
(I)
Trúc
ngoại đào hoa tam lưỡng chi
Xuân
giang thủy noãn áp tiên tri
Lâu
cao mãn địa lô nha đoản
Chính
thị hà đồn dục thượng thì
竹外桃花三两枝,
春江水暖鸭先知
萎蒿满地芦芽短
正是河豚欲上时
(II)
Lưỡng
lưỡng qui hồng dục phá quần
Y
y hoàn tợ bắc qui nhân
Diêu
tri sóc mạc đa phong tuyết
Cánh
đãi Giang nam bán nguyệt xuân
兩兩歸鴻欲破群,
依依還似北歸人。
遙知朔漠多風雪,
更待江南半月春
Mùa
xuân, ở Huệ sùng, buổi chiều trên sông. Bấy giờ là vào
năm bính dần (1086), ông đã trở về kinh, sau năm năm bị
biếm trích. Tâm sự vẫn như cánh nhạn lạc bầy, giữa đất
kinh kỳ của sa mạc bắc phương, đầy sương tuyết.
I
Ngoài
khóm trúc đào hoa mấy nhánh
Nước
mùa xuân nắng ấm vịt hay rồi
Lau
lách um tùm, chồi vi lô vừa lú
Cá
lòng sông lên đớp bóng ăn mồi
II
Đường
lên bắc mấy cánh hồng lẻ bọn
Bay
dật dờ như người trở gót lưu li
Trời
sa mạc tưởng chừng sương tuyết nặng
Đợi
con trăng nửa mảnh ở nam về.
2.
Bấy
giờ là năm bính dần (1086), năm đầu của triều vua
Triết tông, nguyên hựu thứ nhất. Ông 51 tuổi, được vận
thất phẩm phục, vào hầu triều, giữ chắc Trung thư xá nhân,
rồi được dời sang Hàn lâm viện phụ trách soạn Chế Cáo
cho vua
Ngày
29 tháng 11 năm đó, bàn chuyện cũ với Đặng Thánh Cầu. Cầu
là Hàn lâm viện thừa chỉ, trước kia làm Vũ xương lệnh,
thường chơi Hà khê, Tây sơn. Lúc Đông Pha bị biếm trích
ở Hoàng châu, đối ngạn với Vũ Xương, cũng từng chơi mấy
chỗ đó. Thánh Cầu có làm bài mình khắc tại vách đá ở
Vũ Xương; nhân đó, Ông làm bài thơ để cho người khắc
cạnh bài minh của Cầu. Ông nói những ngày tháng ngao du ở
Vũ Xương, trng thời kỳ bị biếm trích. Đây là những câu
cuối của bài thơ đó:
Sơn
nhân trướng không viên hạc oán
Giang
hồ thủy sinh hồng nhạn lai
Thỉnh
công tác thi ký phụ lão
Vãng
hoà vạn hác tùng phong ai
Người
thợ săn bủa lưới giăng trời làm cho vượn, hạc sinh oán.
Sông hồ đầy nước, cánh hồng cánh nhạn bay đến. Bài thơ
làm khắc bên vách đá để ngày tháng cùng kêu với gió thông
và các hốc núi.
Làm
xong bài thơ đo, mà tình tự còn dài, cảm hứng tưởng còn
đồng vọng xa xôi. Ông làm thêm một bài nữa, lấy vận của
bài trước. Đó là bài được trích ở đây.
Chu
nhan phát quá như xuân phôi
Hung
trung lê táo sơ vị tài
Đan
sa vị dị tảo bạch phát
Xích
tùng khước dục tham Hoàng mai
Hàn
khê bản tự Viễn công xã
bạch
liên thúy trúc y thôi ngôi
Đương
thời thạch tuyền chiếu kim tượng
Thần
quang dạ phát như Ngũ đài
Ẩm
tuyền giám diện chân đắc ý
Tọa
khan vạn vật giai phù ai
Dục
thâu mộ cảnh phản điền lý
Viễn
tố giang thủy cùng ly đôi
Hoàn
triều khởi độc tu lão bịnh
Tự
thán tài tận khuynh không lôi
Chư
công cừ cừ nhược hạ ốc
Thôn
thổ phong nguyệt thanh ngung ôi
Ngã
như phế tỉnh cửu bất thực
Cổ
trứu khuyết lạc sinh âm đài
Số
thi vãng phục tương cảm phát
Cấp
tân trừ cựu hàn quang khai
Diêu
tri nhị nguyệt xuân giang khoát
Vân
lãng đảo quyển vân phong tồi
Thạch
trung vô thanh thủy diệc tĩnh
Vân
hà giải chuyển không sơn lôi
Dục
tựu chư công bình thử ngữ
Yếu
thức ưu hỉ hà tùng lai
Nguyện
cầu Nam tông nhất điếu thủy
Vãng
dữ Khuất Giả tiên dư ai
朱
顏 發 過 如 春 醅 ,
胸
中 梨 棗 初 未 栽 。
丹
砂 未 易 掃 白 髮 ,
赤
松 卻 欲 參 黃 梅 。
寒
溪 本 自 遠 公 社 ,
白
蓮 翠 竹 依 崔 嵬 。
當
時 石 泉 照 金 像 ,
神
光 夜 發 如 五 臺 。
飲
泉 鑑 面 得 真 意 ,
坐
視 萬 物 皆 浮 埃 。
欲
收 暮 景 返 田 里 ,
遠
泝 江 水 窮 離 堆 。
還
朝 豈 獨 羞 老 病 ,
自
歎 才 盡 傾 空 罍 。
諸
公 渠 渠 若 夏 屋 ,
吞
吐 風 月 清 隅 隈 。
我
如 廢 井 久 不 食 ,
古
甃 缺 落 生 陰 苔 。
數
詩 往 復 相 感 發 ,
汲
新 除 舊 寒 光 開 。
遙
知 二 月 春 江 闊 ,
雪
浪 倒 卷 雲 峰 摧 。
石
中 無 聲 水 亦 靜 ,
云
何 解 轉 空 山 雷 。
欲
就 諸 公 評 此 語 ,
要
識 憂 喜 何 從 來 。
願
求 南 宗 一 勺 水 ,
往
與 屈 、 賈 湔 餘 哀 。
Xích
Tùng Tử là lão tiên ông đã dạy đạo cho Trương Lương,
cái đạo công thành thân thoái của Lão Tử. Hoàng Mai là Ngũ
tổ Hoằng Nhẫn trao diệu lý Thiền tông cho Huệ Năng. Tuệ
Viễn, từ đời Tấn, đã ẩn mình thế ngoại trên Lô Sơn,
trọn đời không bước qua khỏi Hổ khê; cùng với 18 người
bạn, Đông lâm thập bát hiền, lập Bạch Liên xã tu Phật
ở đó. Ngũ đài sơn là ngọn núi mà Bồ tát Văn Thù thường
lai vãng, có khi hiện thân làm mục đồng hát nghêu ngao. Đó
cũng là nhưng phương trời viễn mộng vang dội mãi trong thơ
của ông.
Nét
thanh xuân nở rộ như rượu nồng trinh nguyên chưa lọc,
Mà
rừng táo ẩn dật đã chưa gieo trồng trong bụng
Đan
sa cũng chưa dễ gì quét sạch tóc bạc.
Kiếm
xích tùng rồi lại muốn hỏi đạo với Hoàng Mai
Dòng
suối lạnh vẫn chỉ riêng nơi bạn bè của Tuệ Viễn
Sen
trắng, tre xanh, vẫn còn cao xa diệu vợi.
Lúc
bấy giờ suối đá chiếu tượng vàng,
Ban
đêm thần quang rực rỡ trên Ngũ đài
Uống
nước suối, soi mặt, mà thấy được chân ý,
Ngồi
coi vạn vật đều như bụi mờ
Những
dọn cảnh trời chiều trở về ruộng rẫy
Rong
xa cùng sông nước, đi suốt cùng rặng núi Ly đôi (ở bên
dòng Trường giang tại tỉnh Tứ xuyên)
Nay
trở về triều, đâu chỉ thẹn vì tuổi già và yếu kém,
Mà
sầu khô vì tài đã hết, đã dốc cạn chén không;
Các
bạn phơi phới như căn nhà rộng
Còn
tôi như giếng bỏ lâu không dùng
Thành
giếng gãy đổ, rêu mờ phủ kín.
Vài
câu thơ qua lại gợi nhớ mà thôi.
Uống
cái mới, trừ cái cũ, ánh sáng lạnh lẽo mở ra vắng vẻ.
Trời
tháng hai, ngoài kia con nước mùa xuân lai láng,
Sóng
cuồn cuộn đổ rầm như gió tuôn ào ạt
Đá
im hơi dòng nước lặng như tờ,
Làm
sao nghe được tiếng sấm dậy trên rừng hoang?
Muốn
gặp các bác bình việc đó,
Để
biết cái vui buồn từ đâu mà lại,
Chỉ
mong một giọt nước đạo Thiền đốn ngộ,
Cùng
Khuất Nguyên, Giả Nghị, rửa sạch mọi u sầu.
Ông
tự chú: Thơ Vị Ứng Vật:
Thủy
tánh bản vân tĩnh
Thạch
trung cố vô thinh
Như
hà lưỡng tương kích
Lôi
chuyển không sơn kinh.
Tánh
nước nói là tĩnh
Trong
đá vốn không tiếng
Sao
khi chúng chạm nhau
Sấm
dậy vang núi vắng?
3
Vân
hải tương vọng ký thử thân
Na
nhân viễn thích cánh thiêm cân
Bất
từ dịch kỵ lăng phong tuyết
Yếu
sử thiên kiêu thức phụng lân
Sa
mạc hồi khan Thanh cấm nguyệt
Hồ
sơn ứng mộng Vũ lâm xuân
Thiên
vu nhược vấn quân gia thế
Mạc
đạo trung triều đệ nhất nhân.
云海相望寄此身,
那因远适更沾巾。
不辞驿骑凌风雪,
要使天骄识凤麟。
沙漠回看清禁月,
湖山应梦武林春。
单于若问君家世,
莫道中朝第一人
Từ
Tống Triết tông, nguyên hựu thứ 4, năm kỷ ty. (1089), ông
xin ra ngoại nhiệm; cốt ý tránh tai vạ. Bấy giờ ông lĩnh
chức Long đồ các học sĩ ra coi Hàng châu. Vì ông trực
ngôn, gây nhiều oán hận nơi các quan lại đương triều, càng
ngày càng nhiều.
Kể
từ lúc ông trở về triều, năm nguyên hựu thứ nhất, cho
đến năm đó, trải qua bốn năm; ông giữ chức Trung thư xá
nhân, rồi Hàn lâm viện học sĩ, Hàn lâm viện thị độc.
Trong những năm này, thơ ông phần lớn là những bài
thù tạc, đối ứng. Chúng chen chúc với khói bụi kinh thành.
Cho nên khi trở lại Hoàng châu, ông dâng biểu về triều,
có nói: “Giang sơn cố quốc, đến cũng như đi; phụ lão,
di dân, cùng với thần chăm hỏi nhau…”. Đấy là lúc sau
15 năm trở lại Hàng châu. Rối lúc viếng lại Tây hồ, ông
tưởng chừng như gặp lại cái gì đó thao thiết nhất của
mình trong quá khứ:
Hoàn
tùng cựu xã đắc tâm ấn
Tợ
tỉnh tiền sinh mịch thủ thơ.
Khi
ông lãnh chức Long đồ các học sĩ ra coi Hàng châu, Tử Do
thay ông giữ chức Hàn lâm viện Thị độc tại triều. Năm
đó, kỷ tỵ (1089). Tử Do đi sứ Khiết đan. Năm trước, ông
được cử đi, nhưng xin từ.
Bấy
giờ ông đang ở tại Hàng châu, nên thơ nói: “Vũ lâm…”,
đó là ngọn núi ở Hàng châu. Và Tử Do cũng đang làm Hàn
lâm viện thị độc tại triều, nên thơ nói: “… Thanh cấm…”
Thanh cấm, tức câm cung ở nội triều, nơi làm việc của
các quan Hàn. Thoạt tiên, thơ go85i hứng tự tình giữa ông
và Tử Do, nên lời htơ bộc trực và đậm đà. Nhưng rồi
trời thơ đó bỗng mở ra cánh cửa hoằng viễn. Trăng trên
miền sa mạc bắc phương cùng hiện về trong cõi mộng trên
các sông hồ của nam hoa. Đó là cách điệu thanh thiết, và
tráng lệ của thơ. Hai câu 5 và 6 thật tuyệt diệu.
Người
từ biển đông trông sang;
Người
từ mây bắc ngó lại.
Đường
xa xôi và tình đẫm mấy lần khăn.
Vượt
gió tuyết qua mấy trùng quán trọ,
Cho
giặc trời trông rõ mặt phượng lân.
Trăng
Thanh cấm trên kia vùng sa mạc,
Trời
Vũ lâm in mộng triệu sông hồ.
Thiền
vu nếu hỏi gia thế chú,
Đừng
nói trong triều Đệ nhất nhân